Kinh Bát Đại Nhân Giác

0
12

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ của BẬC ĐẠI NHÂN
(KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC)
Hoà Thượng Thích
Nhất Hạnh

Giới thiệu:
Kinh Bát Đại
Nhân Giác
do ngài An Thế Cao dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán, vào thời Hậu Hán
đời vua Hán Hoàn Đế, niên hiệu Kiến Hòa năm thứ 2 (148 CN). Ngài là Thái tử xứ
An Tức (Parthie), nay một phần thuộc Ba Tư (Persia, Iran) một phần thuộc A Phú
Hãn (Afghanistan). Lúc bấy giờ Đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang rất thịnh hành
trong vùng đó. Ngài xuất gia tu học, tinh thông kinh điển. Sau đó, ngài đi
Trung Hoa hoằng hóa Phật Pháp và dịch quyển kinh nầy sang chữ Hán. Đây là bài
kinh
số 779 trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Hán Tạng).

Dưới đây là
bản dịch và chú giải của HT Thích Nhất Hạnh:

đệ tử Phật
thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm, đọc tụngquán niệm về tám điều mà các
bậc đại nhân đã giác ngộ.

Thứ Nhấtgiác ngộ rằng cuộc
đời
vô thường, chế độ chính trị nào cũng dễ xụp đổ, những cấu tạo của bốn
đại
[1] đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người do tập hợp của năm
ấm
[2] mà có, lại không có thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy
không có thực quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là nguồn suối phát sinh điều
ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần
dần
thoát được cõi sinh tử.

Thứ Haigiác ngộ rằng càng
lắm ham muốn thì lại càng nhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh
tử
đều do ham muốn mà có. Trong khi đó người ít ham muốn thì không bị hoàn cảnh
sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâm mình được thư thái.

Thứ Bagiác ngộ rằng vì tâm
ta rong ruổi chạy theo danh lợi không bao giờ biết chán cho nên tội lỗi cũng
theo đó mà càng ngày càng lớn. Các bậc Bồ Tát [3] thì khác hẳn: họ luôn luôn
nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống với đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp
duy nhất của mình là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ.

Thứ Tưgiác ngộ rằng tính
lười biếng đưa đến chỗ đọa lạc; vì vậy con người phải chuyên cần hành đạo, phá
giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma, và ra khỏi ngục tù của năm ấm và ba giới
[4].

Thứ Nămgiác ngộ rằng chính
vô minh nên mới bị giam hãm trong cõi sinh tử. Các vị Bồ Tát thì thường
xuyên
nhớ rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt được biện tài
để giáo hoá cho mọi người, để cho tất cả đạt tới niềm vui lớn.

Thứ Sáugiác ngộ rằng vì
nghèo khổ cho nên người ta sinh ra nhiều oán hậncăm thù, và vì thế lại tạo
thêm những nhân xấu. Các vị Bồ Tát biết thế cho nên chuyên tu phép bố thí, coi
kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua những điều ác mà người khác đã làm đối
với mình và không đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác.

Thứ Bảygiác ngộ rằng năm
thứ dục vọng [5] đã gây nên tội lỗihoạn nạn. Người xuất gia tuy là người sống
trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục, thường quán niệm rằng
tài sản của mình chỉ là ba chiếc áo cà sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là
pháp khí, rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch để hành đạo, giữ
phạm hạnh cho thanh cao và đem lòng từ bi để tiếp xử với tất cả mọi
người
.

Thứ Támgiác ngộ rằng vì lửa
sinh tử cháy bừng cho nên mọi loài đang chịu biết bao niềm thống khổ. Biết vậy cho
nên ta phải phát tâm Đại Thừa, nguyện cứu tế cho tất cả mọi người, nguyện thay
thế cho mọi người mà chịu khổ đau vô lượng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đạt
tới niềm vui cứu cánh.

Tám điều nói
trên là những điều giác ngộ của các bậc đại nhân, Phật và Bồ Tát; những vị này
đang tinh tiến hành đạo, tu tập từ bitrí tuệ, đã cưỡi thuyền pháp thân đến
được Niết Bàn. Khi trở về lại cõi sinh tử độ thoát cho chúng sinh, họ đều dùng
tám điều giác ngộ ấy để khai mở và chỉ đường cho mọi người, khiến chúng sanh ai
cũng giác ngộ được cái khổ của sinh tử, lìa bỏ được ngũ dục và hướng tâm vào
con đường thánh .

Nếu đệ tử Phật
mà thường đọc tụng tám điều này thì mỗi khi quán niệm diệt được vô lượng tội,
tiến tới giác ngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với sinh tử, thường
trú trong sự an lạc.

Bản dịch và
Chú thích của HT. Thích Nhất Hạnh:

(Trích: “Nghi
Thức Tụng Niệm”, NXB Lá Bối, California, 1989)

Chú
Thích :

Bốn Đại
bốn nguyên tố hay là bốn chất cấu thành vũ trụ. Bốn đại gồm có: Địa đại, Thủy
đại
, Hỏa đại, và Phong đại.

Năm ấm
sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Sắc là thân thể có hình có sắc. Thọ là cảm thọ
vui buồn. Tưởng là tri giác bằng hình ảnh tưởng tượng lại. Hành là dụng tâm làm
việc này hay việc khác. Thức là phân biệt, hay biết. Năm ấm cũng còn gọi là năm
uẩn
.

Bồ Tát
dịch âm từ chữ Phạn, dịch âm đầy đủ là Bồ đề tát đỏa, có nghĩa là giác hữu tình
Bồ Tát là người, sau khi tin Phật, học Phật, phát nguyện tự độ, độ tha, thậm
chí hy sinh cả bản thân mình để cứu giúp người. Muốn làm Bồ Tát trước hết phải
tâm nguyện lớn, chủ yếu là bốn lời nguyện:”Chúng sinh vô biên thề
nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lương thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Mọi người từ khi phát tâm cho đến
khi thành Phật được gọi là Bồ Tát, vì vậy mà có phân ra Bồ Tát phàm phuBồ Tát
hiền thánh. Các vị Bồ Tát được nói tới trong các kinh Phật thường là các vị Bồ
Tát
hiền thánh.

Ba giới là
dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, là ba cõi sống của chúng sinh: Loài người
thuộc về dục giới, cõi sống của chúng sinh còn có lòng tham dục. Sắc giới
cõi sống của loài Trời. Ở cõi Trời sắc giới này, chúng sinh đã thoát khỏi mọi
lòng dục, nhưng vẫn còn sắc thân. Vô sắc giới là cõi gồm những chúng sinh,
không những không còn có lòng dục mà cũng không còn có sắc thân nữa, chỉ còn có
tinh thần thuần tuý mà thôi.

Năm thứ
dục vọng là năm thứ ham muốn: sắc, thanh , hương , vị, và xúc .