Tu Tập Tâm Linh Và Hộ Trì Chánh Pháp Trong Mùa An Cư Kiết Hạ

0
204
TU TẬPTÂM LINHHỘ TRÌCHÁNH PHÁP
TRONG MÙA AN CƯKIẾT HẠ
(TT.TS Thích Phước Đạt)

an cư kiết hạan cư kiết hạTu tậptâm linhhộ trìChánh pháp là sự hướng nguyện của người học Phật và hành theo Phật và mục đíchcuối cùngthành Phật. Do đó, hằng năm đến ngày trăng tròn tháng Tư âm lịch chính là thời điểm hội chúngxuất giachư Tăng Ni kiết giớian cư 3 tháng để thăng tiến đạo hạnh, thành tựu Giới, Định, Tuệ và hội chúngtại gianam nữcư sĩnhân duyên quy tụ nương tựa tịnh nghiệpđạo tràngtiến tu phẩm hạnh, đạo đứchoàn thiện. Như thế mùa An cưkiết hạ là mùa tu tậptâm linhhộ trìChánh pháp mà bất cứ ai tự mình phát nguyệnđi theo Phật, phụng hành theo Phật đều thực thi theo chí nguyệngiải thoát này.

Mục đích của một người xuất gia, thiết nghĩ là tự mình tự thân tu tậpgiải thoát và hướng chúng sinh đồng giải thoát như mình. Thế nên, vai tròtrách nhiệm của vị Tỳ kheo là rất lớn trong ý nghĩa tự độ và độ tha. Ngoài việc tự mình nỗ lựctu tậpgiải thoát cho chính mình, vị Tỳ kheo còn phải nhiệt tâm tinh cầnxây dựnggiải thoátTăng già trong thực thểTam bảo. Suy cho cùng Tam bảothực thể quý nhất, cái vốn có của chúng sinh. Nói một cách dễ hiểu, là một vị Tỳ kheo phải luôn tâm niệm tự mình thiết lập một môi trường tu tập, cùng nhau học hỏichánh pháp, hành trìgiáo pháp để thăng tiến và giúp cho mọi chúng sinh thoát khổ, hướng tâm về Phật đạo.

Một trong những cơ sở nền tảng thực thi hạnh nguyện nói trên là mỗi Tỳ kheoxây dựng môi trường tu tậptâm linhAn cư kiết hạ hằng năm. Có thể nói, mùa an cư của Phật giáoý nghĩahết sứcnổi bật để các tỳ kheo được an trú trong một môi trường tu tập “thanh tịnh” đúng theo nguyên nghĩa có nó. Theo Tứ phần luật san bổ tùy cơyết ma sớ 4, giải thíchan cư như sau: Thân tâm đều tĩnh lặng, gọi là an; quy địnhthời gian một chỗ, gọi là cư. Trong ý nghĩa đó, đây là thời gianthuận lợi nhất để cho các Tỳ kheo tập trung lại một trú xứ, sống hòa hợp, thăng tiến đạo hạnh, trau dồi giới đức, phát triển nội tâm, khai mở trí tuệ. Như thế, vấn đềAn cư kiết hạtrở thànhvấn đềthiết lập môi trường tu tậptâm linh không chỉ mang ý nghĩa cho mỗi tâm linh tự thân chuyển hóa nội tâm mà còn ý nghĩa lớn lao hơn nữa là xây dựng cho đại số đông, thân – tâm của bất cứ hành giả nào nương tựa pháp hành này cũng được công đức của Phật pháp.

Do đó, mùa an cư còn là thời gian để các Phật tửtại gia có dịp thực hành các giới pháp đã được thọ trì, đóng góp công đứchộ trìtứ sự cúng dường như thực phẩm, y phục, thuốc men, vật dụng cho các hành giảan cư, thân cận các vị sống đời sốngphạm hạnh mà theo đó thăng tiến đời sốngtâm linh của mình.

Thời gianAn cư kiết hạ theo luật định là ba tháng, bắt đầu tính từ ngày mồng một trăng tròn tháng Asàdha (Àsàdha/A-sa-đà). Theo cách tính của ngài Huyền Trang, trong Đại Đường Tây Vực ký, thì đấy là ngày 15/5 theo lịch Trung Quốc. Nhưng ở nước ta, ngày an cư đầu tiên là sau ngày 15/4 hằng năm. Người ta còn phân biệt tiền an cư, trung an cư, hậu an cư. Tiền an cư là bắt đầu từ 16/4, trung an cư thì bắt đầu từ 17/4 cho đến rằm tháng 5, hậu an cư từ 16/5. Cách chia như thế chỉ nhằm hợp thức hóa các trường hợp nhập an cư sớm hay chậm tùy theohoàn cảnhcá nhân riêng biệt của một số Tỳ kheo. Tuy nhiên, dù kiết hạan cư sớm hay chậm, thời gianan cư vẫn phải tròn 3 tháng.

Trong ba tháng An cư kiết hạ, đây là thời gian các Tỳ kheo sống chung phải tuân thủ các quy chế của một môi trường tu tậptâm linhthanh tịnh. Theo điều Sàng nhục pháp trong luật Ma haTăng kỳ 27, khi vào an cư, hành giả phải thưa rõ ý chỉ kiết chế an cư đối với người mà mình nương tựa (Tỳ kheogiới đức) mới được vào an cư, gọi là Đối thú an cư. Nếu không có người nương tựa thì trong tâm tự nêu rõ ý chỉ kiết hạan cư để vào an cư, gọi là “Tâm niệman cư”. Trong thời gianan cư, hành giả không được phép ra ngoài; nếu trái sự quy định này thì phạm tộiác tác. Nhưng theo luật Tứ phần 37, nếu đi mà trở vềcùng ngày hoặc có duyên sựđặc biệt, Tăng chúngcho phép thì cũng được ra ngoài, nhưng chỉ giới hạntrong vòng 7 ngày hoặc 15 ngày mà thôi, phương thức này gọi là thất nhật pháp.

Ngoài ra, luật định rằng, nếu hành giả nào vi phạmquy định ra khỏi cương giới thì phạm tộiác tác, gọi là phá an cư, phá hạ, sẽ mất tư cáchtiếp nhận vật cúng thí được phân phối trong lúc an cư. Nếu vì tránh các chướng nạn: Thú dữ, rắn độc, lửa cháy, nước cuốn, vua bạo ngược, giặc cướp, thiếu lương thực, kỹ nữ và thân tộc khác hoặc vì hòa giải các duyên sựphá Tăng thì được rời khỏi chỗ an cư mà không phạm tội. Luật Tứ phần 43 còn nói khi kết thúcan cư thì phải thi hành 4 việc: Tự tứ, giải giới, kiết giới và thụ công đức y. Sau khi an cưviên mãn, đại chúng xét lại hành vi của mình trong thời gianan cư, nếu có tội thì tự bày tỏ tội lỗi của mình, sám hối lẫn nhau, gọi là Tự tứ. Ngày này còn gọi là ngày Tự tứ, ngày Phật hoan hỷ. Khi kết thúcan cư, phải giải trừ cương giới quy định, gọi là giải giới. Tăng chúngan cư, mỗi người được tăng thêm một pháp lạc. Pháp lạc này còn gọi là hạ lạp, là phép tắc chuẩn định thứ lớp lớn nhỏ của người xuất gia.

Rõ ràng, việc thiết chế của việc tu tậpan cư kiết là rất nghiêm tịnh, có quy mô theo một hệ thống tổ chức của Tăng già cũng không ngoài muc đích tạo ra một môi trường tốt đẹp, lý tưởng nhất cho chư Tăng thực thi giải trình thực nghiệm tâm linhthành tựu một cách viên mãn như sở nguyện. Cụ thể như đã nói trên, ý nghĩaan cư của mỗi hành giả là tự mình xây dựng cho mình một trường tu tậptâm linh để cho thân – tâm được tĩnh lặng, sự thành tựu cái tâm tĩnh lặng này là cơ sở để an trú vào đời sốngthực tại vốn thường xuyênbiến động.

Sự thực hành các học giới, chú tâm vào việc hành trìthiền định, nghe pháp, thảo luận các pháp từ hội chúng, tinh cầnsám hối các lỗi lầm được các hành giảan cư trong mỗi tịnh nghiệpđạo tràngthực chất là sự tu tậpthân tâm, phòng hộ thân tâm, giữ thân tâmthanh tịnh. Mỗi khi thân tâm của mỗi người thanh tịnh thì sẽ kết nối mọi thế giớitrở nên thanh tịnh. Đức Phật dạy: “Trong khi hộ trì cho mình là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người khác là hộ trì cho mình. Thế nào là hộ trì cho mình là hộ trì người khác? Chính là do sự thực hành, do sự tu tập, do sự làm cho sung mãn. Thế nào là trong khi hộ trì cho người khác là hộ trì cho mình? Chính là do sự kham nhẫn, do sự vô hại, do lòng từ, do lòng bi mẫn.”

Như thế, sự tu học của các hành giả trong ba tháng an cư là không ngoài việc hành trì Giới, Định, Tuệ, mục đíchcuối cùng là giữ cho thân và tâm trở nên vắng lặng, nhu nhuyến, không bị chi phối các trần trong một đời sống vốn quá đầy nhẫy sự đam mê, quyến rũ. Trần Thái Tông nói trong Giới Định Tuệ luận: “Giới giả uy nghi nghĩa; định giảbất loạn nghĩa; tuệ giả giác tri nghĩa. Thị dĩ giới trừ ác cấu, định trừ triền cấu; tuệ trừ sử cấu” (Giới nghĩa là uy nghi; Định nghĩa là không loạn; Tuệ nghĩahiểu biết. Thế là Giới trừ bỏ sự ác độc, Định từ bỏ sự trói buộc, Tuệ bỏ trừ bỏ sự sai khiến) [1].

Biểu hiện cho việc hành trìgiới hạnh mà các hành giả thực thi là sự giữ gìnoai nghitế hạnh trong cơn lốc của nền kinh tế thị trường; Sự thực hành thiền định của mỗi hành giả là giữ tâm không loạn trước một nền văn hóa thông tin toàn cầu đa dạng, phức hợp luôn luôn được cập nhật, sự thực hànhtuệ giác là cần có một trí tuệhiểu biết thật sự để mọi giá trị làm nên bản chất sống và giải thoát được hiển lộứng dụngtrong đời sống. Như thế, việc tu học trong ba tháng An cư kiết hạý nghĩavô cùng quan trọng đối với một Tỳ kheo học chúng. Đó là vị Tỳ kheo đó tự mình có khả năng tự điều chỉnhthân tâm, tự mình chuyển hóathân tâm. Quan trọng hơn là vị đó được sống trong một hội chúng của Tịnh nghiệpđạo tràng thanh tịnh, môi trường tu tậptâm linhthiết thựchiện tại, tự mình nương tựa chúng Tăng để nỗ lựctu tập những gì mình chưa có khả năng chứng đắc, có thể chứng đắc, đúng như Phật dạy trong kinh Tăng Chi: “Hội chúng nào có các Tỳ kheo sống không biếng nhác, từ bỏ các đoạ lạc, đi đầu hạnh viễn ly, tinh thầntinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, hội chúng này sẽ làm lợi ích cho đa số, sẽ làm trưởng lạc giải thoát.”

Như thế, tu tập chính là tạo an lạc cho mình và cho mọi người. Đây cũng chính là cơ sở để Phật tánh của mọi người được hiển lộ, giáo pháp được xiển dương, Tăng già được hòa hợpthanh tịnh, hay nói cách khác ba ngôi Tam bảo được vận hànhđi vàođời sốngthực tại với mọi giá trị đích thực. Người xuất gia cũng như người Phật tửtại gia đều có nhân duyên kết nối với nhau để học pháp và hành pháp trong một môi trường tu tậptâm linhthanh tịnh.

Người xuất gia là những hành giảnỗ lực thực thi hạnh nguyệngiải thoát, là tấm gương diệu hạnh để quần chúngPhật tử noi theo khi chính các hành giả tự thân vận hành ngang qua đời sống thân giáo, khẩu giáo, ý giáo. Điều này có nghĩa mỗi khi hội chúngxuất giathành tựu pháp trong một đạo tràngtịnh nghiệpan cư nào đó thì chính tại đấy, hội chúngtại gia cũng nương nhờ nơi thành tựu đó mà được hạnh phúcan lạc. Trong kinh Tương ưng, Phật dạy: “Nơi nào có hội chúngxuất giathành tựu Pháp, thì nơi đó hội chúngtại gia tại đó được an lạc, hạnh phúc nhờ sự hướng dẫn thực tậphành pháp của hội chúng xuất gia”.

Vậy là hành giả trong các đạo tràngAn cư kiết hạ phải luôn nhiệt tâm tinh cầntu tập, nỗ lực để xứng đáng là đệ tử của Thế Tôn: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn… Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điềnvô thượng ở đời.”. Thật sự có giá trịý nghĩaquý báu hơn bao giờ hết khi chính các hành giảan cư đã cùng nhau tạo ra một môi trường tu tậptâm linh, không chỉ tự mình có thể hướng tâm tu tậpthành tựugiải thoát mà còn hướng dẫn mọi chúng sinhtu tập đồng giải thoát như mình trong mọi không gianthời gian của dòng sống tương tục.

TT.TS Thích Phước Đạt

 

Chú thích:

[*] Thượng tọaTiến sĩ Thích Phước Đạt – Ủy viên Hội đồng Trị sự, Phó ban kiêm Chánh Thư ký Ban Giáo dụcPhật giáo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

[1] Thơ văn Lý – Trần, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.79.