TÂM VÀ VẬT
Toàn Không
Đức Phật nói rất nhiều vấn
đề, Khoa học cũng đã chứng minh được nhiều vấn đề mà đức Phật đã nói cách nay
trên 2550 năm; trong phạm vi giới hạn, bài này người viết chỉ đưa ra hai vấn đề
đó là: 1. Tam tế tướng, 2. Tâm và vật, để xem Khoa học nói gì về hai vấn đề
này.
I ) – TAM TẾ TƯỚNG:
(Ba thể nhỏ nhiệm)
ĐỨC PHẬT DẠY:
Cấu tạo con người và vạn vật
đều do Tam tế tướng của A Lại Đa Thức mà thành, Tam tế tướng gồm có Nghiệp
tướng, Cảnh giới tướng và Chuyển tướng; tuy ba nhưng chỉ là một, một mà là ba;
vật chất và tinh thần đều là một thể.
VỀ KHOA HỌC:
Các nhà Khoa học cho biết
trong vũ trụ chỉ có ba thứ, đó là Năng lượng (Energy), Vật chất (Matter) và Tin
tức (Information, News); do ba thứ này mà sinh ra đủ thứ trong vũ trụ.
LỜI BÀN:
Trước khi so sánh: lời đức Phật nói và sự
tuyên bố của các nhà Khoa học, chúng ta nên tìm hiểu về A Lại Đa Thức.
Thức là gì? Thức là sự nhận biết phân biệt, Thức vô hình không
thấy được, Theo Duy Thức Học, con người có 8 thức như sau:
1- Nhãn thức: Là thấy biết hình sắc do nhãn căn (mắt) tiếp xúc với
sắc trần (cảnh vật).
2- Nhĩ thức: Là nghe biết khi nhĩ căn (tai) đón nhận thanh trần
(âm thanh).
3- Tỵ thức: Là biết mùi khi tỵ căn (mũi) đón nhận hương trần
(mùi).
4- Thiệt thức: Là biết vị khi thiệt căn (lưỡi) tiếp xúc vị trần
(thức ăn thức uống).
5- Thân thức: Là biết cảm giác do thân căn (thân thể tay chân) tiếp
xúc trần (vạn vật).
Năm thức này có nhiệm vụ ghi nhận khi năm
căn tiếp xúc với năm trần.
6- Ý thức: Là thức thứ sáu có nhiệm vụ tiếp xúc với pháp trần,
pháp trần là tất cả những gì mà năm thức trên ghi nhận được, ý thức duyên với
năm thức trên để nhận diện, phán đoán, phân biệt cho rõ ràng.
7- Mạt Na thức: “tự ý thức”, thức thứ bảy tự ý thức về chính mình,
còn gọi là “Ý”, tự ô nhiễm cho rằng mình có một cái “ta”; Mạt Na đưa tin tức về
cảm giác chủng tử từ sáu thức trước cho A Lại Đa (Thức thứ tám) gìn giữ tất cả
các sự kiện, và chấp làm thật ngã thật pháp. Tuy nhiên, nó luôn luôn thay đổi,
nó là căn bản phiền não gồm: Ngu si, tà kiến, kiêu mạn, và ái dục. Mạt Na còn
là tác giả của “căn cảnh duyên, tác ý duyên, và chủng tử duyên”; nó có tánh
tướng lo nghĩ và làm chỗ nương tựa cho sáu thức trước về ô uế hoặc trong sạch.
Mạt Na phân biệt chủ thể khách thể, tạo nên ý thức “nhị nguyên” (Cho rằng bản
thể vũ trụ do hai bản thể làm thành, hoặc theo hai cái nguyên đề mà suy diễn ra
cái khác như sáng tối, phải trái, đẹp xấu, yêu ghét v.v…); Mạt Na chấp ngã,
nhân, chúng sanh, chấp đủ thứ điên đảo. Năm giác quan cùng ý thức báo cho Mạt
Na tin tức từ bên ngoài không hề đánh giá tốt xấu, nhưng chính Mạt Na, thức thứ
bảy này là kẻ đánh giá phải trái, hay dở, yêu ghét v.v… và ra lệnh cho sáu thức
kia phản ứng hành động; đồng thời Mạt Na đưa tất cả các cảm giác (chủng tử) vào
A Lại Đa thức là thức thứ tám.
8- A Lại Đa Thức: Các cảm giác của tất cả các hoạt động của Năm Căn và
Ý thức được Mạt Na đưa vào “A Lại Đa”, là Thức thứ tám, còn gọi là “Tàng thức”.
A Lại Đa có nhiệm vụ gìn giữ tất cả các tin tức ấy, gọi là “chấp trì sinh mệnh
chủng tử” của các pháp, nó luôn luôn sẵn sàng tiếp nhận tin tức do Mạt Na
chuyển đến, không bao giờ đầy, ví như chiếc bình không đáy, bao nhiêu chứa cũng
hết và không bao giờ mất. Cả đời người sóng gió lên bổng xuống chìm, trải qua
biết bao nhiêu sự việc, trong A Lại Đa có đầy đủ, ví như cái máy “Vi tính” chứa
đủ thứ của cuộc đời.
Tóm lại: A Lại Đa Thức là thức thứ tám của
chúng ta, nó chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống chúng ta và là nguồn gốc
của tất cả hiện tượng gồm có Nghiệp tướng, Cảnh giới tướng và Chuyển tướng.
So sánh, chúng ta thấy có sự trùng hợp giữa
lời đức Phật dạy và Khoa học, đó là:
– Phật nói Nghiệp tướng, nhà Khoa học gọi là Năng lượng,
– Phật nói Cảnh giới tướng, nhà Khoa học gọi là Vật chất,
– Phật nói Chuyển tướng, nhà Khoa học gọi là Tin tức.
Như vậy, chúng ta không còn nghi ngờ những lời
Đức Phật đã nói, vì đã được các nhà Khoa học có cùng quan điểm như thế; tuy
nhiên điều mà Đức Phật nhấn mạnh, đó là “Vật chất và tinh thần đều là một thể”,
nghĩa là trong vật chất có năng lượng, trong năng lượng có vật chất và có cả
tin tức nữa; tức là một mà là ba, ba mà là một, điều này nhà Khoa học vẫn chưa
tìm ra.
II ) – TÂM VÀ VẬT CHẤT
(Cảnh vật)
“Tướng do Tâm sinh,
Cảnh tùy Tâm chuyển”
ĐỨC PHẬT DẠY:
Trong Kinh đức Phật dạy: “Tướng do tâm sinh,
cảnh tùy tâm chuyển”, như Kinh Hoa Nghiêm nói: “NHẤT THIẾT DUY TÂM
TẠO”; thế nào là tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển?
– Tướng do tâm sinh:
Khi con người chết đi, thần
thức mang theo nghiệp thức đã tạo trong suốt đời để được sinh vào một trong 6
cõi: Trời, Người, Thần, Ngạ Quỷ, Súc sanh, Địa ngục. Tùy nghiệp thức mà có hình
dáng của cõi được sinh vào như thế, nếu tái sinh cõi Người thì tùy nghiệp mà
được thân hình toàn vẹn đẹp đẽ hay xấu xa hay khuyết tật v.v…
Tướng là tướng mạo hình dạng mặt mũi thân thể con người, tướng do
tâm sinh là hình dạng mặt mũi của chúng ta do tâm chúng ta mà sinh ra như thế.
Khi mới sinh ra thì hình dạng do nghiệp thức tạo ra, khi lớn lên mặt mũi, thân
hình mỗi ngày mỗi thay đổi khác, tùy theo tâm niệm của mỗi người trong suốt
hành trình của cuộc đời.
Tóm lại tướng mạo của con
người là hiện tượng vật chất, tướng mạo đẹp xấu cùng ý niệm của con người có
liên quan. Nói rõ hơn thì hành vi ý niệm tốt sẽ có tướng mạo đẹp, chẳng những
tướng mạo đẹp mà còn khoẻ mạnh nữa.
– Cảnh tùy tâm chuyển:
Cảnh là cảnh vật chung quanh chúng ta, như đất đai núi rừng sông
biển đại địa và tất cả những thứ vật chất nhỏ bé khác. Hoàn cảnh vật chất ấy
theo ý niệm của con người mà chuyển biến.
Hiện nay trên thế giới xã
hội động loạn, bên trong có nguyên tố con người, còn những tai họa thiên nhiên
đối với mọi người tưởng rằng không có tương quan, sự thực không phải vậy. Đức
Phật đã dạy “Cảnh tùy tâm chuyển”, tâm niệm của chúng ta và những tai họa thiên
tai coi như tự nhiên ấy có tương quan mật thiết với nhau. Nếu tất cả con người
đều có niệm thiện thì những tai biến thiên nhiên như bão lụt, động đất, sóng
thần, núi lửa phụt lên sẽ không xảy ra.
Có thể tin được hai điều đức
Phật dạy không?
Trong tạp A Hàm quyển 2
trang 302 khi Tôn Giả Mục Kiền Liên thưa với Phật rằng Tôn Giả nhìn thấy chúng
sinh lớn như cái nhà lầu trên hư không, Đức Phật xác nhận là có, nhưng Phật đã
không nói ra vì sợ nói ra, người không tin, và Phật còn nói “Những người không
tin lời Ta nói là ngu si, mãi mãi chịu khổ”. Phật vì thương xót chúng sinh nên
mới nói ra, mà không chịu tin thì nhất định phải chịu khổ, vì không tin nên
không làm theo lời dạy của Ngài, nên phải chịu khổ là lẽ dĩ nhiên.
VỀ KHOA HỌC:
– Thí nghiệm thứ nhất: Năm
2004, Bác sĩ người Nhật tên Giang Bản Thắng đã công bố kết qủa cuộc thí nghiệm
trên 10 năm với mấy chục vạn lần (mấy trăm nghìn lần) thí nghiệm như sau:
Ông dùng nước làm đông lạnh
để quan sát trong phòng thí nghiệm có kính hiển vi để quan sát và máy chụp hình
để chụp các kết qủa. Bắt đầu, ông cho nước xem một hàng chữ khen ngợi nước là
quý dễ thương, là hữu ích cho muôn loài v.v…, đồng thời hạ nhiệt độ cho nước
đông lại, thì trên mặt băng đá kết tinh những hoa tuyết đẹp. Khi thí nghiệm cho
nước nhìn các dòng chữ chê bai nước xấu xa dơ bẩn chẳng mang lại lợi ích gì
v.v…, thì trên mặt băng đá hiện những hình xấu xí. Cũng thí nghiệm như thế
đối với chữ của các nước khác, nước đều đọc hiểu và thể hiện tương tự; điều này
chứng tỏ nước đọc và hiểu chữ viết của tất cả mọi nước; nước thông minh tuyệt vời
nên mới như thế!
Bác Sĩ Giang Bản Thắng chưa
ngừng ở đây, ông tiếp tục thí nghiệm bằng lời nói; Ông nói lời khen ngợi nước
thì nước kết tinh hoa tuyết rất đẹp, còn ông nói chê bai nước thì nó kết tinh
những hình xấu xí; Ông cũng làm tương tự như thế khi dùng những tiếng nói của
nhiều dân tộc khác nhau thì phản ứng của nước cũng cùng một kết qủa.
Bác Sĩ Giang Bản Thắng vẫn
chưa ngưng thí nghiệm, lần này, ông không nói với nước, cũng chẳng cho nước coi
chữ, mà ông đối diện với nước, dùng ý niệm của mình xem nước có hiểu không; kết
qủa là khi ông có ý nghĩ vui vẻ khen ngợi nước, nó cũng kết tinh hoa tuyết rất
đẹp đẽ, còn khi ông chỉ có ý nghĩ xấu chê bai nó thì nó kết tinh những hình thù
xấu xí.
Để cho chắc chắn rõ ràng
hơn, ông cũng làm thí nghiệm về ý niệm với nhiều người của nhiều dân tộc khác
nhau, thì ông đều có cùng một kết qủa, nước thông minh tuyệt vời!
– Thí nghiệm thứ hai: Tại một eo biển ở Nhật, có một cái hồ tên hồ Tỳ Bà,
nước ở hồ này luôn luôn có mùi hôi làm cho những người qua lại rất khó chịu vì
mùi hôi từ hồ bốc lên. Từ nhiều năm trước người ta nghĩ cách để làm mất mùi
hôi, nhưng vô phương kế phải bó tay. Bác sĩ Giang Bản Thắng cho làm một cuộc
thí nghiệm như sau:
Ông thỉnh một vị Hòa Thượng
chân tu cùng với trên 100 người đến bờ hồ nơi có gió xuôi để mọi người không
ngửi mùi hôi, vị Hòa Thượng điều khiển buổi cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện
mọi người đều buông bỏ hết tạp niệm, nghĩa là không suy nghĩ chuyện nọ việc
kia, chỉ có một tâm niệm duy nhất với một câu niệm “Nước trong hồ sạch rồi,
nước trong hồ sạch rồi, nước trong hồ sạch rồi . . .”. Buổi cầu nguyện kéo dài
một giờ, và thực hiện sau ba buổi thì nước hồ hết mùi hôi; thật là mầu nhiệm
biết bao!
Tuy nhiên, sau nửa năm, nước
hồ có mùi hôi trở lại; do đó trong dịp thăm nước Nhật và thăm Bác sĩ Giang Bản
Thắng năm 2005, Hòa Thượng Tịnh Không, người Trung Quốc nói với Bác sĩ Giang
Bản Thắng: “Nếu cứ 2 tháng cho người đến cầu nguyện một lần như thế thì nước hồ
sẽ không còn mùi hôi”.
LỜI BÀN:
Trước kia, vì vô minh không
hiểu lời đức Phật nói nên không tin không làm theo lời dạy của Ngài, tạo ra
biết bao nhiêu khổ đau cho mình và cho người. Kể từ bây giờ, Khoa học đã chứng
minh câu nói của Phật: “Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”, chúng ta đã có
chính tín rồi thì còn chần chừ gì nữa mà chắng vâng làm.
Để được tường tận rõ ràng
hơn chúng ta bàn thêm dưới đây:
Tướng do tâm sinh: Thân thể con người là vật chất được cấu tạo bởi vô số
tế bào, mà tế bào lại được làm thành bởi vô số nguyên tử hạt điện tử. Trong
phần vật chất của cơ thể con người có 70% là nước. Khi chúng ta khởi tâm niệm
thiện thì 70% là nước ấy trong cơ thể sẽ trở nên đẹp đẽ khoẻ mạnh sống lâu; khi
chúng ta khởi lên niệm xấu ác thì 70% nước trong cơ thể trở nên xấu và là căn
nguyên của sự sinh ra bệnh.
Muốn sống lâu trong khỏe mạnh, chúng ta
phải nghĩ lành tránh nghĩ ác, muốn nghĩ lành tránh nghĩ ác, chúng ta phải biết
phân biệt giữa thiện và ác; nói đến điều thiện và điều ác một cách tổng quát
thì ai cũng biết, nhưng đi vào chi tiết và cách đối xử hàng ngày nhiều người đã
không phân biệt được đâu là thiện, đâu là ác. Nhiều người đã lầm lẫn giữa thiện
và ác, họ đã cho việc ác là thiện, việc thiện là ác, vì không phân biệt được
giữa thiện và ác một cách rõ ràng, nên họ đã hành động điên đảo, tạo khổ đau
cho mình và cho người.
Đức
Phật dạy bốn nguyên tắc căn bản để chúng ta nhận định phân biệt được sự khác
biệt giữa điều tốt việc thiện, với điều xấu việc ác như sau:
1- Nếu ý nghĩ lời nói việc làm của mình có hại cho mình, có hại cho
người, có hại cho cả hai, đây là điều xấu, việc ác.
2- Nếu ý nghĩ lời nói việc làm của mình có lợi cho mình, có hại cho
người, đây là điều xấu, việc ác.
3- Nếu ý nghĩ lời nói việc làm của mình có hại cho mình, có lợi cho
người, đây là điều tốt, việc thiện.
4- Nếu ý nghĩ lời nói việc làm của mình có lợi cho mình, có lợi cho
người, đây là điều tốt, việc thiện.
Từ bốn nguyên tắc này, chúng
ta cố gắng suy gẫm, sẽ phân biệt được đâu là thiện đâu là ác; như vậy chúng ta
không còn nhầm lẫn giữa thiện và ác, theo đó chúng ta hành động một cách quang
minh chính đại, và nó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta. Chúng ta phải
thực hành liền: ngay sau khi đọc bài này, chứ không phải đợi tới lúc bệnh hoạn
xảy ra rồi mới nghĩ tới điều làm lành thì đã bỏ qua mất cơ hội tốt cho mình mất
rồi.
Ở đây chúng ta chỉ bàn đến điều
gì mà Khoa học đã chứng minh được thôi, đó là thí nghiệm nước; nhưng thực ra
Phật nói còn xa hơn rất nhiều, đó là tất cả vật chất chứ không chỉ có nước, tất
cả vật chất đều có liên hệ đến tâm niệm của con người. Nghĩa là thân thể chúng
ta do bốn đại “đất nước gió lửa” hợp thành, cả bốn đại này đều cảm ứng biết tâm
niệm thiện ác khen chê vui buồn v.v… của chúng ta vậy. Rất tiếc Khoa học chưa
tiến tới chỗ chứng minh tất cả vật chất đều cảm ứng biết tâm niệm con người.
Cảnh tùy tâm chuyển: Thí nghiệm về nước hồ Tỳ Bà chỉ là một việc nhỏ trong
cái thế giới rộng lớn này.
Trong Kinh Lăng nghiêm Phật
dạy:
1- Tham lam vô bờ bến: Mưa như đổ nước xuống không ngừng gây lũ lụt là do
cảm chiêu của lòng tham lam quá nhiều của con người.
2- Sân hận căm thù: Hỏa tai, núi lửa nổ tung, sức nóng của trái đất tăng
lên là do cảm chiêu của lòng sân hận căm thù của con người.
3- Ngu si tà kiến: Lốc xoáy, bão tố thổi đổ cây, tan nát nhà cửa do cảm
chiêu của ngu si tà kiến.
4- Kiêu căng ngã mạn: Loạn động bất an, động đất sóng thần là do chiêu cảm của
tính kiêu căng lòng ngã mạn của mỗi con người hợp lại mà thành.
Con người sống trên trái đất
này có qúa nhiều tham sân si mạn đến mức không thể khống chế nổi, cho nên tai
nạn nào cũng đều xuất hiện cả; tình trạng này có hóa giải được không?
Đối với Khoa học, cho đến
nay: vẫn chưa đưa ra được giải pháp cụ thể nào cả.
Đối với Phật giáo, chúng ta
đã hiểu câu Kinh Phật nói “Cảnh tùy tâm chuyển” thì có thể hóa giải được, bằng
cách như Phật dạy: “Tận diệt tham sân si mạn, siêng tu Giới Định Tuệ”
Mọi người đều buông bỏ hết
tham sân si mạn và thực hành Giới cấm, thiền Định, trau giồi trí Tuệ, thì thân
thể đẹp đẽ khoẻ mạnh sống lâu, và các tai nạn thiên nhiên cũng giảm xuống. , .
Toàn Không

























