Niết Bàn

0
14

NIẾT BÀN

Thích
Đức Thắng

Căn
cứ trên tuyên bố Phật: “Sarvam śūnyam” (Mọi vật đều
không), vấn đề Niết-bàn (Nirvāna), đã được các bộ phái
nêu ra đặt vấn đề trở lại sau khi Ngài qua đời; theo đó
Niết-bàn được trình bày theo dạng sở đắc của họ, và
cũng từ đó mọi tranh luận về nó cũng như các giáo lý khác
trở nên gay gắt hơn. Niết-bàn, vấn đề hiện hữu hay
không hiện hữu, có (bhāva) hay không (abhāva), tại thế gian
(laukika) này hay vượt ra khỏi thế gian (lokottara)
; một
vấn đề làm nảy sanh ra mọi sự tranh luận, càng ngày càng
gay gắt giữa Hữu bộ hay còn gọi là Nhứt thiết hữu bộ
(Sarvāsti-vādin) và Kinh bộ còn gọi là Kinh lượng bộ (Sautrāntika).
Chính vì phương tiện đối trị căn cơ, nên giáo pháp
chữa bệnh của đức Phật được Ngài nói ra có đến
lượng
để chữa trị có ngằn ấy cơ bệnh do ba dộc phiền
não
sinh ra. Vì tính cách đa dạng và phức tạp của con bệnh,
nên thuốc đối trị cũng tuỳ thuộc vào tính phức tạp đa
dạng của con bệnh mà cho, giống như con bệnh thế gian (thế
giới
) chỉ cho năm thọ ấm chẳng hạn, nội trong cách chấp
thủ
năm thọ ấm bệnh và cách cho thuốc cũng đã là đa dạng
rồi. Vì khi muốm chữa con bệnh chấp thủ vào năm thọ ấm,
không hẳn là chỉ có một cách chữa trị mà trước hết
phải xem đến cách chấp thủ đó liên hệ câu hữu đến
độc nào nặng, đến độc nào nhẹ, trong ba độc hay những
câu hữu khác ngoài ba độc, mà tuỳ theo đó đức Đạo sư
cho thuốc chứ không phải chỉ có một phương thuốc duy nhất
để trị chúng. Cho nên việc chữa lành bệnh, giải thoát
mọi đau khổ cho bệnh nhân, cho bệnh nhân rất nhiều khía
cạnh, sau khi ngài diệt độ, đã bị những người đi sau
ngộ nhận, chỉ vì những người đi sau không hiểu được
thâm ý của ngài, cho nên giáo nghĩa của những lời dạy đó
bị xuyên tạc một cách triệt để và có hệ thống. Họ
đã biến giáo lý phương tiện mà đức Đạo sư đã dùng
để đối trị căn bệnh hữu lậu của chúng sanh, đáng lý
sẽ bị vượt qua, thành giáo lý cứu cánh, và họ chấp chặt
vào chúng coi như là một thực hữu cần phải đạt đến
để thủ đắc. Từ đó Hữu-Vô được họ biến thành những
thứ nhãn hiệu tuyên truyền cho lập trường của họ. Qua
đây, giáo lý của Ngài đã biến thành một thứ luận lý
nhân quả. Từ đó, họ tự đặt nền tảng cho một cứu cánh
ngoài ba cõi này, cần phải vươn tới, đó chính là một thứ
Niết-bàn thực hữu không tưởng. Trong khi chính đức Phật
chủ trương một Niết-bàn không ở ngoài ba cõi, như kinh Rohitassa
[1] đã dạy:
” Tại chỗ nào, bạch Thế tôn, không bị sanh, không bị già,
không bị chết, không có từ bỏ (bất diệt), không có sanh
khởi
(bất sanh), chúng con có thể đến để thấy, để biết,
để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?”. Đức
Phật
trả lời :

“Này
hiền giả, ta tuyên bố rằng : tại chỗ nào không bị sanh,
không bị già, không bị chết, không có từ bỏ đời này,
không có khởi đời khác, thời không có thể đi đến để
thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế
giới
. Nhưng này hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc
này, với những tưởng, những tư duy của nó, ta tuyên bố
về thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt, về con đường
đưa đến thế giới đoạn diệt.” thuộc Pāli tạng.


cũng trên lập trường này, trong kinh 1307 [2]
Tạp A Hàm thuộc Hán tạng, mà chúng tôi sẽ giới thiệu dưới
đây qua bản dịch của người viết, cùng hiệu-chú của Thượng
Toạ
Thích Tuệ Sỹ, sẽ nói lên con đường đi đích thật
của đức Phật đã từng đi, đã từng sống, để chỉ dạy
lại cho chúng ta, những người đi sau noi theo.

Tôi
nghe như vầy:

“Một
thời đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Xích Mã, tướng
mạo
tuyệt vời, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh
lễ
sát chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân toả ánh
sáng chiếu khắp vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà. Lúc
này Thiên tử Xích Mã [3]
kia bạch Phật:

“Thưa
Thế tôn! Có thể vượt qua biên tế thế giới, đến chỗ
không sinh, không già, không chết chăng?”

Phật
đáp Xích Mã:

“Không
thể vượt qua biên tế thế giới, đến chỗ không sinh, không
già, không chết được.”

Thiên
tử
Xích Mã bạch Phật:

“Lạ
thay! Thế tôn khéo nói nghĩa này! Như những gì Thế tôn đã
nói: ‘Không thể vượt qua biên tế thế giới, đến chỗ
không sinh, không già, không chết được.’ Vì sao thưa Thế
tôn! Vì con tự nhớ kiếp trước tên là Xích Mã, làm Tiên
nhơn ngoại đạo, [4]
đắc thần thông, lìa các ái dục. [5]
Lúc đó, con tự nghĩ: ‘Ta có thần túc nhanh chóng như vậy,
giống như kiện sĩ, dùng mũi tên nhọn trong khoảnh khắc bắn
xuyên qua cây đa-la, có thể lên một núi Tu-di và đến một
núi Tu-di, cất bước nhẹ nhàng từ biển Đông đến biển
Tây.’ Lúc ấy con tự nghĩ: ‘Nay ta đạt được thần lực
nhanh chóng như vậy, hôm nay có thể tìm đến biên tế của
thế giới được chăng?’ Nghĩ vậy rồi liền khởi hành,
chỉ trừ khi ăn, nghỉ, đại tiểu tiện, và giảm bớt ngủ
nghỉ, đi mãi đến một trăm năm, cho tới khi mạng chung, rốt
cuộc
không thể vượt qua biên tế thế giới, đến nơi không sinh, không già, không chết.”

Phật
bảo
Xích Mã:

“Nay
Ta chỉ dùng cái thân một tầm để nói về thế giới, về
thế giới tập khởi, về thế giới diệt tận, về con
đường
đưa đến thế giới diệt tận.

“Này
Thiên tử Xích Mã! Thế nào là Thế giới? Là chỉ năm thọ
ấm
. [6] Những
gì là năm? Là sắc thọ ấm, thọ thọ ấm, tưởng thọ ấm,
hành thọ ấm, thức thọ ấm, đó gọi là thế giới.

“Thế
nào là sắc tập khởi ? Là tham ái đối với hữu vị lai
câu hữu với tham, hỷ, mê đắm nơi này hay nơi kia.[7] Đó gọi là sự tập khởi của thế giới.

“Thế
nào là thế giới diệt tận ? Là tham ái đối với hữu vị
lai
câu hữu với tham, hỷ, mê đắm nơi này hay nơi kia,
đều đoạn tận, xả ly không còn sót, vô dục, vắng lặng,
dứt bặt, đó gọi là sự diệt tận thế giới.

“Thế
nào là con đường đưa đến thế giới diệt tận ? Là tám
Thánh đạo
: Chánh kiến, chánh trí, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định. Đó
gọi là con đường đưa đến sự diệt tận thế giới.

“Này
Xích Mã! Biết rõ thế giới, đoạn tận thế giới; biết
thế giới tập khởi, đoạn tận thế giới tập khởi;
biết rõ thế giới diệt tận, chứng nhập thế giới diệt
tận; biết rõ con đường đưa đến thế giới diệt tận,
tu con đường đưa đến sự diệt tận thế giới. Này Xích
Mã! Nếu Tỳ-kheo nào đối với khổ thế giới, hoặc biết
hoặc đoạn; sự tập khởi thế giới, hoặc biết hoặc đoạn;
sự diệt tận thế giới, hoặc biết hoặc chứng; con đường
đưa đến sự diệt tận thế giới, hoặc biết hoặc tu, thì
này Xích Mã! Đó gọi là đạt đến biên tế thế giới, qua
khỏi ái thế giới.”

Bấy
giờ Thế tôn nói kệ lập lại:

Chưa
từng dạo đi xa,

đến biên thế giới;
Chưa
đến biên thế giới,
Trọn
không hết biên khổ.

vậy
nên Mâu-ni,
Biết
biên tế thế giới;
Khéo
rõ biên thế giới,
Các
phạm hạnh đã lập.
Đối
biên thế giới kia,
Người
giác tri bình đẳng;
Đó
gọi hạnh Hiền thánh,
Qua
bờ kia thế giới.

Sau
khi Thiên tử xích Mã nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tuỳ
hỷ, đảnh lễ sát chân Phật, liền biến mất.”

Qua
bản kinh này đã cho chúng ta một cái nhìn đặc trưng về
Niết-bàn, về thế giới của không sinh, không già, không chết,
mà mỗi người trong chúng không ai là người không ước ao
mong muốn đạt đến nơi đó. Nhưng nơi đó là nơi nào? Phải
chăng
là nơi ở ngoài thế giới ba cõi này? Như Thiên tử
Xích Mã đã từng hỏi, và đã từng kinh nghiệm, đã từng
kinh qua trong quá khứ khi hỏi về: ‘Có thể vượt qua biên
tế
thế giới, đến chỗ không sinh, không già, không chết
chăng?’ Khi mà những thắc mắc về cuộc sống nhân sinh
trụ
, lúc nào cũng ám ảnh sợ hãi bởi cái khổ trước mắt
muốn tìm cách thoát ra nó; nhưng qua kinh nghiệm sống, qua kinh
nghiệm
đã từng trải, bế tắt vẫn hoàn bế tắt như Thiên
tử
Xích Mã đã từng bỏ ra một trăm năm chạy đôn chạy
đáo cố vượt qua biên tế thế giới để tìm đến nơi không
sinh
, không già, không chết, lúc còn làm Tiên nhơn, cuối cùng
vẫn không thoát khỏi biên tế thế giới này. Chúng ta ai lại
không có những thắc mắc và những ước mong như Thiên tử
Xích Mã, nhưng những thắc mắc và mong ước kia Thiên tử
Xích Mã đã từng thực hiện nó bằng những hành động, nhưng
những hành động này vẫn không thành tựu được chỉ vì
phương pháp thực hành trên nền tảng cơ bản đã sai lầm
như đức Phật đã dạy:

Không
thể vượt qua biên tế thế giới, đến chỗ không sinh, không
già, không chết được.”
Chỉ vì
chính chúng ta đã quên ngay đến sự hiện hữu của chính
chúng ta trên thế giới này, mà vong thân hướng ngoại tìm
cầu; nhưng theo đức Phật thì:

Nay
Ta chỉ dùng cái thân một tầm để nói về thế giới, về
sự tập khởi thế giới, về sự diệt tận thế giới, và
con đường đưa đến sự diệt tận thế giới
.”
Ngay trong cuộc sống hiện tại này, ngay trong thế giới này,
chứ không ở đâu xa hết. Ở đây, đức Phật chỉ giới
hạn
cái thân này để nói về nhân quả thế gianxuất
thế gian
qua tứ Thánh đế, mà ở đó con người được đánh
giá
như là một hiện tượng đủ để có thể hoàn thành
một thế giới qua năm thọ ấm; chúng được coi như là một
kết quả, được hình thành bỡi những tập khởi của sắc
được câu hữu với ái, tham, hỷ để phát sinh ra những hệ
lụy
nhiễm trước trói buộc trong quá khứ. Trong hiện tại,
đối với vị lai nếu những tập khởi của sắc được câu
hữu
với ái, tham, hỷ để phát sinh ra những hệ luỵ nhiễm
trước
trói buộc và làm nhân tập khởi cho chúng trong vị
lai
, mà hình thành nhân quả thế gian, thì đó là cách hình
thành nhân quả thế gian theo chiều lưu chuyển. Và ngược
lại cũng trong cái thân này, đối vị lai, nếu sắc hiện
tại
không câu hữu với ái, tham, hỷ để phát sinh ra những
hệ lụy nhiễm trước trói buộc, thì đã thoát khỏi mọi
hệ luỵ nhiễm trước, đã dứt sạch hết mọi thứ vô minh
phiền não, không còn ham muốn, dứt bặt mọi thứ, trở thành
vắng lặng tịch tịnh, không còn có ái, tham, hỷ hiện hữu
ở đây nữa, đó là sự diệt tận thế giới; và để đạt
được
trạng thái vắng lặng tịch tịnh của kết quả này,
thì phương pháp để sắc không câu hữu với ái, tham, hỷ
nữa là cần phải tu tập tám Thánh đạo, con đường
đưa đến sự diệt tận của thế giới, chúng là nhân hiện
tại
để đưa đến quả trong vị lai như đức Phật đã dạy.
Đó chính là sự hình thành của nhân quả xuất thế gian theo
chiều hoàn diệt.

Khi
chúng ta đã biết rõ thế nào là thế giới, thế nào là thế
giới
tập khởi của nhân quả thế gian và, biết rõ thế
nào là thế giới diệt tận, thế nào là con đường đến
thế giới diệt tận của nhân quả xuất thế gian. Tiếp đến,
trên nguyên tắc nhân quả nhằm loại bỏ đi những di hại
của sắc khi câu hữu với ái, tham, hỷ để rồi phát sinh
ra những hệ lụy nhiễm trước trói buộc sau đó. Trước
hết phải đoạn tận thế giới và sự tập khởi của chúng,
sau đó muốn chứng đạt đến trạng thái vô dục vắng lặng
dứt bặt, dứt sạch không còn gì hết, thì phải tu tập theo
con đường để đưa đến thế giới diệt tận. Nhưng đến
đây cũng chỉ là những định nghĩa một cách lý thuyết về
thế giới qua năm thọ ấm để nói lên cái nhân quả bất
toàn có thể thay đổi được bỡi những nổ lực theo lưu
chuyển
hay hoàn diệt của nhị đế mà thôi. Đức Phật dạy
tiếp:

Này
Xích Mã! Biết rõ thế giới, đoạn tận thế giới; biết
thế giới tập khởi, đoạn tận thế giới tập khởi;
biết rõ thế giới diệt tận, chứng nhập thế giới diệt
tận; biết rõ con đường đưa đến thế giới diệt tận,
tu con đường đưa đến sự diệt tận thế giới.”

Biết
thế giới ở đây chính là biết như thật về năm thọ
uẩn
, biết rõ về năm thọ uẩn tập khởi, để đoạn tận
chúng. Năm thọ uẩn hiện hữu của mỗi chúng ta trong hiện
tại
, nó là một kết quả tất yếu vừa mang hình thức biểu
hiện của nhân quá khứ, vừa làm nhân tố tích cực
cho một cái quả nào đó trong tương lai. Như vậy khi chúng
ta
nói về hiện hữu của chúng là nói đến sự liên hệ
nhân quả ba đời của quá khứhiện tại – tương lai (chúng
thuộc dạng phân đoạn sinh tử). Trong sự hiện hữu sinh-tử
này, chúng nói lên được liên hệ nhân quả từ sinh đến
tử, giai đoạn này chúng ta vừa là người thọ quả của
quá khứ, vừa là kẻ tạo nhân cho vị lai. Và cũng vì lẽ
đó cho nên khi chúng ta biết rõ cái quả hiện tại của nhân
quá khứ chúng là năm thọ uẩn, thì cũng trong hiện tại chúng
ta
tạo nhân cho vị lai bằng cách đoạn tận năm thọ uẩn
vọng này để không có cái nhân vọng cho vị lai nữa, nghĩa
không sinh ra quả vọng cho vị lai; khi quả vọng vị lai
không sinh, thì nhân vị lai cũng không sinh, và cứ như vậy
vòng xích nhân quả vọng sẽ bị diệt. Đến đây năm thọ
uẩn
không sinh ra nữa, khi năm thọ uẩn đã không sinh, thì
có gì để diệt, nên không diệt.

Vậy
Niết-bàn chúng sẽ hiện hữu ngay trong cõi này, ngay trong xác
thân này, nếu ai giải thóat được mọi trói buộc đau khổ
của tập khởi, của đoạn diệt, bằng cách không khởi tâm
điên đảo, phân biệt chấp trước đối với cuộc sống,
thì người đó sẽ đạt được Niết bàn ngay trong cuộc sống
này. Từ những ngộ nhận sai lầm như vậy, cho nên những
đức Phật đã phương tiện dạy cho chúng ta con đường đi đến giải thoát, thì họ đã biến chúng thành con
đường
nô lệ trói buộc.

Niết-bàn
cùng thế gian


Không
có tí phân biệt


Thế
gian
cùng Niết-bàn


Cũng
không tí phân biệt.

Về
Năm uẩn nhân duyên, tướng của chúng đứng về mặt dụng
mà nói, thì chúng là tướng sanh diệt biến đổi liên tục
qua lại, và gọi chúng là thế gian. Nhưng đứng về mặt tánh
mà nói, thì cứu cánh của chúng là Không, Tịch diệt, không
chấp
thủ, đó là Không tướng (nghĩa này đã nói ở trên).
Ở đây, vì tất cả các pháp chẳng sanh chẳng diệt cho nên
thế gian cùng Niết-bàn không có sự phân biệt và ngược
lại Niết-bàn cùng thế gian cũng không có sự phân biệt nào.
Lại nữa,

Thật
tế
của Niết-bàn,


Cùng
thật tế thế gian;


Cả
hai thật tế đó,


Không
mảy may sai biệt.

Cả
hai thật tế Niết-bàn và thế gian, không có bất cứ mảy
may
sai biệt nào cả. Vì sao ? Vì khi chúng ta tìm kiếm thật
tế
cứu cánh của chúng, thì cứu cánh của chúng là bình
đẳng
. Do đó, mọi tìm kiếm đều không thể đạt được,
chỉ vì chúng không có bất cứ mảy may sai biệt nào.

Thật
ra trong giáo pháp của Ngài, đức Phật đã phương tiện dùng
hai hình thức Nhân quảDuyên khởi, để một mặc
đối trị về nhân quả tội phước, và mặc khác giải phóng
những phương tiện đó qua duyên khởi để hoàn thành Trung
đạo
giả danh trở về Không tánh. Đó là con đường giải
thoát
thật sự như chính trong kinh Xà dụ, hệ Bali đã dạy
:” Chánh pháp còn buông bỏ huống
chi là phi pháp
”. Nhưng đối với
họ, điều này không quan trọng nên đã bị họ bỏ qua. Trong
khi đó, họ không biết rằng chính họ đã phản bội lại
đức Phật qua lập trường chấp thủ tà kiến thuộc nhân
quả
nhị nguyên. Họ quên đi pháp Trung đạo duyên khởi, mà
trong suốt cuộc đời, đức Phật đã nổ lực xiển dương
chúng. Đức Phật chưa bao giờ chủ trương lấy Hữu-Vô làm
lập trường chính để đưa chúng sanh đến giải thoát cả,
mà ngài chủ trương: “Mọi vật
đều không
” ( Sarvam sùnyam) nhằm
phủ định có và không của các pháp và xiển dương tự tánh
Không
, cũng là mở bày cho một hướng đi vượt thoát, đó
Trung đạo qua tướng giả danh. Chính vì Không này mà các
nhà Tiểu thừa sau này, đã quan niệm sai lầm về nó, để
đẻ ra một cái tự tánh thực hữu nào đó của các pháp,
mà phản lại chính quan điểm của đức Phật. Cũng chính
vì muốn khôi phục lại con đường đi của đức Phật, ngài
Long Thọ Bồ tát mới viết ra bộ luận Trung quán, nhằm xiển
dương con đường Trung đạođức Phật đã từng đi, đã
từng sống với nó. Ngài Long Thọ bảo cái Không ở đây
không phải là cái không của không đối lập với cái có,
mà là cái KHÔNG của :

Các
nhân duyên sanh pháp


Ta
nói tức là Không


Đó
cũng là giả danh


Cũng
nghĩa Trung đạo.


đây, mọi vật đều Không, được quan niệm như là một cứu
cánh
để phá hủy tất cả mọi quan điểm sai lầm về các
pháp. Qua đó Bát Bất được ngài sử dụng như là một phủ
định tuyệt đối cho phương pháp luận của ngài, nhằm triệt
tiêu
mọi chấp thủ có-không (nhị nguyên), vừa xây dựng
duyên khởi hiện tướng qua Trung đạo giả danh để hiển
Thể duyên khởi Tánh Không của chúng như trong bài kệ trên
đã nói.

Nguyên
bản hán kinh 1307 Tạp A-hàm Quyển 49 Đại Chánh tân tu tập
II

Thích
Đức Thắng

Chú
Thích:

(1)
Tăng chi 1 trang 406-408, bản dịch của H.T. Thích Minh Châu.
(2)
Tap A-hàm 49, kinh số 1307, Đại 2, tr. 259. Tham chiếu, Biệt dịch Tạp A-hàm, Đại 2, No 100(306); Tăng nhất A-hàm
8, Đại 2, No 125(43.1), tr.756. Pali, Aṅguttara, A. iv. 45. Rohita.
(3)
Pali: Rohitasso devaputto.
(4)
Pali: Rohitasso nāma isi ahosi bhojaputta, có vị ẩn sỹ tên là
Rohitassa, con trai của Bhoja.
(5)
Pali: vehāsa’gamo, đi trong hư không.
(6)
Cũng nói là năm thủ uẩn. Pali: pañca-upādānakkhandha.
(7)
Cf. M.i. tr. 48: ta’hā ponobhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, khát vọng tồn tại trong đời vị lai, cùng có mặt với hỷ
và tham; ươc vọng tái sinhh chỗ này hay chỗ kia.