Như Huyễn

0
18

NHƯ HUYỄN
Thích ThôngHuệ

I.- KHÁI LƯỢC

Lý Như-Huyễn là một quan
niệm
về nhân sinhvũ trụ độc đáo của nhà Phật. Trong thiền định sâu xa, Đức
Phật
thấy rõ tất cả các pháp đều là những hiện tượng không thật có, vì chúng do
nhiều duyên tụ hội lại mà thành. Bản chất của chúng là không, vì chúng không có
tự thể. Như vậy, nhìn trên hiện tượng (SẮC) là duyên hợp tạm có, nhưng bản thể
lại là KHÔNG. Nói khác đi, SẮC là biểu tướng của KHÔNG, KHÔNG là bản chất của
SẮC. Đây là tinh thần Bát-Nhã, mà chỉ những người ở trong Như-Huyễn tam-muội,
tức trong chánh định quán triệt lý Như-Huyễn, mới thẩm thấu được.

Các pháp không thật có
nên là huyễn, nhưng tự tánh các pháp là không, nên tuy huyễn mà vẫn thường ở
trong Như tánh. Như là thể của Huyễn, Huyễn là dụng của Như. Như là thể tánh
bất động, không bao giờ thay đổi; Huyễn là tùy duyênhình tướng đổi thay.
Chúng ta từ Như đến đây, mang thân huyễn mộng này, rồi khi mất đi lại trở về
Như. Nhưng không phải đợi lúc hình tướng tan hoại mới trở về Như, mà ngay khi
còn thân huyễn, nó đã là Như rồi. Cũng như nước là hiện tượng, có thể thay đổi
từ thể lỏng sang thể rắn, thể hơi, nhưng không bao giờ mất đi tánh ướt. Vì
Huyễn không bao giờ rời Như, nên nhà Phật gọi là Như-Huyễn.

Lý Như-Huyễn là một vũ
khí lợi hại, quét tận gốc rễ mọi tham đắm chấp trước của con người về thân, tâm
và cảnh. Hàng ngày, chúng ta nhìn và hiểu các pháp bằng thức tâm phân biệt
bằng sự tưởng tượng phong phú của mình, cho các pháp là thật có. Do thấy không
đúng lẽ thật (si) nên sinh tham. Nếu lòng tham được thỏa mãn, lại càng tham đắm
nhiều hơn, nặng hơn; nếu không thỏa mãn sẽ phát sinh sân hận. Phiền não vì thế
càng tăng trưởng, không có ngày dừng. Khi lắng sâu tâm thức, hiểu rõ
Như-Huyễn, ta sẽ thấy cuộc đời ta trải qua bao nhiêu năm vui-buồn sướng-khổ
thịnh-suy, chỉ như một giấc mộng dài! Cảnh vật bên ngoài cũng thế, căn nhà ta
ở, khung cảnh xung quanh ta…, có phải chúng đang biến đổi trong từng giây
phút? Trong phạm trù không gian, thân-tâm-cảnh là duyên sinh giả hợp; trong
phạm trù thời gian, chúng biến đổi không dừng trụ; như thế không phải huyễn là
gì?

II. NỘI DUNG.

1) Từ Lý Nhân-duyên đến
Tánh Không.

Về mặt tục đế, Đức Phật
thuyết giảng lý Nhân-duyên giải thích sự thành hình của tất cả các pháp, đồng
thời
bài bác 4 luận thuyết của ngoại đạo đương thời:

1- Thuyết tự sanh: Các
pháp được sanh ra từ chính bản thể của nó.

2- Thuyết tha sanh: Các
pháp sanh từ bản thể của những pháp khác.

3- Thuyết cộng sanh:
Pháp này nhờ pháp kia mà sanh và ngược lại.

4- Thuyết vô nhân sanh: Các
pháp ngẫu nhiênhiện hữu, không cần có điều kiện hay nguyên nhân nào.

Lý Nhân-duyên cắt nghĩa
sự thành lập của các pháp là do nhân và duyên kết hợptác động. Trong đó,
nhân là yếu tố quyết định, không thể thiếu; duyên là những điều kiện hỗ trợ. Ví
dụ: Để có cây lúa (một pháp), phải có hạt lúa là nhân, cùng kết hợp với các
duyên là đất, nước, ánh sáng mặt trời, người nông phu… Từ lý Nhân-duyên, Đức
Phật
triển khai thành lý Nhân-quả thế gianxuất thế (tức Tứ Diệu Đế) cho các
vị Thanh Văn, và Thập nhị nhân duyên cho các bậc Duyên Giác. Tu theo con đường
này, hành giả phá được ngã chấp, cuối cùnggiải thoát khỏi luân hồi sanh tử.
Chúng ta thường gọi đây là con đường của Nhị thừa.

Đối với Bồ-tát Đại thừa,
các Ngài do quán triệt lý Nhân-duyên đưa đến nhận thức đúng đắn về các pháp. Từ
những pháp hữu hình đến vô hình (không thấy được bằng mắt thường như không
khí), từ hiện tượng vật chất đến tinh thần (cảm thọ, nhận thức…), chúng đều
không thể tự mình hình thành mà phải nhờ nhân và duyên sanh ra. Đến lượt các
nhân duyên ấy, vì chúng cũng là các pháp, nên cũng phải cần các nhân duyên khác
tạo nên. Từ đó, chúng chuyển biến sinh diệt, làm nhân duyên cho pháp này rồi
lại là quả của những nhân duyên khác, không biết đâu là bắt đầu và đâu là tận
cùng. Đức Phật gọi là “trùng trùng duyên khởi” .

Như vậy, các pháp đều
không phải thật không và cũng không thật có. Chúng không thật là không, vì con
người
có thể cảm nhận chúng bằng giác quan; chúng không thật có vì chúng do các
pháp khác tạo thành, nên không có tự thể. Vì thế, tánh của chúng là Không, nhờ
duyên hợp nên giả có. Đây là tinh thần của hệ Bát-nhã, hiển bày Tánh Không của
tất cả các pháp. Dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu tường tận thật tánh các pháp,
thấu triệt Pháp tánh, Bồ-tát phá được ngã chấppháp chấp, cả pháp thế gian
lẫn pháp xuất thế gian. Nhà Phật gọi là con đường của Bồ-tát thừa.

2.) Tánh Không và Lý
Như-Huyễn.

Đức Phật tuyên bố, vạn
pháp
đều như huyễn, để nói lên tính bất thực của chúng. Đó là đứng trên bình
diện chơn đế, nhìn vạn pháp bằng cái nhìn “đương thể tức không”.

Đối với các nhà khoa
học, thuyết Big Bang là một giả thuyết táo bạo và vĩ đại nhằm giải thích sự
thành lập của vũ trụ. Nhưng trong giáo lý nhà Phật, vũ trụ không chỉ trải qua
một chu kỳ thành – trụ – hoại – không, mà đã – đang và sẽ tiếp diễn vô lượng
chu kỳ như thế, không có khởi đầu cũng không có kết thúc – tiền tiền vô thủy,
hậu hậu vô chung. Thế giới hiện tượnghữu vi duyên khởi, sanh sanh diệt diệt
tương duyên tương tác. Không pháp nào trong vũ trụ lại đứng yên, mà luôn luôn
chuyển động đổi mới. Ngay cả phần vĩ mô nhất là toàn bộ vũ trụ, cũng thay đổi
mỗi ngày. Hình thái của vũ trụ, mà một số nhà Vật lý học hàng đầu thế giới đã
phác hoạ trong những công trình thực nghiệm và tư duy, thật ra chỉ là một phần
rất nhỏ những cảnh giới mô tả một cách tuyệt vời trong Kinh Hoa Nghiêm. Tuy
nhiên
, từ những hạt Quartz (được cho là yếu tố nhỏ nhất cấu tạo thế giới) cho
đến
toàn thể thực tại trùng trùng duyên khởi, không có pháp nào hiện hữu
không được tạo thành từ những nguyên nhân khác. Do vậy, tất cả chỉ là huyễn
mộng, dù là thế giới vi mô hay vĩ mô.

Con người chúng ta, từ
trước đến giờ đã trải qua bao kiếp sống; và từ giờ trở về sau, sanh sanh tử tử
vẫn tiếp nối không dừng. Gọi là “tử” nhưng thật sự, chỉ là sự thay đổi của thân
từ dạng thái này sang dạng thái khác, từ thân tiền ấm (con người hiện tại)
chuyển qua trung ấm (lúc lìa đời); khi đủ duyên lại gá vào thân hậu ấm, tiếp
tục
một chu kỳ sanh tử khác với một hoàn cảnh chánh báoy báo khác. Đáo
cùng, nhắm mắt lìa đời không phải là thật sự xa lìa trần tục, mà chỉ là tạm
thời ngưng cuộc sống ở nơi này để tiếp nối cuộc sống nơi kia. Cho nên, không có
thật sanh cũng không có thật diệt, tất cả chỉ trong huyễn mộng mà thôi.

Điều lầm lẫn nhất của
con ngườichạy theo hình tướng mà quên bản chất, chạy theo Sắc mà quên tự
tánh Không
, nên không có sự hiểu biết như thật về tất cả các pháp. Sắc là do đủ
duyên mà hiện hữu nên là Huyễn, còn Không là bản thể nên Như. Huyễn từ Như mà
có, biểu hiện tác dụng; muốn thâm nhập Như thì phải từ Huyễn mà vào. Nói cách
khác, Sắc là dụng của Không, Không là thể của Sắc; khi đủ duyên thì khởi ra
Sắc, khi duyên tan thì Sắc trở về Không. Do vậy, Huyễn không bao giờ rời Như,
Sắc chẳng thể nào lìa Không được. Hiểu điều này, ta sẽ thấy rõ ràng Ta-bà là
Tịnh-độ, phiền não tức Bồ-đề.

hiện tượng không thể
nào tách rời khỏi bản chất và ngược lại, nên các vị Thiền sư ngộ đạo là ngộ
ngay sự hữu, từ đó thấu thể cả sự vô. Các Ngài thấy rõ vạn pháp đều vô thường
theo thời gianduyên sinh trên bình diện không gian, nên chúng hiện hữu
trong sự chuyển động và giả hợp. Nhưng trong lòng những chuyển động và giả hợp
của sự hữu, luôn luôn hiện diện đặc tính bất biến và thống nhất của sự vô. Mặt
khác, do con người luôn khởi niệm duyên theo trần cảnh, tâm không lúc nào dừng
trụ, nên các pháp biểu hiện bên ngoài đều vô thường. Trái lại, các Ngài trở về
trạng thái như của tâm, nên thấy các pháp đều Như. Có thể nói, tâm tịnh thì thế
giới
tịnh, tâm Như các pháp Như, tâm bình thế giới bình. Các Ngài vẫn ở trong
cuộc đời làm lợi ích cho chúng sanh, ở trong thường tục mà vẫn siêu tục, tự tại
an nhiên trước mọi khó khăn chướng ngại, ngay cả trước tử thần!

Bài Minh của Tổ Qui Sơn
có đoạn:

Huyễn thân mộng trạch
Không trung vật sắc
Tiền tế vô cùng
Hậu tế ninh khắc.

Thân huyễn trong nhà
mộng, tất cả vật sắc đều ở trong hư không. Vật sắc ấy, mé trước là vô cùng, còn
mé sau có ai biết được? Thân chúng sanh là huyễn, thân Thánh nhân cũng huyễn,
sống trong nhà mộng tam giới; nhưng phàm phu si mê chấp thân là thật nên không
từ một thủ đoạn nào để bảo vệ và tô bồi cho cái ngã, đôi khi còn nhân danh
Thượng Đế tiến hành những cuộc thánh chiến đẫm máu. Còn các bậc Thánh nhân, tuy
mang thân huyễn mà tâm vẫn ở trong Như, vì thấu rõ lý Sắc – Không. Vũ trụ vạn
pháp
vô thủy vô chung, nhưng luôn hiển hiện một chân lý ngàn đời: Tất cả vật
sắc, lúc đủ duyên thì giả hợp thành sự hữu, khi hết duyên lại trở về sự vô. Sự
hữu (Sắc) là giả tướng, biểu tướng; sự vô (Không) là tự thể, bản chất. Cả hai
không thể tách rời nhau, cũng như giữa tâm và cảnh, giữa tạo chủ và tạo vật,
đều bất khả phân ly như thế.

Trang tử Nam Hoa kinh kể
chuyện Trang tử nằm mộng thấy mình hóa bướm, khi tỉnh dậy không biết “Chu là
bướm hay bướm là Chu” . Câu chuyện này có một ý nghĩa rất sâu sắc, nhằm diễn tả
một thực tại ly ngôn ngữ. Đây là trạng thái vô tâm, hòa nhập nhất như giữa tâm
và cảnh, giữa mình và vạn pháp. Khi tâm hoàn toàn tĩnh lặng, vẫn thấy nghe hiểu
biết
mà không xen tạp một ý niệm nào, chúng ta sẽ nhận ra vũ trụ rất nhiệm mầu
vi mật, không thể đem thức tình tầm thường mà đo được. Chúng ta cũng nhận ra
rằng, cõi giới của mình là cõi phàm – Thánh đồng cư, như cõi Cực lạc của Phật
A-Di-Đà. Không phải tìm Niết-bàn ở một nơi nào xa lạ, mà chỉ ngay mảnh đất hiện
tại
bây giờ và ở đây.

Một điều quan trọng cần
lưu ý, chúng ta đừng bao giờ hiểu lầm Đức Phật thuyết lý Như-Huyễn là phủ nhận
sự hiện hữu của các pháp. Ngài không từ chối thế giới hiện thực mà nhằm phát
sinh tri kiến như thật, để chúng ta nhận ra các pháp đang là. Thiền sư Từ Đạo
Hạnh
bài kệ soi sáng ý nghĩa này:

Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết
không
Hữu không như thủy
nguyệt
Vật trước hữu không
không.

 

tạm dịch:

Chấp có, thảy đều
Chấp không, tất cả
không
Có – Không, trăng đáy
nước
Chớ chấp Có cùng Không.

Nếu cho mọi pháp là thật
thì chúng đều thật có – đây là cực đoan thứ nhất; nếu chấp tất cả đều không,
thì chúng sẽ thật khôngcực đoan thứ hai. Cả hai cực đoan, chấp thường và
chấp đoạn, đều không hội được liễu nghĩa thượng thừa. Thường và đoạn, có và
không ví như bóng trăng dưới nước, nhìn thì thấy nhưng không vớt lên được, nên
không thật có cũng chẳng thật không. Nhà Phật phủ nhận cả chấp thường lẫn chấp
đoạn mà theo con đường Trung đạo, tinh thần của Lý Như Huyễn.

3.) Như HuyễnChân
Không
.

Theo giáo lý Phật Đà,
chúng sanh do nghiệp thức dẫn lôi, luân hồi trong ba cõi:

1. Cõi Dục: Chúng sanh
còn đam mê ngũ dục, thân thô tâm thô. Tùy nghiệp thiện ác mà vào ra trong sáu
đường
: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A-tu-la, Người, Trời. Cảnh giới thuần khổ là
Địa ngục, nửa khổ nửa vui là Người, thuần vui là Trời gồm 6 cõi Trời Dục, dành
cho người tu phước báo hữu vi.

2. Cõi Sắc: Đây là cảnh
giới
của người tu Thiền định, gồm bốn bậc: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ
thiền
. Thân tướng tuy vẫn là sắc chất nhưng là vật chất vi tế, rất cao lớn đẹp
đẽ
, không còn giới tính nam nữ. Thân vi tế, tâm thiền định.

3. Cõi Vô Sắc: Gồm Không
vô biên xứ
, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở cõi
này, chúng sanh tự tại vô ngại, dùng “thân định quả” tức lấy sức Thiền định làm
thân; không còn thân sắc chất nhưng còn tâm phân biệt vi tế.

Các cõi trên có chủ thể
nhận thức và đối tượng nhận thức khác nhau, nhưng tất cả không ngoài lý
Như-Huyễn. Bởi vì, những gì có hình tướng, dù thân thô hay tế, dù tâm Thiền
định
mà còn một niệm nhỏ nhiệm, cũng thuộc về sinh diệt, cũng đều là Huyễn.

Mặt khác, những loài
chúng sanh khác nhau có nhận thức về thế giới khác nhau. Như trên cùng một dòng
sông, loài người nhìn thấy toàn nước, con cá thấy đó là thế giới cho nó sống và
bơi lội, ngạ quỷ thấy toàn là máu, chư Thiên lại cho là một dải lưu ly. Cho
nên, thế giớicon người tưởng-tri thức-tri được, không phải là thế giới tồn
tại
khách quan ngoài tâm thức, mà chính do tâm thức biến hiện ra. Duy thức sở
biến duy tâm sở hiện, vì thế tất thảy đều là mộng ảo. Như khi nằm mộng, ta thấy
rõ ràng có người có cảnh, tâm ta cũng biến thiên theo cảnh theo người; đến lúc
tỉnh giấc, những gì xảy ra trong chiêm bao có phải là thật đâu? Đó là tiểu
mộng, còn bao nhiêu năm cuộc đời ta, là một trường đại mộng, cũng qua đi như
một giấc chiêm bao. Thuần Vu Phần nằm ngủ dưới gốc cây hòe, mơ thấy mình thi đỗ
làm quan, được vua gả công chúa; sau đó nhận lệnh vua đánh giặc, thất trận,
công chúa chết, vua bắt tội xử đi đày. Giật mình tỉnh giấc mới biết chỉ là giấc
mộng
, trên cành cây ở hướng Nam chỉ có một ổ kiến. Thật là:

Giấc Nam-kha khéo bất
bình
Bừng con mắt dậy thấy
mình tay không.

Biết cuộc đờimộng
huyễn
, không phải để chúng ta cam phận, chấp nhận khổ đau; càng không phải để
chúng ta chán nản buông trôi, mặc dòng đời xô đẩy. Chúng ta ý thức mình đang
hiện hữu nơi cảnh giới này cùng mọi người, là do nghiệp thức cộng trụ kết hợp
với biệt nghiệp của từng người. Biệt nghiệp thì không ai giống ai, nên số phận
mỗi người mỗi khác; nhưng cộng nghiệp người không khác nên sống chung một môi
trường, chịu chung một hoàn cảnh thiên tai dịch họa… Và rồi, dù chánh báo hay
y báo, dù biệt nghiệp hay cộng nghiệp, tất cả đều là huyễn, vậy thôi!

Dù sao đi nữa, ở cõi
người
có khổ có vui mới dễ làm ta thức tỉnh, tinh tấn tu hành dễ được thoát
khổ. Nếu thuần khổ như Địa ngục, đói khát như Ngạ quỷ hoặc si mê như Súc sanh,
làm sao có cơ hội tỉnh giác? Ngược lại, cõi trời quá vui quá sướng, chúng sanh
đắm chìm trong đó còn ước ao gì hơn nữa; đến khi hết phước hiện tướng đọa đày,
thức tỉnh thì đã muộn. Chư Phật Bồ-tát thương xót chúng sanh vô minh tăm tối,
nên bằng mọi phương tiện cứu độ muôn loài thoát khỏi ngục tù tam giới.

Thiền sư Thanh-Đàm
Minh-Chánh nói:

Công danh cái thế màn
sương
sớm
Phú quý kinh nhân giấc
mộng
dài.
Chẳng hiểu bản lai vô
nhất vật
Công phu luống uổng một
đời
ai.

công danh cao tột thế
gian
hay phú quý đến độ người người đều khiếp sợ, cũng chỉ như màn sương buổi
sớm hay giấc mộng đêm qua, có gì là thật. Vậy thì, con người phải định vị mình
ở nơi đâu? Đây là câu hỏi thiết yếu mà mỗi chúng ta cần tự đặt ra và tự giải
đáp
.

Đối với người thế gian,
“công phu” là kiến thức kinh nghiệm học hỏi thu thập được trong quá trình sống
và làm việc, là sự nghiệp công danh, là thành công trong xã hộihạnh phúc
trong gia đình. Mọi người hầu như đem hết tâm lực cốt đạt được những điều mong
ước
đó. Đối với hàng xuất gia, “công phu” là tích lũy một số kiến thức Phật học
và thế học, có trú xứ ổn định, có tăng thân thanh tịnh hòa hợp cùng giúp đỡ
nhau tu hành, ngày càng giảm thiểu phiền não khổ đau ở thân và tâm. Tuy nhiên,
cả hai khía cạnh vật chấttinh thần nêu trên chưa phải là hạnh phúc tột
cùng, miên viễn và đích thực. Đời tu chỉ thật sự có ý nghĩa khi hiểu được và
đạt được mục đích: Trở về với con người thật của chính mình và sống bằng con
người
thật ấy. Muốn không để “luống uổng một đời”, người tu phải quán triệt
tưởng
“vô nhất vật”, danh từ của Lục Tổ Huệ-Năng.

Chúng ta nhớ lại câu
chuyện
ngộ đạo của Lục Tổ: Khi Ngũ Tổ Hoằng-Nhẫn gọi Ngài vào phương trượng
giảng kinh Kim Cang, Ngài vẫn còn là cư sĩ làm việc dưới nhà trù. Trong kinh có
đoạn Đức Phật trả lời câu hỏi của Ngài Tu Bồ Đề: “Làm sao an trụ tâm? ”. Phật
dạy rằng: “Không nên trụ vào sắc mà sanh tâm; không nên trụ vào thanh, hương,
vị, xúc, pháp sanh tâm. Phải ngay nơi chỗ không trụ mà sanh tâm ấy”. “Tâm ấy”
tức tâm Vô thượng Bồ-đề. Lời dạy của Đức Phật, mới nghe chúng ta chỉ hiểu là
phải đặt trọng tâm ở chỗ không dính mắc với sáu trần. Vì sao không nên dính mắc
vào trần cảnh? – Vì trần cảnhduyên sinh giả hợp, tự tánh của chúng là
không. Nhưng nếu khéo nhìn sâu hơn, hành giả phải tự nghi vấn: “Nếu tất cả các
pháp đều Không, thân tâm cũng Không, vậy cái gì giải thoát? Cái gì rõ biết Tánh
Không? “Cư sĩ Huệ-Năng là một bậc pháp khí thượng thừa, nên từ lời dạy ấy, Ngài
nhận ngay ra tâm thể thường hằng của chính mình. Tâm này lặng lẽ, không có hình
tướng
nên không thuộc về có; nhưng nó hằng tri hằng giác, biết một cách thấu
thể mọi sự vật hiện tượng trong tận cùng pháp giới, nên không thuộc về Không.
Vì vậy, nó được gọi là Chân – Không, cũng là Phật tánh, là Pháp thân, là Bản
lai diện mục
, là tâm Thiền…

Bằng tâm Thiền, các Ngài
nhìn toàn thể sự vật bằng cái thấy như thị, không xâm phạm đến bản vị của các
pháp mà vẫn hiểu một cách tột cùng bản chất của chúng. Đức Phật gọi đó là Phật
tri kiến
– Cái thấy biết Phật. Có cái thấy biết này, các Ngài khởi phát diệu
dụng
không thể nghĩ bàn. Chính là Chân Không sinh Diệu Hữu. Chân Không là tâm
thể, Diệu Hữu là tâm dụng. Nhờ Diệu Hữu, các Ngài có vô số phương tiện quyền
xảo để giáo hóa chúng sanh. Các Ngài dọc ngang tung hoành, làm ngược làm xuôi,
đôi lúc có những hành động ngôn ngữ vượt thường mà người đời không đoán định
nổi. Bàng Long Uẩn khi liễu đạt lý Thiền, đem hết của cải đổ xuống sông. Thiền
Đơn Hà đốt tượng Phật ở chùa Huệ Lâm, làm Viện chủ Hướng “rụng cả lông mày”.
Thiền sư Nam Tuyền giơ con mèo lên, cả đại chúng không ai nói được, Ngài đành
chém con mèo. Gia tài sự sản bị vất hết, tượng Phật bị đốt, con mèo bị chém…,
tất cả vì ai? Tất cả chuyện này có ý nghĩa gì? Cũng như Đức Phật, đã thành Bậc
Chánh Giác nhưng mỗi ngày Ngài đều tọa thiền. “Na-Già thường tại định”, Ngài
đạt định trong mọi thời khắc, mọi nơi chốn, cần chi phải tọa thiền? Đây là
những điều chúng ta cần suy gẫm.

III. Ý NGHĨA TRONG SỰ
TU HÀNH.

* Một Thiền sinh sau giờ
tọa thiền, bạch cùng sư phụ: “Hôm nay con thấy rỗng rang tự tại”. Vị Thiền sư
trả lời: “Rồi nó sẽ qua đi!”. Ngày kế, trò lại trình Thầy: “Hôm nay con lại
thấy nặng nề mệt mỏi”. Thầy bảo: “Rồi nó sẽ qua đi!”. Thiền sư đang khai thị
chân
lý cho trò: Tất cả các pháp, dù pháp thế gian hay xuất thế gian, cũng đều
qua đi, như dòng sông luôn luôn trôi chảy không dừng. Thấy rõ các pháp là
huyễn, không có gì vĩnh viễn thường trụ, chúng ta không ước ao thân mình luôn
mạnh khỏe, hoàn cảnh luôn thuận lợi đối với mình. Bằng tinh thần lực chế ngự
mọi đau khổ bất an, ta sẽ tích cực sống và làm việc vì mình, vì người.

* Tánh Không
nền tảng mọi hoạt động của các pháp; nhờ Không, các pháp trở nên linh động. Từ
Không
biểu hiện Sắc, lúc tan hoại thì Sắc trở về Không. Sắc là do duyên mà có
nên lệ thuộc vào duyên, Không là tự tánh nên hoàn toàn độc lập. Sắc là hiện
tượng
sanh diệt, Không là bản chất thường hằng. Hiện tượng là biểu tướng
không
thật nên Sắc tức Không, còn Không là thể tánh chân thật nên Không tức
Sắc. Đây là ý nghĩa của Tánh-tướng bất nhị, Lý-sự vô ngại.

Quán triệt được điều
này, chúng ta mới thấu rõ tinh thần Đương thể tức không – ngay có mà nhận ra
không, từ không mà biểu hiện có. Không là nguồn cội của vũ trụ, vũ trụ tuy
Huyễn nhưng nguồn cội Không ấy là Như, nên gọi là Như-Huyễn. Kinh Pháp-Hoa dùng
một hình ảnh thật đẹp biểu trưng người đã thấu triệt “nhất thiết pháp không”:
hình ảnh ngồi tòa Như-Lai. Do bản thể các pháp vốn không, nên chúng dung thông
vô ngại. Phàm phu do tâm chấp trước các pháp là thật có, nên thấy chúng ngăn
ngại lẫn nhau, đặc biệt đối với các vật thể rắn: thân người không thể đi xuyên
qua
vách đá, hòn gạch ném vào tường liền bị dội lại… Đức Phật dạy, do tâm
chấp trước kiên cố nên các pháp biểu hiện thành chất rắn, do tâm sân hận nên
sanh có lửa, do tâm tham ái nên có nước, do tâm dao động nên sanh ra gió. Tâm
bên trong như thế nào thì biểu hiện các pháp bên ngoài thế ấy. Đối với các bậc
ngộ đạo, lậu hoặc đã dứt, đã đạt lý tánh tuyệt đối, các vị có thể tùy ý thi
triển thần thông, vì các pháp không còn ngăn ngại lẫn nhau. Đây là tư tưởng vút
cao trong kinh Hoa-Nghiêm: Sự-sự vô ngại hay Pháp giới dung thông. Tư tưởng này
làm sáng tỏ thêm lý Như-Huyễn, vì các pháp như huyễn nên thật sự không có ranh
giới
chướng ngại.

* Một linh hồn gõ cửa
Thượng-Đế xin vào ở chung. Thượng-Đế từ trong hỏi vọng ra:

– Ai đó?

Linh hồn trả lời:

– Tôi.

– Tôi là ai?

– Tôi là tôi.

Vì “tôi là tôi” nên
không có đủ chỗ cho linh hồn. Trở về tu luyện một thời gian thật lâu, lần này
khi nghe hỏi: “Tôi là ai? ”, linh hồn trả lời:

– Tôi là Thượng-Đế.

Do linh hồn trở thành
một với Thượng-Đế, nên trên thiên đàng có thể dung được anh ta. Tương tự như
thế, khi nào ta niệm Phật mà thấy mình và Ngài là một, thì tâm ta mới tương ứng
với tâm của các Ngài. Điều đó có nghĩa là, khi thấu rõ tự tánh các pháp đều
không, tất cả đều như huyễn, cái ngã tiêu dung, thì tự nhiên ta thể nhập vào
quỹ đạo của chư Phật Bồ-tát . Lúc ấy:

Năng lễ sở lễ tánh không
tịch
Cảm ứng đạo giao nan tư
nghì.

Cả người lễ (năng) và
chư Phật (sở) tánh đều không, khi ấy sự tương cảm tương ứng thật không thể nghĩ
bàn!

Trên thực tế, ý thức
chấp ngã vừa mãnh liệt vừa thâm sâu. Phân biệt ngã chấp là dạng thô phù dễ
thấy, tuy mạnh mẽ nhưng có thể nhận diệngiải trừ; còn Câu sanh ngã chấp
dạng vi tế ẩn tàng tùy miên (ngủ ngầm), mà người có công phu sâu dày miên mật
mới khám phá nổi. Như thế mới biết việc tu hành thật gian nan tinh tế, đòi hỏi
ý chí, nghị lực và lòng kiên nhẫn vô bờ, chứ không phải một sớm một chiều mà
thu được kết quả lớn như nhiều người lầm tưởng. Nhưng một khi sự chấp ngã tiêu
dung, ta sẽ có sức mạnh tinh thần rất lớn để sống và làm việc. Ta sẽ vượt qua
mọi chướng duyên nơi thân tâm và cảnh, thường độc hành độc bộ mà không điều gì
không biết, không việc gì không làm để tròn bản nguyện tự lợi lợi tha.

* Sau đây là bài kệ của
Thiền sư Vạn Hạnh:

Thân như điện ảnh hữu
hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu
hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố
úy
Thịnh suy như lộ thảo
đầu phô.

tạm dịch:

Thân như bóng chớp có
hoàn không
Cỏ xuân tươi tốt thu héo
nồng
Mặc cuộc thịnh suy không
sợ hãi
Thịnh suy như cỏ giọt
sương đông.

Thân như ánh chớp lóe
lên rồi tắt, sống trên đời vài mươi năm rồi lại ra đi. Nhất tức bất hồi thiên
thu
vĩnh biệt, mạng sống chỉ trong hơi thở, một hơi thở ra không hít vào là từ
giã cuộc đời. Vạn vật bên ngoài cũng vô thường như thế, xuân đến trăm hoa đua
nở, mùa thu đã tàn tạ héo úa rồi. Không những vô thường theo năm tháng, mà
trong từng sát-na, các pháp luôn thay đổi chuyển dịch. Không những cõi Người bị
vô thường chi phối, mà cả sáu cõi ba đường đều sinh sinh diệt diệt không dừng
nghỉ. Hiểu rõ vô thườngquy luật tất yếu của cuộc sống, người tu không còn
động tâm trước cảnh thăng trầm thịnh suy, vì tất cả chỉ như giọt sương trên lá.
Các Thiền sư tự tại trước sinh tử, xem như đắp chăn đông cởi áo hạ, chính vì
thẩm thấu đến tột cùng lý Vô thường; và cũng vì các Ngài thấy rõ, trong
thường
biến động có cái chân thường bất biến, tuy các pháp là huyễn mà luôn ở
trong Như.

Thật ra, lý Như-Huyễn
Phật dạy rất sâu mầu, không thể chỉ vận dụng tư duy mà hiểu thấu. Nhờ công phu
Thiền tập, quán chiếu sự duyên sinh, vô thườngtự tánh Không của thân tâm
cảnh, dần dần ta mới có thể hội được đôi phần. Một người mắt nhặm, nhìn ra nắng
thấy hoa đốm loạn xạ trong hư không. Hoa đốm thật có hay thật không? – Do mắt
nhặm nên cho là có sanh ra, thật sự chỉ là huyễn sanh. Vì huyễn sanh nên huyễn
diệt. Năm uẩn của con người và mọi pháp trong vũ trụ cũng như vậy. Chính lý
trùng trùng duyên khởi của Hoa-Nghiêm cho ta thấy sự sinh khởihoại diệt
huyễn mộng của pháp giới. Sự giả huyễn này là vô cùng vô tận, sinh sinh hóa hóa
không có ngày cùng.

Lại nữa, nhờ quán sát kỹ
mọi pháp hữu vi đều là mộng huyễn, là bóng bọt, là sương mù điện chớp, như lời
Phật dạy
trong kinh Kim Cang, ta mới lần lần cảm nhận sự hư ảo bất thực của
chúng. Khi đọc kinh hay nghe giảng, chúng ta dễ dàng hiểu ý Phật Tổ muốn chỉ
dạy điều gì, ngay cả những điều khó tin khó hiểu. Tuy nhiên, từ hiểu biết đến
hành trì có kết quả là một chặng đường rất dài và rất đỗi gian nan. Chưa nói
đến từng sát-na sinh diệt của tâm mà chỉ Phật trí mới thấu suốt, đối với những
niệm vi tế, nếu không có sự tỉnh giác thường trực thì ta cũng đã bị chúng dẫn
lôi rồi. Đây là lý do khiến chúng ta phải miên mật công phu, theo dõi từng biến
chuyển
của thân tâm, nhận diệnvô hiệu hóa chúng bằng chánh niệm.

Tiến thêm một bước, hành
giả
nên tự hỏi rằng: “Thân tâm cảnh đều là pháp huyễn, vậy các pháp huyễn này
lấy gì làm chỗ sở quy? “- Chỗ sở quy ấy là bản tâm chân thật bất sanh bất diệt
của chính mình. Bản tâm ấy là tự thể của mọi huyễn thân, huyễn tâm và huyễn
cảnh
, nên các pháp tuy huyễn mà vẫn ở trong Như tánh. Chỉ khi nào hành giả
trong trạng thái vô tâm hoặc trong Như-Huyễn tam-muội, mới hoàn toàn quán triệt
lý Như-Huyễn. Và chính Như-Huyễn tam-muội là phương tiện thù thắng để hành giả
trực nhận bản tâm. Dó đó, tu là phải khéo ở trong Huyễn mà nhận ra Như, từ đó
phát khởi đại nguyện Như-huyễn, vận dụng thân tâm Như-huyễn, thi thiết mọi phương
tiện
Như-huyễn, độ tận chúng sanh Như-huyễn. Và cuối cùng, thành Phật
Như-huyễn, an trú trong Niết-bàn Như-huyễn. Thế gian đã huyễn mộng thì Niết-bàn
thật có được sao?

* Chương Phổ-Hiền trong
kinh Viên-Giác, Đức Phật dạy rất kỹ về lý Như-Huyễn, trong đó có hai cách tu
tùy trình độ căn cơ của hành giả:

Đối với bậc thượng căn
đốn ngộ, bằng trực giác Bát-Nhã, các Ngài nhận ra các pháp đều huyễn, tức thì
lìa huyễn mà không kinh qua thứ lớp tu tập. Lìa các pháp huyễn nhưng không sanh
tâm trên nó, ngay đó là giác chứ không theo cấp bậc (Tri huyễn tức ly bất tác
phương tiện, Ly huyễn tức giác diệc vô tiệm thứ). Khi biết rõ ràng các pháp mà
nội tâm vẫn bất động, đây là cái Biết của tự tánh. Biết huyễn tức lìa huyễn,
lìa huyễn liền là Giác.

Đối với chúng sanh căn
cơ bậc trung và hạ, Đức Phật từ bi lập bày phương tiện tiệm thứ, phá hết lớp
này đến lớp khác cho đến tận cùng gốc rễ chấp trước của chúng sanh: Sáu căn là
huyễn, sáu trần là huyễn, thức tâm phân biệt cũng là huyễn nên phải xa lìa: đây
là giai đoạn thứ nhất. Đến cái tâm biết về sự xa lìa này vẫn là huyễn, cũng
phải xa lìa: đây là giai đoạn thứ hai. Giai đoạn thứ ba, Phật gọi là “lìa cái
xa lìa huyễn”, tức niệm vi tế về cái tâm xa lìa này, cũng còn là huyễn, do vậy
cũng phải buông sạch. Các huyễn diệt hết, hành giả bặt hết vọng niệm, từ thô
đến tế, nhưng không rơi vào trạng thái ngoan không, mà cái “liễu liễu thường
tri” rõ ràng hiện bày, như mây tan trăng hiện. Lúc này, hành giả an nhiên tự
tại
trong dòng đời, làm ngược làm xuôi không xa rời tự tánh, dạo chơi các cõi
mà vẫn ở trong chánh định. Tế-Điên Hòa-thượng nửa thực nửa hư là hình ảnh sống
động
của một người đạt đạo, thanh thản vân du đây đó, tùy duyên hóa độ chúng
sanh
:

Người bảo Ngài điên,
Ngài chẳng điên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ
liền
Hóa độ chúng sanh phiền
não
dứt
Đường trần thanh thản
bước thần tiên

 

(Trích: THIỀN LÀ GÌ?
Thích Thông Huệ
Nhà xuất bản Phương Đông TP. HCM 2002)