Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

0
14

KINH KIM
CANG

Đoàn Trung Còn –
Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải
Nhà xuất bản:

Tôn Giáo PL.

2550 –
DL. 2006

blank

Tôi nghe như thế này. Khi Phật ở thành Xá-vệ,
vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng với các vị đại tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm
mươi vị.

Đến giờ thọ
trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Vào trong thành,
theo thứ tự khất thực, rồi trở về tinh xá. Thọ trai xong, thu dọn y bát, rửa
chân tay, trải tòa ra ngồi.

Lúc ấy Trưởng
lão
Tu-bồ-đề từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, bày vai bên phải, quỳ gối
phải, cung kính chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn, thật ít có! Như Lai khéo hộ
niệm
các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát.

“Thế Tôn! Nếu
có những kẻ nam người nữ có lòng lành phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ-đề, nên trụ
tâm
như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?”

Phật dạy: “Lành
thay! Lành thay! Tu-bồ-đề, đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ
Tát
, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà
giảng thuyết.

“Nếu những kẻ
nam người nữ có lòng lành phát tâm Bồ-đề, nên trụ tâm như thế này, nên hàng
phục tâm
như thế này.”

“Bạch Thế Tôn!
Chúng con nguyện được lắng nghe.”

Phật dạy
Tu-bồ-đề: “Các vị Đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các
loài chúng sinh, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh nơi ẩm
thấp
, hoặc do biến hóa sinh ra, hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc
tư tưởng, hoặc không có tư tưởng, hoặc chẳng phải có tư tưởng cũng chẳng
phải không có tư tưởng, ta đều độ cho nhập vào Vô dư Niết-bàn. Như vậy diệt độ
vô số chúng sinh, nhưng thật khôngchúng sinh nào được diệt độ.

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề, nếu Bồ Tát có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, thì chẳng
phải là Bồ Tát.

“Lại nữa,
Tu-bồ-đề! Bồ Tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí.
Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắcbố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh,
hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướngbố thí.

“Tu-bồ-đề! Bồ
Tát
nên bố thí như vậy đó, không trụ nơi tướng.

“Vì sao vậy?
Nếu Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức ấy chẳng thể suy lường.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Hư không phương đông có thể suy lường được chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
chẳng thể được.”

“Tu-bồ-đề!
không
các phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới có thể
suy lường được chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
chẳng thể được.”

“Tu-bồ-đề! Bồ
Tát
bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức cũng như vậy, chẳng thể suy
lường.

“Tu-bồ-đề! Bồ
Tát
chỉ nên trụ tâm theo như chỗ đã chỉ dạy.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Có thể dùng thân tướng mà thấy Như Lai chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
chẳng thể được. Chẳng thể dùng thân tướng mà thấy Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai
dạy rằng thân tướng vốn thật chẳng phải là thân tướng.”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng
phải tướng tức là thấy Như Lai.”

Tu-bồ-đề bạch
Phật
: “Bạch Thế Tôn! Liệu có chúng sinh nào nghe lời thuyết dạy này mà sinh
lòng tin chân thật chăng?”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Chớ nên nói thế! Như Lai diệt độ rồi, sau năm trăm năm sẽ có những
người tu phước giữ theo giới luật, đối với lời thuyết dạy này thường sinh lòng
tin
, nhận là chân thật. Nên biết những người này chẳng phải chỉ ở nơi một, hai,
ba, bốn, năm đức Phật gieo trồng căn lành, mà vốn thật là đã từng ở nơi vô số
ngàn vạn đức Phật gieo trồng căn lành.

“Như có chúng
sinh
nào nghe lời thuyết dạy này, dù chỉ một niệm sinh lòng tin trong sạch,
Tu-bồ-đề, Như Lai ắt sẽ thấy biết rằng những chúng sinh ấy được vô lượng phước
đức
. Vì sao vậy? Những chúng sinh ấy không sinh khởi lại các tướng ngã, nhân,
chúng sinh, thọ giả, không khởi pháp tướng, cũng không khởi phi pháp tướng.

“Vì sao vậy?
Những chúng sinh ấy nếu tâm chấp giữ tướng, tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh,
thọ giả. Nếu giữ lấy pháp tướng tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Vì
sao vậy? Nếu giữ lấy phi pháp tướng, tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ
giả
.

“Vì thế, chẳng
nên chấp giữ lấy pháp, cũng chẳng nên chấp giữ lấy phi pháp.

“Do nơi nghĩa
này, Như Lai thường nói: Các vị tỳ-kheo nên biết, pháp Phật thuyết dạy như cái
bè qua sông. Pháp còn nên xả bỏ, huống chi những gì chẳng phải pháp?

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như Lai có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như
Lai
có chỗ thuyết pháp chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Theo như chỗ con hiểu nghĩa Phật đã dạy, không có pháp xác định gọi là
thượng Chánh đẳng Chánh giác
, cũng không có pháp xác định nào Như Lai có thể
thuyết.

“Vì sao vậy?
Chỗ thuyết pháp của Như Lai thảy đều chẳng thể chấp giữ lấy, chẳng thể nói ra,
chẳng phải là pháp, cũng chẳng phải là phi pháp.

“Vì sao vậy?
Tất cả các bậc thánh hiền đều dùng pháp vô vi, nhưng có chỗ sai biệt nhau.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Nếu có người làm đầy cõi Tam thiên đại thiên thế giới với bảy món
báu
, rồi dùng mà bố thí, được phước đức nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao vậy? Phước đức, thật chẳng phải là tánh phước
đức
, nên Như Lai nói là nhiều phước đức.”

“Nếu lại có
người thọ trì chỉ bốn câu kệ trong kinh này,vì người khác mà giảng nói, phước
này hơn hẳn phước bố thí kia.

“Vì sao vậy?
Hết thảy chư Phật và giáo pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của các ngài đều
từ nơi kinh này mà ra.

“Tu-bồ-đề!
vậy
mà nói rằng: pháp Phật tức chẳng phải là pháp Phật.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Vị Tu-đà-hoàn có được khởi niệm: ‘Ta được quả Tu-đà-hoàn’
chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Vì sao vậy? Tu-đà-hoàn gọi là nhập vào dòng,
nhưng thật không có chỗ nhập. Chẳng nhập vào hình sắc, âm thanh, hương thơm,
mùi vị, cảm xúc, pháp tướng, nên mới gọi là Tu-đà-hoàn.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Vị Tư-đà-hàm có được khởi niệm: ‘Ta được quả Tư-đà-hàm’
chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Vì sao vậy? Tư-đà-hàm gọi là một lần trở lại, nhưng
thật khôngtrở lại, nên mới gọi là Tư-đà-hàm.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Vị A-na-hàm có được khởi niệm: ‘Ta được quả A-na-hàm’
chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Vì sao vậy? A-na-hàm gọi là không trở lại, nhưng
thật chẳng phải là không trở lại, nên mới gọi là A-na-hàm.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Vị A-la-hán có được khởi niệm: ‘Ta được đạo A-la-hán’
chăng?

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Vì sao vậy? Thật không có pháp gọi là A-la-hán. Thế
Tôn! Nếu vị A-la-hán khởi niệm rằng: ‘Ta được đạo A-la-hán’, tức là vướng mắc vào
ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Thế Tôn! Phật
bảo
rằng con được phép Tam-muội Vô tranh cao quý nhất trong loài người, là bậc
A-la-hán cao quý nhất lìa bỏ tham dục. Thế Tôn! Con chẳng khởi niệm này: ‘Ta là
bậc A-la-hán lìa bỏ tham dục’.

“Bạch Thế Tôn!
Nếu con khởi niệm này: ‘Ta được đạo A-la-hán’, Thế Tôn tất chẳng nói: ‘Tu-bồ-đề
ưa thích hạnh A-lan-na.’ Vì con đây thật không vướng mắc ở chỗ làm, nên mới nói
rằng: Tu-bồ-đề ưa thích hạnh A-lan-na.”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Ý ông nghĩ sao? Như Lai trước kia ở nơi Phật Nhiên Đăng có chỗ được
pháp chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
không có. Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng thật không có chỗ được pháp.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Bồ Táttrang nghiêm cõi Phật chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
không có. Vì sao vậy? Việc trang nghiêm cõi Phật đó, thật chẳng phải trang
nghiêm
nên gọi là trang nghiêm.”

“Tu-bồ-đề!
vậy
mà các vị đại Bồ Tát nên sinh tâm thanh tịnh như thế này: ‘Chẳng nên trụ
nơi hình sắc sinh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc,
pháp tướng sinh tâm. Nên ở nơi không chỗ trụ mà sinh tâm.

“Tu-bồ-đề! Như
người kia có thân hình như núi chúa Tu-di. Ý ông nghĩ sao? Thân ấy là lớn
chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, rất lớn. Vì sao vậy? Phật thuyết chẳng phải thân, gọi là thân
lớn.”

“Tu-bồ-đề! Như
trong sông Hằng có bao nhiêu cát, mỗi hạt lại là một sông Hằng. Ý ông nghĩ sao?
Số cát trong tất cả những sông Hằng ấy có nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Chỉ số sông Hằng như thế còn nhiều không kể xiết,
huống chi là cát trong những con sông ấy!”

“Tu-bồ-đề! Nay
ta dùng lời chân thật bảo cho ông biết. Như có những kẻ nam người nữ lòng lành,
dùng bảy món báu để làm đầy cả số Tam thiên đại thiên thế giới nhiều như số cát
của những sông Hằng ấy, rồi mang ra bố thí, được phước nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ
trong kinh này, vì người khác giảng nói, phước đức này hơn cả phước đức bố thí
kia!

“Lại nữa,
Tu-bồ-đề! Theo như kinh này mà thuyết dạy, cho đến chỉ bốn câu kệ, nên biết là
nơi ấy hết thảy thế gian, trời, người, a-tu-la đều nên cúng dường như tháp miếu
Phật. Huống chi có người đem hết sứcthọ trì, đọc tụng! Tu-bồ-đề! Nên biết
là người này thành tựu được pháp cao quý bậc nhất ít có!

“Nếu kinh điển
này ở tại nơi nào, tức như có Phật hoặc bậc đệ tử cao quý đáng tôn trọng ở đó.”

Lúc ấy Tu-bồ-đề
bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Kinh này gọi tên là gì? Chúng con phải vâng giữ
như thế nào?”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Kinh này gọi tên là Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật. Nên theo như tên
kinh mà vâng giữ. Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Phật thuyết Bát-nhã Ba-la-mật tức chẳng
phải Bát-nhã Ba-la-mật.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như Lai có chỗ thuyết pháp chăng?”

Tu-bồ-đề bạch
Phật
: “Bạch Thế Tôn, Như Lai không có chỗ thuyết pháp.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Số vi trầntrong Tam thiên đại thiên thế giới có nhiều
chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”

“Tu-bồ-đề! Những
vi trần ấy, Như Lai thuyết chẳng phải vi trần, gọi là vi trần. Như Lai thuyết
thế giới chẳng phải thế giới, gọi là thế giới.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
chẳng thể được. Chẳng thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai. Vì sao vậy?
Như Lai thuyết ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, gọi là ba mươi hai
tướng.”

“Tu-bồ-đề! Nếu
có những kẻ nam người nữ lòng lành, dùng thân mạng nhiều như số cát sông Hằng
để bố thí. Lại có người thọ trì kinh này, cho đến chỉ bốn câu kệ, vì người khác
giảng nói, phước ấy vượt hơn rất nhiều.”

Bấy giờ,
Tu-bồ-đề nghe thuyết kinh này, hiểu sâu được nghĩa lýý hướng, cảm động đến
rơi lệ, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Thật ít có thay! Phật thuyết kinh điển này
rất sâu xa, con từ khi đạt được mắt huệ cho đến nay chưa từng được nghe kinh
nào như thế này.

“Bạch Thế Tôn!
Nếu có người cũng được nghe kinh này, đem lòng tin tưởng trong sạch, liền khởi
sinh tướng chân thật. Nên biết là người ấy thành tựu được công đức cao quý bậc nhất
ít có.

“Bạch Thế Tôn!
Tướng chân thật ấy tức là chẳng phải tướng, nên Như Lai gọi là tướng chân thật.

“Thế Tôn! Nay
con được nghe kinh điển này, tin hiểu thọ trì chẳng lấy chi làm khó. Nhưng nếu
năm trăm năm sau nữa có chúng sinh nào được nghe kinh này, tin hiểu thọ trì,
người ấy quả là bậc nhất ít có. Vì sao vậy? Người ấy không có các tướng ngã,
nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Vì sao vậy?
Tướng ngã chẳng phải là tướng; tướng nhân, chúng sinh, thọ giả cũng chẳng phải
là tướng. Vì sao vậy? Lìa hết thảy các tướng, gọi là chư Phật.”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Đúng vậy, đúng vậy! Nếu có người được nghe kinh này mà chẳng thấy
kinh sợ hoảng hốt, nên biết người ấy rất là ít có.

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề! Như Lai dạy rằng bậc nhất Ba-la-mật, tức chẳng phải bậc nhất
Ba-la-mật, gọi là bậc nhất Ba-la-mật.

“Tu-bồ-đề! Nhẫn
nhục
Ba-la-mật, Như Lai nói là chẳng phải nhẫn nhục Ba-la-mật.

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề! Như ta xưa kia bị vua Ca-lỵ cắt xẻo thân thể từng phần. Lúc bấy giờ,
ta không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Vì sao vậy? Trong lúc ta
bị cắt xẻo từng phần thân thể, nếu có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả,
tất phải sinh lòng sân hận.

“Tu-bồ-đề! Lại
nhớ đến quá khứ năm trăm đời trước, ta là một vị tiên nhẫn nhục. Lúc ấy ta cũng
không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Bởi vậy,
Tu-bồ-đề, Bồ Tát nên lìa hết thảy các tướng mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác
. Chẳng nên trụ nơi hình sắc sinh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh,
hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng sinh tâm. Nên sinh tâm không có chỗ
trụ. Nếu tâm có chỗ trụ tức là chẳng trụ.

“Vì thế Phật
dạy các vị Bồ Tát chẳng nên trụ tâm nơi hình sắcbố thí. Tu-bồ-đề! Bồ Tát
lợi ích
cho tất cả chúng sinh, nên bố thí như vậy.

“Như Lai dạy
rằng hết thảy các tướng tức chẳng phải tướng. Lại dạy rằng hết thảy chúng sinh
tức chẳng phải chúng sinh.

“Tu-bồ-đề! Lời
nói
của đấng Như Lai là chân chánh, đúng thật, như nghĩa, không hư dối, không
sai khác.

“Tu-bồ-đề! Như
Lai
có chỗ được pháp, pháp ấy không thật không hư.

“Tu-bồ-đề! Nếu
Bồ Tát trụ tâm nơi pháp làm việc bố thí, cũng như người vào chỗ tối, không thể
nhìn thấy. Nếu Bồ Tát chẳng trụ tâm nơi pháp làm việc bố thí, như người có mắt,
khi ánh sáng mặt trời chiếu soi thấy đủ các màu sắc.

“Tu-bồ-đề! Về
sau nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thường hay thọ trì đọc tụng kinh
này, Như Lai dùng trí huệ Phật thấy biết những người này đều được thành tựu
lượng
vô biên công đức.

“Tu-bồ-đề! Nếu
có những kẻ nam người nữ lòng lành, vừa lúc đầu ngày dùng thân mạng nhiều như
cát sông Hằngbố thí, đến giữa ngày lại dùng thân mạng nhiều như cát sông
Hằng
bố thí, đến cuối ngày cũng lại dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng
bố thí. Cứ như vậy trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp, dùng thân mạng bố thí.
Nếu có người nghe kinh điển này, trong lòng tin theo chẳng nghịch, được phước
nhiều hơn cả những người dùng thân mạng bố thí kia. Huống chi là sao chép, thọ
trì
, đọc tụng, vì người khác giảng giải!

“Tu-bồ-đề! Nói
tóm lại một lời quan trọng nhất: Kinh này có vô lượng vô biên công đức, chẳng
thể suy lường. Như Lai vì người phát tâm Đại thừa mà thuyết dạy, vì người phát
tâm
Tối thượng thừa mà thuyết dạy. Nếu có người thường hay thọ trì, đọc tụng,
rộng vì người khác mà thuyết giảng, Như Lai tất sẽ thấy biết những người này
đều được thành tựu công đức vô lượng vô biên chẳng thể suy lường. Những người
như vậy có thể đảm đương gánh vác đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Như
Lai
.

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề! Nếu kẻ ưa pháp nhỏ, vướng mắc vào những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh,
thọ giả, tức chẳng thể thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng giải kinh này.

“Tu-bồ-đề! Bất
cứ nơi nào có kinh này, hết thảy thế gian, các hàng trời, người, a-tu-la đều
nên cúng dường. Nên biết nơi ấy tức là tháp Phật, nên cung kính đi quanh lễ bái,
dùng các thứ hương hoa rải lên nơi ấy.

“Lại nữa,
Tu-bồ-đề! Những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị
người khác khinh chê, thì người trì kinh ấy dù cho đời trước đã tạo ác nghiệp lẽ
ra phải đọa vào các đường dữ, nay nhân bị người khinh chê, ác nghiệp đời trước
liền tiêu diệt, được thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Ta
nhớ thuở quá khứ vô lượng a-tăng-kỳ kiếp trước Phật Nhiên đăng, ta đã được gặp
tám trăm lẻ bốn ngàn vạn ức na-do-tha đức Phật, và đều cung kính phụng sự không
chút lỗi lầm. Nếu có người đời mạt pháp sau này thường thọ trì tụng đọc kinh
này. Người ấy được công đức so với công đức cúng dường chư Phật của ta vượt hơn
bội phần, trăm phần ta chẳng theo kịp một, ngàn vạn ức phần, cho đến tính toán,
thí dụ cũng chẳng thể theo kịp được.

“Tu-bồ-đề! Những
kẻ nam người nữ lòng lành vào đời mạt pháp thọ trì đọc tụng kinh này được nhiều
công đức, nếu ta nói ra đầy đủ sẽ có người nghe qua sinh tâm cuồng loạn, nghi ngờ
chẳng tin.

“Tu-bồ-đề! Nên
biết rằng, nghĩa kinh này không thể nghĩ bàn, quả báo cũng không thể nghĩ bàn.

Bấy giờ,
Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ lòng lành phát
tâm
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như
thế nào?”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác
, nên khởi tâm như thế này: Ta nên diệt độ hết thảy chúng sinh; diệt độ hết
thảy chúng sinh, nhưng thật khôngchúng sinh nào diệt độ.

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề! Nếu Bồ Tát có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, tức không
phải Bồ Tát.

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề! Thật không có pháp phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác
chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
chẳng có. Như con hiểu theo nghĩa Phật thuyết, Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng
trước kia không có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

Phật nói: “Đúng
vậy, đúng vậy! Tu-bồ-đề, thật khôngpháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác
.

“Tu-bồ-đề! Nếu
như có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Phật Nhiên Đăng hẳn
đã không thọ ký cho ta: ‘Ông về sau sẽ thành Phật hiệu Thích-ca Mâu-ni.’ “Vì
thật không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên Phật Nhiên Đăng
mới thọ ký cho ta rằng: ‘Ông về sau sẽ thành Phật, hiệu Thích-ca Mâu-ni.’

“Vì sao vậy?
Nói Như Lai đó, tức là nghĩa như của các pháp.

“Nếu có người
nói: ‘Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.’ Tu-bồ-đề! Thật không
pháp Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Như
Lai
có chỗ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong chỗ ấy không thật, không
hư.

“Vì thế, Như
Lai
dạy rằng: Hết thảy các pháp đều là Phật pháp. “Tu-bồ-đề! Nói là hết thảy
các pháp, tức chẳng phải pháp, vì thế gọi là hết thảy các pháp.

“Tu-bồ-đề!
như
thân người dài lớn.”

Tu-bồ-đề nói:
“Bạch Thế Tôn, Như Lai nói rằng thân người dài lớn tức chẳng phải là thân lớn,
gọi là thân lớn.”

“Tu-bồ-đề! Bồ
Tát
cũng lại như vậy. Nếu nói rằng: ‘Ta đang độ cho vô lượng chúng sinh, tức
chẳng gọi là Bồ Tát.’

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Vì thế Phật thuyết hết thảy các
pháp đều không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Tu-bồ-đề! Nếu
Bồ Tát nói rằng: ‘Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật’, như vậy chẳng gọi là Bồ
Tát
. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang
nghiêm
, gọi là trang nghiêm.

“Tu-bồ-đề! Nếu
Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã, Như Lai gọi đó thật là Bồ Tát.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như Lainhục nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
đúng vậy. Như Lainhục nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như Laithiên nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
đúng vậy. Như Laithiên nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như Lai có huệ nhãnchăng?”

“Bạch Thế Tôn,
đúng vậy. Như Laihuệ nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như Lai có pháp nhãnchăng?”

“Bạch Thế Tôn,
đúng vậy. Như Laipháp nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như LaiPhật nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
đúng vậy. Như LaiPhật nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Trong sông Hằng có cát, Phật nói đó là cát chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
đúng vậy. Như Lai nói đó là cát.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát, lại có số sông Hằng
nhiều như số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều như số cát trong tất cả những con
sông Hằng đó, như vậy là nhiều chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
rất nhiều!”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Hết thảy chúng sinh trong số cõi Phật nhiều như vậy, nếu khởi tâm
suy nghĩ, Như Lai đều biết. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, các tâm đều là không
phải tâm, nên gọi là tâm.

“Vì sao như
thế? Tu-bồ-đề! Tâm quá khứ chẳng thể nắm bắt. Tâm hiện tại chẳng thể nắm bắt.
Tâm vị lai chẳng thể nắm bắt.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy món báu làm đầy cõi Tam thiên đại thiên thế
giới
rồi dùng để bố thí. Do nhân duyên ấy, được phước nhiều chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
quả đúng như vậy. Do nhân duyên bố thí, người ấy được phước rất nhiều.”

“Tu-bồ-đề! Nếu phước
đức
có thật, Như Lai chẳng nói là được nhiều phước đức. Vì phước đức không, nên
Như Lai nói là được nhiều phước đức.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Có thể lấy sắc thân đầy đủ thấy đó là Phật chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
chẳng được. Chẳng nên lấy sắc thân đầy đủ thấy là Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai
dạy rằng, sắc thân đầy đủ tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, gọi là sắc thân đầy
đủ.”

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Có thể dùng các tướng đầy đủ thấy là Như Lai chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
chẳng được. Chẳng nên dùng các tướng đầy đủ thấy là Như Lai. Vì sao vậy? Như
Lai
dạy rằng, các tướng đầy đủ tức chẳng phải đầy đủ, gọi là các tướng đầy đủ.”

“Tu-bồ-đề! Ông
đừng cho rằng Như Laiý nghĩ này: ‘Ta đang có chỗ thuyết pháp’. Chớ nghĩ như
thế. Vì sao vậy? Nếu ai nói rằng Như Lai có chỗ thuyết pháp, tức là hủy báng
Phật
, chẳng thể hiểu được chỗ ta thuyết dạy.

“Tu-bồ-đề! Người
thuyết pháp đó, chẳng pháp nào có thể thuyết, gọi là thuyết pháp.”

Bấy giờ, ngài
Huệ Mạng Tu-bồ-đề bạch Phật: “Thế Tôn! Liệu có chúng sinh nào ở đời vị lai nghe
thuyết pháp này sinh lòng tin theo chăng?”

Phật dạy:
“Tu-bồ-đề! Đó chẳng phải là chúng sinh, chẳng phải không là chúng sinh.

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề! Chúng sinh đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải chúng sinh, gọi là chúng
sinh
.”

Tu-bồ-đề bạch
Phật
: “Bạch Thế Tôn! Phật được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là không có
chỗ được sao?”

Phật nói: “Đúng
vậy, đúng vậy! Tu-bồ-đề! Ta đối với quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng
có lấy một phần nhỏ pháp có thể được, nên gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác
.

“Lại nữa,
Tu-bồ-đề! Pháp này bình đẳng không có cao thấp, gọi tên là Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác
. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả mà tu hết thảy pháp
lành, tức thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Chỗ
nói là pháp lành, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp lành, gọi là pháp lành.

“Tu-bồ-đề! Như
trong cõi Tam thiên đại thiên thế giới có các núi chúa Tu-di, có người dùng bảy
món báu
tích tụ nhiều như các núi ấy mà bố thí. Lại có người lấy kinh Bát-nhã
Ba-la-mật
này, thậm chí chỉ bốn câu kệ, thọ trì, đọc tụng, vì người khác giảng
nói. Phước đức của người bố thí so với người trì kinh thật trăm phần chẳng bì
được một, trăm ngàn vạn ức phần, cho đến tính toán, thí dụ cũng chẳng thể theo
kịp
được.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Các ông đừng cho rằng Như Laiý nghĩ này: ‘Ta đang độ chúng
sinh’.

“Tu-bồ-đề! Chớ
nghĩ như thế. Vì sao vậy? Thật khôngchúng sinh nào được Như Lai độ! Nếu có
chúng sinh được Như Lai độ, Như Lai tất có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ
giả
.

“Tu-bồ-đề! Như
Lai
dạy rằng có ngã, tức chẳng phải có ngã, nhưng phàm phu cho là có ngã.

“Tu-bồ-đề! Phàm
phu
đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải phàm phu.

“Tu-bồ-đề! Ý
ông nghĩ sao? Có thể lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Không thể được, Thế Tôn! Không thể lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như
Lai
.”

Phật bảo
Tu-bồ-đề: “Nếu lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai, vậy Chuyển Luân
Thánh Vương
tức là Như Lai.”

Tu-bồ-đề bạch
Phật
: “Bạch Thế Tôn! Theo như chỗ con hiểu nghĩa Phật thuyết dạy, chẳng nên lấy
ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai.”

Bấy giờ, đức
Thế Tôn
liền nói kệ rằng:

“Nếu dùng sắc
thấy Ta,

Dùng âm thanh
cầu Ta.

Là người hành
tà đạo,

Chẳng thể thấy
Như Lai.”

“Tu-bồ-đề! Nếu
ông khởi ý nghĩ rằng: ‘Như Lai có thể dùng các tướng đầy đủ mà được thành
thượng
Chánh đẳng Chánh giác’. Tu-bồ-đề! Chớ nghĩ như thế. Chớ nghĩ rằng Như
Lai
có thể dùng các tướng đầy đủ mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác
.

“Tu-bồ-đề! Nếu
ông khởi ý nghĩ rằng: ‘Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thuyết
giảng
tướng đoạn diệt của các pháp.’ Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Người phát
tâm
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với pháp chẳng thuyết tướng đoạn diệt.

“Tu-bồ-đề! Nếu
Bồ Tát dùng bảy báu làm đầy số cõi thế giới nhiều như cát sông Hằng rồi mang ra
bố thí. Lại có người hiểu biết hết thảy các pháp là vô ngã nên thành tựu được hạnh
nhẫn nhục. Công đức của người này vượt hơn vị Bồ Tát làm việc bố thí.

“Vì sao vậy?
Tu-bồ-đề! Là vì Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức.”

Tu-bồ-đề bạch
Phật
: “Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức?”

“Tu-bồ-đề! Bồ
Tát
có làm những việc phước đức đều chẳng nên tham trước, nên nói là chẳng thọ
nhận phước đức.

“Tu-bồ-đề! Nếu
có người nói: ‘Như Lai có đến, hoặc có đi, hoặc có ngồi, hoặc có nằm.’ Người ấy
thật chẳng hiểu nghĩa ta thuyết dạy. Vì sao vậy? Như Lai đó, chẳng từ đâu mà đến,
cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.

“Tu-bồ-đề! Nếu
có những kẻ nam người nữ lòng lành, lấy cả cõi Tam thiên đại thiên thế giới
nghiền nát thành vi trần. Ý ông nghĩ sao? Số vi trần ấy có nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao vậy? Nếu những vi trần này là thật có, Phật
tất chẳng nói là vi trần. Vì sao thế? Phật dạy rằng các vi trần, tức chẳng phải
vi trần, gọi là vi trần.

“Thế Tôn! Chỗ
Như Lai nói Tam thiên đại thiên thế giới, tức chẳng phải thế giới, gọi là thế
giới
. Vì sao vậy? Nếu thế giới là có thật, tức là một tướng hòa hợp. Như Lai
dạy rằng một tướng hòa hợp tức chẳng phải một tướng hòa hợp, gọi là một tướng
hòa hợp.”

“Tu-bồ-đề! Một
tướng hòa hợp tức là chẳng thể nói ra. Chỉ vì kẻ phàm phu tham chấp nơi sự
việc.

“Tu-bồ-đề! Nếu
có người nói rằng Phật thuyết dạy những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh, thọ
giả
. Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Người ấy có hiểu được nghĩa ta thuyết dạy
chăng?”

“Bạch Thế Tôn,
người ấy chẳng hiểu được nghĩa Như Lai thuyết dạy. Vì sao vậy? Thế Tôn dạy rằng
những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả chẳng phải là những kiến giải ngã,
nhân, chúng sinh, thọ giả, gọi là những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh, thọ
giả
.”

“Tu-bồ-đề! Người
phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với hết thảy các pháp, nên thấy
biết như thế này, tin hiểu như thế này, chẳng sinh khởi pháp tướng.

“Tu-bồ-đề! Chỗ
nói là pháp tướng đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp tướng, gọi là pháp
tướng
.

“Tu-bồ-đề! Nếu
có người dùng bảy món báu làm đầy khắp trong vô số a-tăng-kỳ thế giới rồi dùng
bố thí, lại có những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Bồ-đề, giữ làm theo kinh
này, thậm chí chỉ bốn câu kệ, thọ trì đọc tụng, vì người khác giảng nói, phước
đức
này hơn cả phước bố thí kia!

“Thế nào là vì
người giảng nói? Chẳng chấp giữ nơi tướng, như như chẳng động. Vì sao
vậy?

“Hết thảy pháp
hữu vi
,
“Như mộng ảo, bọt
nước,
“Như sương sa,
điện chớp.
“Nên quán sát như
vậy.”

Phật thuyết
kinh này rồi, Trưởng lão Tu-bồ-đề cùng các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, hết thảy thế gian, trời, người, a-tu-la, nghe Phật thuyết dạy đều hết
sức
hoan hỷ, tin nhận, vâng làm theo.

KINH KIM CANG
BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT