Bồ Tát Hạnh Trong Kinh Viên Giác

0
16

BỒ TÁT HẠNH
TRONG KINH VIÊN GIÁC

Thích Nguyên Tịnh

 

Chúng ta phải nhận ra, mọi lời thuyết pháp của chư Phật đều nhằm
chỉ thẳng tâm, không nên bám chặt vào tên và lời, bởi đó chỉ là ngón tay đưa
lên, còn đích chúng ta thấy phải là mặt trăng vằng vặc vượt ra khỏi giới hạn
của ngón tay kia.

1. Ý nghĩa Bồ-tát:

Bồ-tát (菩薩), nói cho đủ là Bồ-đề-tát-đỏa (菩提薩鬌), phiên âm tiếng Phạn
là Bodhisattva. Bồ đề dịch là Giác ngộ; tát-đỏa dịch là chúng sanh. Bồ-tát là
vị đã giác ngộ nhưng còn trụ lại kiếp chúng sanh để độ đời. Bồ-tát, từ
người mới bắt đầu (sơ phát tâm) cho đến những vị đã nhiều đời sống theo hạnh
Bồ-tát (Đại Bồ-tát) đều có một hướng đi rõ rệt: nỗ lực sống giải thoátgiác ngộ
bằng chính cuộc đời mình và dùng cuộc đời đó để giúp đỡ những người khác giải
thoát
giác ngộ. Hơn thế nữa, chính trong nỗ lực giúp đỡ người khác giải thoát
giác ngộ mà vị ấy thành tựu giải thoátgiác ngộ. Thâu tóm lại, Bồ-tát có
hai công việc chính:

sở
hoá
độ của Bồ-tát
(cũng gọi là Phẩm tính Bồ-tát): Tự mình giải thoát
giác ngộ. Đây là công việc của Trí tuệ soi thấy tánh Không hay Vô tự tánh của
tất cả các hiện tượng (vạn pháp), của tất cả không gianthời gian. Công việc
này được gọi là tích tập trí tuệ.

Phương pháp
hoá độ của Bồ-tát
(cũng gọi là Lý tưởng Bồ-tát): Phụng sự chúng sanh
(để họ được giải thoátgiác ngộ). Đây là công việc của lòng đại bi. Sở dĩ gọi
là “Đại” vì đó không phải là công việc của một đời mà là công việc của một số
đời bằng công việc số đời của tất cả chúng sanh; công việc của một đời sống
“không bỏ chúng sanh” và do đó mà “không sợ sanh tử luân hồi”. Phụng sự, làm
lợi lạc cho chúng sanh phải trải qua nhiều đời, trong mọi mặt. Công việc này
được gọi là tích tập phước đức.

Bồ-tát là một
đời
sống hòa hợp được hai mâu thuẫn: một mặt là giải thoát ra khỏi sanh tử; mặt
khác không lìa bỏ sanh tử, hay là sự giải thoát sanh tử bằng Tánh Không (sự
thật
Vô ngãVô pháp) đồng thời không bỏ sanh tử vì lòng đại bi. Như thế,
trên con đường Bồ-tát cuối cùng, hai cái mâu thuẩn chừng như mâu thuẫn đó trở
thành
một, bất khả phân. Kinh Viên Giác nói lên lý tưởng Bồ-tát dựa trên tinh
thần
liễu tri sanh tử. Hành giả tu tập thấy sanh tử không phải là một thứ gì
đáng ghét và ghê gớm như một đống rác hôi hám nên vứt bỏ càng sớm càng tốt, mà
rác cũng có tính ưu việt của nó, đây là mặt tích cực của sinh tử trên con đường
chứng đắc Phật quả. Cũng nhờ đó mà chúng ta bảo, Bồ-tát có sự nhớ ơn sâu sắc
sanh tửchúng sanh.

2. Cơ sở hoá độ của
Bồ-tát:

Danh từ Bồ-tát,
không biết từ lúc nào đã đi vào lòng người như một hình ảnh lung linh và điển
hình. Chúng ta có thể bắt gặp Bồ-tát qua những hình ảnh rất quen thuộc như
Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Phổ Hiền v.v… hoặc qua hình ảnh chư
vị Thánh tăng trọn đời hy sinh cho sự nghiệp xiển dương chánh pháp, hóa độ
chúng sanh. Bên cạnh đó, vị Bồ-tát còn được biết đến dưới nhiều hình tướng dung
dị
tùy cơ nghi phụng sự cõi Ta-bà.

Bồ-tát đạo là
con đường không dễ thực hành trọn vẹn. Nếu tâm niệm không kiên định, ý chí
không vững bền, không mang trong mình đại nguyệnThượng cầu Phật đạo, hạ
hóa chúng sanh
” thì hành giả sẽ chẳng bao giờ đi trọn trên hành trình
nhiệm mầu mà lắm gian nan đó cả.

Dĩ nhiên, chúng
ta
không thể nói hết những phẩm tính của Bồ-tát, bởi trong quá trình thăng tiến
qua nhiều kiếp sống, những đức tính nào con người có thể có, đều được khai
triển một cách hoàn hảo ở nơi một Bồ-tát. Trong bài viết giới hạn này,
chúng ta chỉ đề cập đến những phẩm cách của Bồ-tát dựa trên tinh thần Kinh Viên
Giác
mà thôi. Cơ sở hoá độ là kết quả có được của hành giả, hay có thể
hiểu, đó là con đường mà một vị Bồ-tát phải đi, phải thành tựu dựa trên
lượng
pháp môn tu tập từ sơ phát tâm đến khi vượt qua Thập địa. Căn cứ vào đó mà
Viên Giác chia Bồ-tát thành bốn đẳng cấp theo quá trình tu chứng gồm: phàm phu,
trước Thập địa, nhập Thập địaPhật địa Viên Giác. Tu theo từng cấp độ như
thế gọi là tiệm tu, còn tu tậpthành đạo nhanh chóng nhờ thượng căn gọi là
đốn tu.

Qua từng phẩm
Kinh Viên Giác, chúng ta thấy phẩm cách Bồ-tát được Thế-tôn dạy rất căn bản
cặn kẽ sau mỗi vấn đề được đặt ra của các vị Đại Bồ-tát như Văn Thù, Phổ Hiền,
Phổ Nhãn, Kim Cang Tạng, Oai Đức Tự Tại… Phẩm cách thuộc về phần tự độ, chính
pháp môn tu tập. Và xuyên suốt cả bổn Kinh, Thế-tôn không dạy gì ngoài giáo lý
căn bản
như Duyên Khởi, Ngũ uẩn, Niệm Xứ, … đó gọi là Đại Đà-la-ni (大陀羅尼), lưu xuất hết thảy Chân như thanh tịnh, Bồ đề, Niết bàn cũng như
Ba-la-mật, cũng gọi là Nhân địa của Như-lai (因地如來) hay Pháp hạnh Nhơn địa
(因地法行). Bồ-tát phải tu tập diệt trừ vô minh như trừ đi cơn bệnh
lâu ngày. Tiếp theo những câu hỏi của Ngài Văn ThùPhổ Hiền, Ngài Phổ
Nhãn
đã đặt vấn đề cầu xin đức Phật khai thị thật vô cùng thiết thựctrở
thành
nội dung chuẩn mực thâu tóm toàn bộ bản Kinh: “Mong Phật vì những chúng
Bồ-tát trong hội này và vì tất cả chúng sanh đời mạt pháp giảng nói các vấn đề
thứ lớp tu hành của Bồ-tát: Làm sao tư duy? Làm sao trú trì? Chúng sanh chưa
ngộ làm phương tiện gì khiến cho tất cả đều được khai ngộ?” (云 何 思 惟? 云 何 住 持? 眾 生 未 悟 作 何 方 便 普 令 開 悟 ?) (Phẩm Phổ Nhãn Bồ-tát vấn Phật, thứ
3).

Câu hỏi trên
cũng tương tự như câu mà Trưởng lão Tu-bồ-đề đã hỏi đức Phật ở Kinh Kim Cương:
“Thế-tôn! Những thiện namthiện nữ muốn phát tâm vô thượng Chánh đẳng giác thì
nên trú tâm vào đâu? Nên điều phục tâm như thế nào?” (世 尊! 善 男 子, 善 女
人, 發 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提 心, 應 云 何 住?
云 何 降 伏 其 心?) (Kinh Kim Cương, đoạn
Thiện Hiện khải thỉnh, thứ 2).

Xuyên suốt bản
Kinh
với những lời cầu thỉnh về phương pháp tu tập của chư Đại Bồ-tát, Thế-tôn
đã trả lời với những cách khác nhau nhưng đều y cứ những pháp môn căn bản dựa
trên
nền tảng Thiền định. Trong Thiền định, hành giả phải liễu đạt rõ ràng bản
chất
của Vô minh. Chính vô minh là đầu mối của mọi sanh tử khổ đau và gây không
biết bao nhiêu nhiệt não chông gai cho người hành đạo.

Ở những phẩm
đầu tiên, đức Phật đề cập tổng quát về Vô minh, trong những phẩm tiếp theo,
Ngài đã chỉ tận gốc rễ sự vô minh gây khổ đau là vì tham ái và dục phát sinh mà
không thể chánh niệm tỉnh giác được. Phẩm Di-lặc Bồ-tát vấn Phật, Như-lai
đã dạy rất rõ, sở dĩ chúng sanh luân hồi mãi trong bùn lầy tử sinh là do bị
tham ái và dục chiếm hữu. Vì thế, Bồ-tát tu tập cần phải thấy một cách tường
tận: vòng xoáy luân hồi, Ái là căn bản. Do các dục giúp ái tánh phát sinh, nên
khiến sanh tử nối nhau. Dục nương ái sanh, Mạng nương dục mà có. Ái mạng của
chúng sanh lại nương nơi gốc dục. Ái dục là nhân, Ái mạng là quả.

Nói như vậy có
nghĩa hành giả muốn bước đi trên lộ trình của Bồ tát phải quán chiếu gốc rễ
sanh tử do ái để từ đó đoạn trừ, tức phải nhìn thấy bản chất của ái, vị ngọt
của ái, sự tập khởi của ái và sự đoạn diệt của ái một cách triệt để. Điều này
không phải dễ dàng vì chúng ta có mặt ở cuộc đời này cũng từ tham ái, cần phải
nỗ lực thắng lướt mọi thói quen, mọi tư duy sai lầm bằng cách khởi Chánh tri
kiến
nhằm bỏ Lý chướngquyết tâm cắt đứt nguyên nhân sanh tử nhằm bỏ Sự
chướng
.

Bồ-tát phải cầu
tất cả Chánh tri kiến để định hướng việc tu tập chuẩn mực, điều này cần đến
những tinh tấn trong thiền định mà phẩm Oai Đức Tự Tại Bồ-tát Vấn Phật đã
lược
có ba phương pháp:

Thứ nhất,
tu tập Xa-ma-tha
(奢 摩 他) dần dần khiến tâm vắng lặng như gương chiếu. Đây cũng gọi
tu Thiền Chỉ. Thứ hai, tu tập Tam-ma-bát-đề (三 摩 缽 提) dần dần nhìn thấy các pháp đều như huyễn như mộng nhằm viễn ly
tham muốn chấp thủ. Đây cũng gọi là tu Thiền Quán. Thứ ba, tu tập
Thiền-na (禪 那) dần dần lặng dứt mọi tâm
niệm
như âm thanh im bặt trong đồ vật, không bao giờ còn cơ hội vọng thanh nữa.
Đây cũng gọi là đoạn phân biệt nhằm thấy thật tướng.

Vận dụng ba
pháp Thiềp tập này, cũng có nghĩa là chúng ta hành trì Thiền Tứ Niệm Xứ:

Niệm Thân tức quay lại quán chiếu
thân Tứ Đại dựa trên những đặc tính Khổ, Vô thường, Vô ngã;

Niệm Thọ tức nhìn vào những cảm
thọ
về khổ, vui, không khổ không vui dựa trên những đặc tính Khổ, Vô thường,
ngã
;

Niệm Tâm tức trở lại nhìn vào
những chuyển biến của tâm thức nhằm có thể điều khiển tâm một cách thiện xảo dựa
trên
những đặc tính Khổ, Vô thường, Vô ngã;

Niệm Pháp tức nhìn vào những hiện
tượng
hiện hữu giữa cuộc đời dựa trên những đặc tính Khổ, Vô thường, Vô ngã.

Đó chính là
những pháp tu truyền thống mà bất kì Kinh điển nào chúng ta cũng có thể thấy
được, và Kinh Viên Giác cũng không nằm ngoài trường hợp ấy. Bên cạnh đó, có một
điều mà Bồ-tát luôn luôn khắc ghi trong từng tâm niệm, đó chính là vấn đề giữ
giới
. Ngài Phổ Nhãn sau khi hỏi pháp tu tập cho Bồ-tát đã được Thế-tôn
dạy, muốn cầu tâm thanh tịnh viên giác của chư Như-lai, phải nên chánh niệm xa
lìa
các huyễn, trước y theo hạnh Xa-ma-tha của Như-lai, giữ kỹ cấm giới, xử an
đồ chúng… (欲 求 如 來 淨 圓 覺 心, 應 當 正 念, 遠 離 諸 幻, 先 依 如 來 奢 藦 他 行, 肩 持 禁 戒, 安 處 徒 眾…). Giới là pháp
hành
không thể thiếu với một đệ tử Phật xuất gia cũng như tại gia. Giới là
chánh thuận với căn bản của Giải thoát, nhờ giới mà Thiền định được thành tựu,
Trí tuệ nương đây mà được quán triệt. Trong các chúng hội, giới luật nào
cũng được đặt nền tảng dựa vào Ngũ giới, những giới sau đều khai triển từ đây
mà thành.

Bồ-tát vì lòng
từ
bi, giới luật trở thành phục sức tốt đẹp nhất trên bước đường tu tập
hoằng hoá. Giới là hiện thân của Tánh giác. Khi chưa thấy Tánh, một người
chìm đắm trong mê mờ sanh tử cùng những ràng buộc nhỏ hẹp, tự giết chết tâm
Phật
của mình, đây là tội giết người nặng nhất trong những tội giết người. Khi
những tư tưởng mê lầm tiếo tục sanh khởi và kéo dài, ta tự huỷ báng kho tàng
Phật pháp, làm hư hao công đức, đó là lúc ta trở thành tên cướp giựt nguy hiểm.

Khi những
lầm
sanh khởitiếp tục được nuôi dưỡng, ta sẽ mãi tạo thêm nghiệp bất thiện,
mãi bắt tay mê mờ theo những thói quen đau khổ, đó là lúc ta mắc tội
hạnh
. Khi mù quáng với những tư tưởng sai lầm, ta dù diễn nói pháp tới
đâu cũng rơi vào tội đại vọng ngữ chứ có ích gì. Khi bị cô lập trong tư tưởng
sai lầm, trí tuệ không thể phát sinh, mọi thấy biết đều mập mờ, đó là lúc tâm
trí
ta không khác gì một gã say rượu. Ngược lại với những điều trên là một hành
giả
được mệnh danh giữ giới thanh tịnh, không có chút tỳ vết, hàng được bậc Thánh
ca
ngợi. Một vị Bồ-tát phải nhìn giới luật trên bình diện đó nhằm thăng
tiến hơn đạo hạnh, để biết rằng, giữ giới chân thậtcon đường giác ngộ nhanh
nhất trong việc thấy bộ mặt rõ ràng của bản tánh.

Khi những phẩm
cách Bồ-tát đã thành tựu thì lại bước qua địa vị khác-địa vị Bồ tát thượng thủ,
Bồ-tát chẳng cầu pháp trói buộc, chẳng cầu pháp cởi mở, chẳng ưa Niết-bàn,
chẳng kỉnh người trì giới, chẳng ghét người phá giới, chẳng trọng kẻ quen lâu,
chẳng khinh người mới học, vì tất cả đều là giác tánh
” (不 與 法 缚, 不 求 法 脫 , 不 厭 生 死 , 不 愛 涅 槃, 不 敬 持 戒, 不 憎 毀 禁, 不 重 久 習, 不 輕 初 學, 何以 故? 一 切 覺 故!) (Phẩm Phổ Nhãn Bồ-tát vấn Phật, thứ
3).

Vì thế, theo
Kinh Viên Giác, Bồ-tát được định nghĩa là người xa lìa cấu huyễn (對 離 幻 垢, 說 名 菩 薩), cũng đồng với nghĩa “Tất cả Bồ-tát
chúng sanh đời mạt pháp trước hết phải dứt hết vô thỉ cội rễ luân hồi
” (一 切 菩 薩, 及 未 世 眾 生 先 斷 無 始 輪 回 根 本) (Phẩm Kim Cang Tạng Bồ-tát vấn Phật,
thứ 4).

Ngay đây đã thiết
lập
một niềm tin lớn để hành giả nỗ lực tu tập nhằm đoạn tận mọi tham ái chấp
trước
– vốn là căn bản luân hồi. Niềm tin hễ đã lớn mạnh thì vạn pháp rất
chóng thành tựu. Lời dạy đã đầy đủ cho một vị Bồ-tát, chúng ta chỉ còn việc lên
đường
, dấn thân mới mong thể nhập được vào chân lý thù thắng được.

3. Phương tiện hoá độ
của Bồ-tát:

Bồ-tát vào
cuộc đờinguyện lực từ bi hoá độ vô sô chúng sanh chứ không phải do nghiệp
lực
luân hồi như bao loại khác.
Trong và sau khi hành trì chánh pháp, Bồ-tát
luôn giữ trong mình những lý tưởng cao quý. Tất cả những lý tưởng đó không nằm
ngoài mục đích tự độ và độ tha dựa vào các tác nhân Trí tuệTừ bi.

Nhờ Trí tuệ
Từ bi soi rọi mà Bồ-tát nhận chân được thế nào là con đường sáng, thế nào là
hạnh phúc tối thượng, thế nào là con đường đem hạnh phúc tối thượng đó ban trải
cho hết thảy chúng sanh một cách thù thắng. Tất nhiên, lý tưởng độ tha
của Bồ-tát phải song hành cùng tinh thần tự độ như sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
nước với sữa không thể tách rời. Hạnh phúc tự độ được nhắc nhở khá rõ ràng
bài kệ Phẩm Phổ Nhãn:

普 眼 汝 當 知
一 切 諸 眾 生
身 心 皆 如 幻
身 相 屬 四 大
心 性 歸 六 塵
四 大 體 各 離
誰 為 和 合 者
如 是 漸 修 行
一 切 悉 清 淨
一 切 佛 世 界
猶 如 虚 空 崋
三 世 悉 平 等
畢 竟 無 來 去
初 發 心 菩 薩
及 未 世 眾 生
欲 求 入 佛 道
應 如 是 修 習

“Phổ Nhãn ông
nên biết
Tất cả các chúng
sanh

Thân tâm đều như
huyễn

Thân tướng thuộc
bốn đại

Tâm tánh thuộc sáu
trần

Thể bốn đại đều
lìa
Cái gì là hoà hợp?

Thứ lớp tu như vậy

Tất cả đều thanh
tịnh

… …
Hết thảy thế giới
Phật
Cũng như hoa
không

Ba đời đều bình
đẳng

Rốt ráo không lai
khứ
Bồ tát mới phát
tâm

Cùng chúng sanh
đời mạt
Muốn cầu vào Phật
đạo

Phải tu tập như
thế.”

Từ việc ý thức
tự độ như thế, Trí tuệ phát khởi khiến Bồ-tát tự nhiên nuôi dưỡng lớn mạnh và
thành tựu hạnh Từ bi, tức hạnh nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh. Cả bản Kinh
Viên Giác đều thể hiện mục đích Độ tha rất rõ ràngthiết thực. Mỗi phẩm Kinh
đều được bắt đầu với những câu hỏi của chư Đại Bồ-tát, cụ thể từ phương pháp
hành trì (Trí tuệ), đến hạnh nguyện hoằng hoá (Từ bi). Thật ra, khi chúng
ta
biết trau dồi phẩm hạnh cho mình thì từ bi hay nói cách khác, ánh mắt nhìn
chúng sanh cũng sẽ rộng rãibao dung hơn. Không thể tìm thấy lòng yêu thương
đích thực ở một người chẳng bao giờ biết chăm sóc tâm linh cho chính mình. Vì
thế, ở Kinh Viên Giác, tất cả những câu hỏi của chư Bồ-tát đặt ra đều thành tựu
hai mặt Cơ sở và Phương tiện hoá độ, tức thành tựuThượng cầu Phật đạo,
hạ hoá chúng sanh
”. Bồ-tát tu tập thấy rõ lý Duyên Sinh, không
một pháp nào tồn tại độc lập, Sự Lý viên dungtương tức tương nhập, dù tất
cả đều hiện hữu như Hư Không hoa nhưng phải khởi từ bi tâm quảng đại để biến
cõi Ta-bà thành Hoa Tạng Thế Giới Hải, như Kinh Lăng Già có dạy:

世 間 離 生 滅
猶 如 虚 空 華
智 不 得 有 無
而 興 大 悲 心
Thế gian ly
sanh
diệt

Do như hư không
hoa

Trí bất đắc hữu

Nhi hưng đại bi
tâm
”.

Mười hai vị
Bồ-tát đặt mười hai câu hỏi thiết thực trên lộ trình giải thoát. Mỗi câu hỏi mở
ra một phương trời sáng cho chúng ta nhuyền nhuyễn trong lý tưởng thanh
cao. “Bồ-tát trở vào trần lao độ các chúng sanh phải lập bao nhiêu phương
tiện
giáo hoá?” (迴 入 塵 勞, 當 設 幾 種 教 化 方 便 度 諸 眾 生?) (Phẩm Di-lặc Bồ-tát vấn Phật, thứ
5). Câu hỏi trên của Ngài Di-lặc cùng tất cả những câu hỏi tương tự vậy
đều thiết lập niềm tin cho mỗi hành giả, giúp hành giả có cơ hội nhập vào hàng
Thánh chúng. Lý tưởng Bồ-tát nhờ đây được thành mãn. Nhờ có Chánh Tri Kiến (điều
mà Thế-tôn đã dạy đi dạy lại nhiều lần trong bản Kinh), Bồ-tát tu hành như thế,
thứ lớp như thế, tư duy như thế, trụ trì như thế, phương tiện như thế, khai ngộ
như thế, cầu pháp như thế, thấy năng sở đều không, chẳng cầu cảnh chứng. Và nhờ vào niềm tin kiên lập, Bồ-tát vào đời hoá độ chúng sanh không biết mệt
mõi, chỉ mong chúng sanh thành tựu đạo nghiệp nhằm viễn ly mọi ràng buộc của ác
pháp
.

Như mũi tên bắn
ngang đường chim bay khiến nó đoạn mạng, cũng như thế, Bồ-tát vào đời với tâm
từ
bi, dùng mọi phương tiện thiện xảo đoạn tận nghiệp chướng cho chúng sanh, khiến
tất cả đều được thâu nhiếp trong căn bản của Pháp. Đây chính là lý tưởng tột
vời mà hành giả cần định hướng và tinh tấn tu tập.

Bồ-tát khi trở
lại
suy xét chính mình thì cũng trong lúc ấy thấy được những tâm tánhchúng
sanh
. Sở dĩ như vậy vì tâm chúng sanh không ngoài tâm hành giả, cùng đeo mang
những cảnh nghiệp, cùng chung nguyên nhân luân hồi, do đây tâm từ bi thêm lan
toả trùm phủ lên người thân kẻ sơ, người nhanh kẻ lụt. Dần dần, khi tâm
từ
câu hữu lên khắp mọi đối tượng thì khái niệm về Ngã tướng, Nhơn tướng, Chúng
sanh tướng
, Thọ giả tướng sẽ nhanh chóng được đoạn tận, như một người nhìn thấy
huyễn pháp thì huyễn pháp tự trừ, biết được huyễn thuật sư đang biểu diễn thì những
cảnh tượng mê hoặc được tạo ra không làm ta chướng ngại nữa. Cầu tất cả chánh
tri kiến thì chánh tri kiến đó chính là thiện hữu, nhờ đó bốn thứ bệnh về Tác (làm),
Nhậm (mặc), Chỉ (ngăn), Diệt (đứt) lập tức tiêu trừ và không còn cơ hội trở lại
hại Thánh chủng của ta nữa.

Tất cả điều này
sẽ thành tựu khi nào hành giả vào đời dùng tâm từ bi làm phương tiện mở bày
những người chưa ngộ (菩 薩 唯 以 大 悲 方 便, 入 諸 世 間 開 發 未 悟). “Tâm đại bi (mahàkarumà) vốn là
tinh thể của tam muội (samàdhi) vì bi tâmthân thể (saria), là cửa ngõ
(mukha), là tiền đạo (Purvangama) của nó và là phương tiện tự hiện thân khắp
trụ
. Nếu khônglòng từ bi, Tam muội của Phật dù có siêu nhập thế nào sẽ
không có giá trị trong cuộc diễn xuất của một Kịch trường tâm linh vĩ đại. Đây quả
là chỗ sai biệt giữa Đại thừa và tất cả các giáo thuyết đã có trước trong lịch
sử
đạo Phật.
..” (Thiền luận, Suzuki tập hạ, trích dẫn theo HT. Đức Thanh,
Giáo trình Viên Giác, HVPGVN tai Huế 2007, tr 34). Đó được gọi là y cứ nguyện
lực
từ vô thỉ mà tâm thanh tịnh trong mỗi chúng ta đều viên chiếu tròn đầy.

Cuộc sống dù
thế nào đi nữa, việc tu tập dù gặp bao nhiêu trắc trở đi nữa, hành giả cũng
phải một lòng thương tưởng đến các chúng sanh đời mạt pháp, phải làm sao khiến
tất cả đều an trú trong chánh pháp tuyệt đối mà chư Phật trong mười phương ba
đời
luôn tán thán. Tâm từ bình đẳng như hư không chẳng luận gò đồi hay vực
thẳm
, được Kinh Viên Giác gọi là “Bất xả vô giá đại bi” (不 捨 無 这 大 悲). Đạo quả này được
thành tựu nhờ Bồ-tát đã quán triệt tâm mình và quán triệt tâm tha nhân, thấy rõ
Tứ đế, Duyên khởi, Vô ngã y như cảm nhận được hơi thở của mình. Khi đã
giác ngộ hay đang tiến dần trên con đường giác ngộ, Bồ-tát không bao giờ để rơi
chúng sanh để an vui trong Niết-bàn. Mười hai vị Đại Bồ-tát trong Kinh Viên
Giác
chắc chắn đã thâm đạt giáo lý Như-lai, các Ngài phương tiện đặt câu hỏi
trước đức Phật chỉ nhằm mục đích khiến các chúng sanh khác nương nơi đây mà
biết được pháp môn tu tập, bởi trí tuệ phàm phu làm sao có thể hiểu được chân lý
biểu hiện như thế nào mà thỉnh cầu. Chừng đó thôi, cũng đủ để thấy được
tưởng
Bồ-tát thâm sâu và đáng thực tập đến chừng nào.

Để kết thúc một
vài nhận định về lý tưởng Bồ-tát trong Kinh Viên Giác, xin trích lời dạy
cùng
rõ ràngđức Phật đã thuyết giảng ở Phẩm Phổ Giác Bồ-tát vấn Phật: “Trong
đời
mạt, chúng sanh muốn cầu Viên giác, nên phát tâm mà nói lên rằng, tất cả
chúng sanh tận cõi hư không, ta đều khiến vào hết trong Viên Giác rốt ráo

(末 世 眾 生, 欲 求 圓 覺, 應 當 發 心 作 如 是 言: 盡 於 虚 空, 一 切 眾 生, 我 皆 令 入 究 竟 圓 覺).

Nhận định
kết luận:

Này các
Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giớiNhân giới.
Này các Tỷ-kheo, các Ông cũng được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới
Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, hãy du hànhhạnh phúc cho quần chúng, vì
an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc,
an lạc cho chư Thiênloài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các
Tỷ-kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn.
Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Có các chúng sanh
sanh ra ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe pháp sẽ đi đến hoại diệt. Họ sẽ trở
thành
những vị thâm hiểu Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ đi đến Uruvelà, thị
trấn Senà để thuyết pháp.
..” (ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, Tương Ưng Ác Ma,
Phẩm thứ I, Bẫy Sập, tr234-235).

Đây được xem
như
lời nói nhân bản đầu tiên bắt đầu cho cuộc hoằng dương chánh pháp với sự
góp mặt của các đại đệ tử đức Phật, và việc làm lợi ích cho số đông này vẫn mãi
được duy trì cho đến ngày nay. Có thể khẳng định, rằng, tư tưởng Bồ-tát đạo đã
được manh nha và phát triển trong những ngày đầu từ lúc Thế-tôn thành tựu Vô thượng
Chánh Đẳng Giác
, bởi tinh thần sống của Tăng chúng không phải hưởng thụ những
lợi ích riêng mình, không phải khổ hạnh mong xa lìa nghiệp cảm, mà vì hạnh phúc
cho cả cộng đồng những nơi các Ngài có mặt. Các Tỷ-kheo đã bắt đầu hành Như Lai
sự với tinh thần dấn thân; đi khất thực; tùy duyên giáo hóa; đem đời sống xuất
ly
ươm mầm trong tâm thức tha nhân; chỉ cho mọi người thấy được đâu là con
đường
sáng để thành tựu phạm hạnh, đâu là ngõ cụt có thể đưa đến thối đọa. Giáo
đoàn
hầu như đã thiết lập lại một trật tự sống phát xuất từ nội tâm cho tất cả
các tầng lớp thời bấy giờ, bằng những lời dạy hết sức bình thường mà bất kì ai,
thuộc tầng lớp giai cấp nào cũng có thể hành trì được.

Thế-tôn đã
khẳng định, Ngài thuyết pháp không vì tranh chấp, tranh cãi, chiến tranh, luận
tranh, mà vì mục đích giải thoát, cho nên, những gì bậc trí tán thán, Ngài cũng
tán thán; những gì bậc chân nhân không chấp nhận, Ngài cũng không chấp nhận (Xem
Tương Ưng Bộ III, Phẩm V, Bông Hoa, Tu Thư Phật Học Vạn Hạnh, 1982, tr
165-166).

Chúng sanh
tám vạn bốn ngàn căn bệnh khó chữa gói gọn trong tham-sân-si thì giáo lý
Phật-đà có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn đối trịdiệt trừ tận gốc mọi căn
bệnh đó.

Giáo lý mỗi nơi
phô diễn mỗi cách khác nhau, theo mỗi ngôn ngữ khác nhau, theo
một trình độ nhận
thức
khác nhau tuỳ vào căn cơ đối tượng, đôi khi nó được ám chỉ là Pháp Độc
Nhất và Kỳ Diệu; đôi khi là Viên Giác; đôi khi là Tổng trì (Đà-la-ni); đôi khi
Cõi Giới, đôi khi là Tịnh Độ; có nơi là Pháp Giới của Hoa Nghiêm; có nơi là
Như-lai Tạng; có nơi là Phật Hương Tích, A Di Đà, Dược Sư, Phổ Hiền, Văn Thù,
Di Lặc, Biện Âm,… Tất cả tên này đều chỉ rõ Nhất Tâm. Bản tánh của tâm này là
bản nguyên chư Phật, nó là tên của tất cả các Kinh. Kinh Viên Giác cũng nằm
trong nghĩa thâm mật đó.

Chúng ta
phải nhận ra, mọi lời thuyết pháp của chư Phật đều nhằm chỉ thẳng tâm, không
nên bám chặt vào tên và lời, bởi đó chỉ là ngón tay đưa lên, còn đích chúng ta
thấy phải là mặt trăng vằng vặc vượt ra khỏi giới hạn của ngón tay kia. Nếu
không
như vậy, tất cả pháp ấy sẽ trở thành thuốc độc, hành giả sẽ phải thừa tự,
sẽ phải là chủ nhân của ác nghiệp. Bất kỳ ở thời pháp và bản Kinh nào, chúng ta
cũng phải dùng trí tuệ soi rọi, thấy được cốt yếu nội dung không ra ngoài Cơ sở
hoá
độ (Phẩm Cách tu tập) và Phương pháp hoá độ (Lý tưởng hoá độ chúng
sanh
).
Hai nội dung này đan xen vào nhau không thể tách rời, một nội
dung thành tựu thì nội dung còn lại cũng dựa vào đó để viên mãn. Sở dĩ
phải phân chia bố cục như trên chỉ để chúng ta thấu hiểu được dễ dàng mà thôi,
chứ thật ra, chỉ cần đọc, hoặc là Cơ sở hoá độ của Bồ-tát, hoặc là Phương pháp
hoá độ của Bồ-tát, thì chúng ta có thể hiểu được chi phần còn lại. Kinh Viên
Giác
đã trình bày rất cụ thể hai nội dung trên từ phẩm đầu tiên cho đến phẩm
cuối cùng.

Điểm then chốt
trong mỗi từ mỗi ngữ nhằm giúp chúng sanh Kiến tánh để không phụ lòng với lời
dạy, Giáo pháp của Như-lai là đến để mà thấy chứ không phải để chiêm ngưỡng như
một triết lý mông lung. Giáo lý ấy thật dễ hiểu, gói gọn hoàn toàn vào hai từ
“Trí Tuệ” và “Từ Bi”, nhưng chứng đạt được thì điều không phải dễ dàng. Và đó là
chân trời mênh mông mà mỗi chúng ta đều có quyền lựa chọn và dấn thân!

Bồ-tát phát
nguyện
hoá độ tất cả chúng sanh vào Niết-bàn (Hạ hoá chúng sanhlý tưởng độ
tha
) mà thật ra không thấy chúng sanh nào chân thật được độ (Thượng cầu Phật
đạo
– phẩm cách tự độ) (善 男 子, 善 女 人, 發 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提 心 者, 當 生 如 是 心: 我 應 滅 度 一 切 眾 生 已 而 無 有 一 眾 生 實 滅 度 者) (Kinh Kim Cương, đoạn 17, Cứu cánh Vô ngã), đó là tư tưởng cốt
yếu của tất cả những bản Kinh Phật giáo.

Kinh Viên Giác
với cái nhìn như thật đang là của các pháp cũng mở ra phương trời rất mới, ở đó
chúng ta thấy được đường đi của chư Bồ-tát cũng như nền tảng hoá độ chúng sanh
của các Ngài. Sự thông biện giáo pháp, tâm từ bi bình đẳng luôn là những gì
được đề cao và được đức Phật nhắc đi nhắc lại, tạo thành chuẩn mực sống của đệ tử
Như-lai trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

Viên Giác, tựa
đề bản Kinh cũng đã cho ta thấy được phần nào diệu dụng của bản Kinh, muốn hết
thảy chúng sanh thực hành Bồ-tát đạo và đều được an trú trong sự nhiệm mầu này
nhờ thành mãn Vô ngã, Vô nhơn, Vô chúng sanh, Vô thọ giả. Chúng sanh bệnh là
Bồ-tát bệnh, vì thế, Bồ-tát phải nỗ lực tìm cầu diệu dược cứu độ cho mình và
cứu độ cho chúng sanh. Những căn bệnh do Vô minh, Tham ái, Dục vọng, Chấp
thủ
… hễ còn hoành hành là Bồ-tát còn hiện thân chữa trị cứu độ, có nghĩa là
tinh thần Viên Giác vẫn còn lưu bố rộng khắp.

Chúng ta, những
hành giả đang đi trên con đường thiêng liêng cao quý đó, cũng phải tinh tấn
lòng dặn lòng nuôi dưỡng tâm từ cùng tăng trưởng trí tuệ, tự mình vượt qua bộc
lưu
và giúp người khác vượt qua bộc lưu. Đó chính là sự tri ân Tam bảo
đúng nghĩa và thiết thực nhất, cũng là mục đích mà Kinh Viên Giác muốn trao
truyền.

THAM KHẢO:

1. Lăng già a
bạt đa la bảo kinh

楞 伽阿跋多羅寶經. Lưu Tống, Cầu Na Bạt
Đà La
dịch, ĐTK 16, 479. Số hiệu 670.
2. Đại thừa nhập
lăng già kinh

大 乘入楞伽經. Đường, Thật Xoa Nan Đà
dịch, ĐTK 16, 587. Số hiệu 672.
3. Kim cương bát
nhã ba la mật kinh
金剛般若波羅蜜經. Diêu Tần Tam
Tạng Pháp Sư Cưu
Ma La Thập
dịch, ĐTK 8, 78. Số hiệu: 235.
4. Đại Phương
Quảng Phật
Hoa Nghiêm
Kinh Nhập Pháp
Giới
Phẩm 大方廣佛華嚴經入法界品. Đường Địa Bà Ha La
dịch. ĐTK số hiệu 295.
5. Kinh Viên Giác.
Thích Viên Đức dịch.Saigon: Bản in Ronéo.