Niết Bàn Theo Quan Điểm Bồ Tát Long Thọ

0
12

NIẾT-BÀN THEO QUAN ĐIỂM BỒ TÁT LONG THỌ
ĐẠI-LÃN

Từ
khi đức Phật tuyên bố: “Sarvam Sùnyam” (Mọi vật đều
không), từ sự gợi ý của ba pháp ấn: “Vô thường-Khổ-Vô
ngã” và sau đó các pháp được quan niệm như là “Mọi
vật đều vô thường, mọi vật đều vô ngã,” thì vấn
đề
Niết-bàn (Nirvàịa), sau khi đức Thế tôn diệt độ
đã được các bộ phái nêu ra đặt vấn đề trở lại theo
quan niện hiểu biết của họ về Niết-bàn, và cũng từ đó
mọi tranh luận về nó cũng như các phần giáo lý khác trở
nên gay gắt. Niết-bàn, vấn đề hiện hữu hay không hiện
hữu
, có (bhàva) hay không (abhàva), một đề tài làm nảy sanh
ra mọi sự tranh luận, càng ngày càng gay gắt giữa Hữu bộ
hay còn gọi là Nhứt thiết hữu bộ (Sarvàsti-vàdin) và Kinh
bộ
còn gọi là Kinh lượng bộ (Sùtra-vàdin), giữa các nhà
Tiểu thừaĐại thừa Không tông (Sùnyatà-vadin), và vấn
đề
này không còn dừng lại nơi đây mà còn tiến xa hơn
nữa, trong việc hòa giải giữa hai quan điểm nói trên bằng
cách gọp chúng lại rồi chấp nhận cả hai để có một cái
Niết-bàn hiện hữu theo sự hòa giải của họ, hay phủ nhận
cả hai là chẳng phải có, chẳng phải không; đó là bốn
thứ quan điểm của các bộ phái, nhưng theo ngài Nàgàrjuna
(Long Thọ) thì đức Phật chưa từng nói ra một thứ Niết-bàn
nào như vậy, ngay cả khi Ngài còn tại thế, hay sau khi Ngài
vào Niết-bàn, Ngài nói:

Khi Như lai hiện hữu,

Chẳng nói có cùng không;

Cũng chẳng nói có-không,

Hay chẳng có, chẳng không.

Và:

Sau khi Như Lai diệt,

Chẳng nói có cùng không;

Cũng chẳng nói có-không,

Hay chẳng có, chẳng không.

Đối với Bồ tát Long Thọ, thì những quan niệm như vậy
của các bộ phái đối với Niết-bàn là hoàn toàn không chính
xác
, và không hiểu được ý nghĩa “Sarvam Sùnyam” cho nên
có những quan niệm sai lầm như vậy về ý nghĩa Niết-bàn.
Từ sự hiểu lầm này nên đã đi lệch con đường Trung đạo
của Ngài, và có những kiến thủ lệch lạc về các pháp
nói chung và Niết-bàn nói riêng. Vì con đường Trung đạo
của đức Phật không rơi vào Hữu hay Vô, không rơi vào vừa
Có vừa Không, cũng không rơi vào chẳng phải có chẳng phải
không, của những quan điểm thiên kiến tà chấp trói buộc
này, mà con đường Trung đạocon đường giải thoát mọi
sự trói buộc khổ đau giữa hai bờ.

Đối với các nhà Tiểu thừa Hữu bộ, thứ nhất họ hiểu
“Mọi vật đều Không” chỉ dành cho các pháp hữu vi
thôi còn các pháp vô vi như Niết-bàn, thì không bị lệ thuộc
vào chúng, thứ hai “Mọi vật đều không” chỉ dành cho
Nhơn không chứ không dành cho Pháp không, thứ ba “Mọi vật
không” thì không này là không trống rỗng, không có gì hết,
không này là không đối lập lại với cái có. Do đó họ
mới có những cật vấn như vầy:

Nếu tất cả pháp không,

Thì không sanh, không diệt;

Làm sao có đoạn-diệt,

Để gọi là Niết bàn ?

Ở trên là cách tiếp thu “Mọi vật đều không” và theo
đó các nhà Tiểu thừa đặt vấn đề là, nếu tất cả các
pháp đều không, không có gì hết, thì sẽ không có hiện
tượng
sanh diệt, khi đã không có hiện tượng sanh diệt thì
mọi vấn đề được đặt ra theo sau đó, chúng không hiện
hữu
. Vậy thì đoạn cái gì, diệt cái gì để có thể gọi
là Niết bàn? Cho nên theo họ, tất cả các pháp không phải
không, mà các pháp phải có thật. Vì các pháp chẳng phải
không, nên nó đoạn trừ được tất cả mọi phiền não nghiệp
hoặc
, tiêu diệt được năm ấm để đưa đến Niết
bàn
. Để trả lời cho nạn vấn này, ngài Long Thọ cũng đứng
trên lập trường của họ, hỏi nghịch trở lại:

Nếu các pháp là có,

Thời không sanh không diệt;

Đoạn gì, diệt chỗ nào,

Mà gọi là Niết bàn ?

Vì các nhà Tiểu thừa không hiểu thấu được chỗ sâu xa
của pháp Không (Dharmasùnyatà), nên đã nhầm lẫn, cho rằng
pháp Không là pháp trống rỗng, hư vô, không có gì hết; pháp
không
này đối lại pháp có của họ, nên sanh ra kiến giải
sai lầm về các pháp, và từ đó đưa ra nạn vấn như trên.
Cũng đứng trên lập trường kiến giải sai lầm này, ngài
đặt ngược lại vấn đề rằng: Nếu các pháp chẳng phải
không tức là có, và vì xưa nay chúng luôn luôn hiện
hữu
, chúng luôn luôn là có nên chúng sẽ không có sanh, không
có diệt; vậy khi đã không sanh không diệt thì làm sao
chúng có chỗ để đoạn có chỗ để diệt mà gọi là Niết
bàn
? Ở đây hai cửa hữu-vô (Bhàva-Abhàva) không phải là
cửa đi đến Niết-bàn, mà Niết-bàn phải được gọi là
:

Không được, cũng không đến,

Chẳng đoạn, cũng chẳng thường;

Chẳng sanh, cũng chẳng diệt,

Đó gọi là Niết bàn.

Ở đây, mọi sự hiện hữu nô lệ, lệ thuộc, chấp thủ
thiên kiến nhị nguyên như : đắc-thất, đến-đi, đoạn-thường,
sanh-diệt v.v… đều bị phủ định. Trong phủ định mới
xem ra như là mang cả hai tính chất vừa đập phá vừa xây
dựng
. Nhưng ở đây, nếu được xác định như vậy,
thì lập tức rơi vào đoạn-thường (Ucchada-Nitya) ngay. Do đó,
mọi xác định đều cũng bị phủ nhận, để từ đó mở
ra một con đường
rộng thênh thang không bị trói buộc, đó
con đường Trung đạo đi đến Niết-bàn. Nghĩa là sau khi
chúng ta thực hiện vô sự đối với các pháp, thì tự nó
con đường, tự nó là Niết-bàn không phải một cũng không
phải khác. Ở đây, hành-quả không phải là chỗ để đạt
được
, không phải là chỗ để đến, không phải là chỗ
để đoạn trừ, chẳng có pháp để phân biệt; chẳng
sanh chẳng diệt, cho nên Niết-bàn chẳng phải có, chẳng phải
chẳng không, chẳng chấp thủ tất cả các pháp, bên trong
tịch diệt gọi đó là Niết-bàn. Vì sao ? Vì tất cả mọi
hiện tượng hiện hữu của vạn vật để mắt chúng ta nhận
thấy
, luôn luôn ở trong trạng thái sanh diệt biến hoại,
chỉ là tướng lão tử bị vô thường sanh diệt chi phối
nên không phải là Niết-bàn. Nếu có một Niết-bàn nào để
mắt chúng ta nhận thấy là có thì Niết-bàn ấy cũng chỉ
là tướng lão tử, mà tướng lão tử không phải là tướng
Niết-bàn, cho nên Niết-bàn không gọi là có được,
vì nó xa lìa tướng lão tử.

Hơn nữa, nếu Niết bàn là có (hữu), thì cái có này, hay
Niết-bàn này thuộc vào tướng hữu vi. Nhưng tướng hữu
vi
, theo đức Phật dạy thì chúng luôn ở trong trạng thái
biến diệt không thật có. Vì sao ? Vì chúng hiện hữu có
được là nhờ vào các duyên mà thành. Do đó, tất cả mọi
pháp đang hiện hữu giữa chúng ta không có bất cứ một pháp
nào gọi là hữu vi cả, cho dù là pháp thường mà giả
gọi là vô vi dùng lý để tìm hiểu nó. Pháp vô thường
còn không có, huống chi là pháp thường không thể thấy,
không thể đạt được. Lại nữa, theo Ngài:

Nếu Niết bàn là có,

Sao gọi không chấp thủ;

Vô-hữu không từ chấp (thủ),

Mà gọi là có pháp.

Nếu thật sự Niết bàn là thật có thì tại sao trong kinh,
đức Phật lại bảo Niết bànkhông chấp thủ (vô thọ,
hay Vô dư y: nirupadhizewa)? Đã là không chấp thủ thì cho dù
pháp đó là pháp gì đi nữa cũng không thể hiện hữu ở
đây được. Nếu có pháp nào để hiện hữu được thì ở
đó không phải là chỗ vô thọ, vì theo kinh thì Niết-bàn
vô thọ, nên không có pháp không chấp thủ ở đây. Vậy
Niết-bàn chẳng phải có.

Nạn vấn :

Nếu hữu không phải là Niết-bàn, vậy thì vô là Niết-bàn
?

Ngài bảo :

Hữu chẳng phải Niết-bàn,

Huống chi đối với Vô;

Niết-bàn không có Hữu,

Nơi nào sẽ có Vô ?

Quá rõ ràng như bài kệ trên đã bảo Hữu-Vô không từ chấp
thủ
mà có. Vậy thì tại sao ở đây lại đặt vấn đề
trở lại đối với Niết-bàn được ? Vì sao ? Vì nhờ
vào hữu mà có vô. Nếu không có hữu thì làm sao có vô được.
Nếu nói trước có nay không, thì vật này là vô. Nhưng Niết-bàn
chẳng phải vậy, vì không có pháp có nào lại là không được,
cho nên vô cũng không thể tạo nên Niết-bàn được.

Lại nữa, thử đặt vô là Niết-bàn đi. Nhưng ở đây, chúng
ta
không giải quyết được vấn đề không chấp thủ là Niết-bàn
như đức Phật đã dạy trong kinh. Nếu vô là Niết-bàn thì
đức Phật đã không nói không chấp thủ là Niết-bàn như
kinh đã dạy. Vì sao ? Vì không có pháp không chấp thủ nào
gọi là pháp vô cả, cho nên Niết-bàn không thể gọi là vô
được.

Hơn nữa,

Như trong kinh Phật bảo:

Đoạn có, đoạn chẳng có;

Biết đó là Niết-bàn,

Chẳng có cũng chẳng không.

Chính đức Phật đã dạy nếu đoạn trừ cả hai : Có
và chẳng có này thì Niết-bàn sẽ hiện hữu. Vì sao ? Vì
Có là chỉ cho tam hữu (tam giới) và chẳng có chỉ cho tam
hữu
đã được đoạn diệt. Nếu đoạn trừ cả hai chướng
ngại
hữu-vô này, thì biết rằng Niết-bàn chẳng phải có
(phi hữu) cũng chẳng phải không (phi vô), đó mới gọi là
Niết-bàn.

Nạn vấn :

Nếu hữu hay vô không phải Niết bàn thì bây giờ hợp cả
hữu và vô lại, có phải là Niết bàn không ? Ngài bảo :

Đối hữu-vô, nếu bảo:

Hợp lại là Niết-bàn;

Hữu-vô là giải thoát,

Thời điều này chẳng đúng.

Ở phần trên hữu-vô đã bị phủ định, nhưng người nạn
vấn vẫn đem chúng đặt vấn đề trở lại. Ở đây, lại
nảy sanh một phi lý khác nữa, đó là việc hợp nhất giữa
hữu-vô lại để có một cái Niết-bàn theo quan điểm của
họ. Nhưng theo ngài, nếu hợp cả hữu và vô lại là Niết-bàn,
tức là hợp cả hữu và vô lại là giải thoát, điều này
chỉ thông cho Niết-bàn và giải thoát thôi. Còn ngay chính
nó, hữu và vô, trong một vế mà tự mâu thuẫn nhau với chính
mình, vậy thì làm sao thông với vế thứ hai được. Vì sao
? Vì hữu và vô chúng tương phản nhau, làm sao hiện diện
cùng lúc cùng một chỗ được. Do đó, hợp cả hai hữu và
vô lại là Niết-bàn thì không đúng. Lại nữa :

Đối hữu-vô, nếu bảo:

Hợp lại là Niết-bàn;

Niết-bàn là chỗ chấp,

Cả hai từ chấp sanh.

Ở trên, tự chúng đã không thông rồi. Nếu ở đây mà hợp
chúng lại là Niết-bàn có thể chấp nhận đi, với điều
kiện
tự chúng không mâu thuẫn nhau; nhưng ở đây tự
thân Niết-bàn không phải là chỗ chấp thủ, trong khi đó
hữu-vô từ chỗ chấp thủ sanh ra, cùng nhờ vào nhau mà hiện
hữu
. Vậy thì cả hai vế mâu thuẫn và không thông nhau được,
do đó chúng không phải là Niết-bàn.

Lại nữa, Niết bànVô vi, nó vượt lên trên hữu-vô
của hữu vi. Trong khi hữu-vô hợp lại mà thành thì không
thoát khỏi hữu vi, nghĩa là chúng thuộc pháp hữu vi. Nhưng
pháp hữu vi là pháp sanh diệt như đức Phật đã dạy, trong
khi pháp vô vipháp không sinh diệt. Vậy thì làm sao bảo
hữu-vô hợp lại thành là Niết-bàn ?

Hay,

Cộng hai việc hữu-vô

Làm sao là Niết-bàn ?

Hai việc không cùng chỗ

Như sáng tối không hợp.

Ở trên, hợp hai việc có-không đã không thành là một vấn
đề
. Ở đây, lại là một vấn đề khác nữa trong việc
cộng hai khái niệm này lại để có Niết-bàn hiện hữu,
thì làm sao chúng ta có thể làm được. Vì sao? Vì có-không
chúng tự tương phản mâu thuẫn nhau nên không thể cùng hiện
hữu
một nơi được. Như ánh sáng và bóng tối, không thể
nào cùng hiện hữu cùng một lúc được. Khi nào
hiện hữu thì Không sẽ không hiện hữu, ngược lại khi
nào Không hiện hữu thì có sẽ không hiện hữu. Vậy thì
làm sao có-không cùng hợp nhau lại mà gọi là Niết-bàn ?

Lại nạn vấn :

Nếu Có-Không cùng hợp nhau lại không là Niết-bàn, thì bây
giờ chẳng phải có chẳng phải không là Niết-bàn được
không ?

Ngài bảo :

Nếu chẳng có chẳng không,

Gọi đó là Niết-bàn;

Chẳng có chẳng không này,

Làm sao mà phân biệt ?