Tác giả: Đại sư Kelsang Gyatso
Trích dịch: Thích Nữ Giác Anh

Lời
giới thiệu: Đại sư Kelsang Gyatso
(1931- ) là một trong những bậc Thầy và
cũng là Hành giảnổi tiếng theo truyền thốngPhật Giáo Tây Tạng hiện nay. Tuổi
vừa lên tám, Ngài đã tỏ ra yêu thích cuộc sống Tu viện và bắt đầu học tập Kinh
điển. Tuy còn rất nhỏ nhưng trí tuệ vượt bật hơn người. Chưa đến 10 tuổi Ngài
đã thuộc lòng những bộ Kinh dài và quan yếu trong Phật Giáo. Ngài tu học tại Tu
viện Sera 15 năm và đạt học vị cao nhất Geshe – Tiến sĩPhật giáo theo truyền
thốngTây Tạng. Năm 1959, Ngài vượt biên sang tị nạn tại Ấn Độ. Vài năm sau đó,
tổ chức khóa tu và thành lậptu viện ở Mussoorie, tiểu bang Uttaranchal – Nam
Ấn. Cũng chính nơi đây, dưới sự hướng dẫn của vị Thầy Bổn Sư – Đại sư Kyabje
Trijang Rinpoche, Ngài đã ẩn tu nhập thất
nghiêm mật trong vòng 18 năm. Vào năm 1977, nhân duyênhoằng pháp cho người Tây
Phương đã đến, Ngài nhận lời mời của Lama Yeshe đến London giảng pháp. Sau những
buổi giảng đầu tiên này, Phật tử Anh cung thỉnh Ngài ở lại hoằng hóa. Bắt đầu
từ đây, không những Phật tử Anh mà còn khắp nơi trên thế giới hội đủ duyên lành
đón nhận giáo lýGiải Thoát từ một bậc Thầy, vừa là Học giả, vừa là Hành Giả
như Đại Sư Kelsang Gyatso. Bài dịch này xin được trích dịch trong phần Bồ Đề
Tâm (The Precious Mind of Boddhicitta) từ tác phẩm “8 Bước Đến Hạnh Phúc”
(Eight Steps to Happiness) của Ngài.
Khi
nói đến tu là nói đến chuyển hóaTâm thức trong mỗi con ngườichúng ta, đó là điều
quan trọng nhất. Có hai mức độ chuyển hóa, mức độ thứ nhất là phát tâmtừ bi
thương hết tất cả chúng sanh, mức độ thứ hai là tập hoán chuyển giữa Mình và
Người, còn gọi là thực tập pháp tu Cho và Nhận. Chắc ai cũng đã biết, phương
pháp Cho và Nhận là một phương pháp huấn luyện tâm rất đặc sắc, nó làm lớn mạnh
lòng Từ Bi trong mỗi chúng ta. Vì chúng sanh ai cũng có khuynh hướng không muốn
đau khổ và ai cũng mong cầu hạnh phúc, nên dù sớm hay muộn những ai thiết tha
hành Bồ Tát đạo đến một lúc đều phải dõng
mãnh phát tâm: “Đối với tất cả chúng sanh, con nguyện xin Nhận thay đau khổ và Cho
tất cả hạnh phúc”.
Nhưng
trước hết cần đặc biệthiểu rõphát TâmBồ Đề là gì? Tâm Bồ Đề là tâm phát sinh từ tâmĐại Bi, Đại Bi là tâm biết thương
yêu trong mỗi con ngườichúng ta. Tâm biết thương yêu đó như một cánh đồng,
trên cánh đồng ấy lấy Từ Bi làm hạt giống, pháp môn là phương pháp trồng trọt để
hạt giốngTừ Bisinh trưởng, và cuối cùngBồ Đề Tâm là kết quả thu hoạch từ hạt
giốngTừ Bi và quá trình nuôi dưỡng đó. Giữa tất cả những pháp môn để phát triển
tâm Từ Bi, Cho và Nhận là pháp sâu sắc nhất, vì thế tâm Bồ Đềsinh trưởng từ
đây cũng cao quí hơn hết.
Bồ Đề Tâm dịch nghĩa
từ tiếng Phạn Boddhicitta. Bồ Đề – Bodhi – nghĩa là giải thoát, Citta nghĩa là
Tâm, như vậy Bodhicitta nghĩa là Bồ Đề Tâm. Đây là “sơ phát tâm” phát khởi từ
lòng Từ Bi trong mỗi chúng ta. Bồ Đề Tâm là tâm khao khát mong cầu quả vịGiác
ngộGiải thoát để cứu độ tất cả chúng sanh ra khỏi phiền nãođau khổ. Tâm này
là tâm cần thiết nhất, và cũng chính là tâm quan yếu nhất trong Phật giáo.
Một khi chúng ta đã
đạt được những tinh hoa của Bồ Đề Tâm rồi, tất cả những thiện pháptự nhiên sẽ
được thành tựu, mọi phiền não sẽ chấm dứt, những ước mơ sẽ thành hiện thực và
chúng ta có thể phổ độ chúng sanh một cách tự tại và viên mãn. Bồ Đề Tâm là người
bạn tốt nhất mà ta có thể có và cũng chính là phẩm hạnh cao quí nhất mỗi một
con người nên hướng đến.
Trong cuộc sống thường
ngày, nếu thấy ai đối xử tốt với bạn bè, có hiếu với cha mẹ, thường hay giúp đỡ
mọi người, chúng ta đã khen ngợi người đó là một người tốt. Vậy tưởng tượng xem,
một người dâng hiến cả cuộc đời để ban vui cứu khổ, phụng sự tất cả chúng sanh,
thì người ấy càng đáng để chúng ta khâm phục và tán thán hơn biết chừng nào.
Thánh Atisha đã thọ giáo
với nhiều bậc Thầy, nhưng chỉ có một bậc Thầy Ngài thừa hưởngân huệ nhiều
nhất, đó là Guru Serlingpa. Bất cứ lúc nào nghe đến danh hiệu Serlingpa, Thánh
Atisha đều cung kínhđảnh lễ. Đệ tử hỏi vì sao Ngài thương cảm đến thế, Ngài
trả lời rằng “vì lòng từ bi của Guru Serlingpa mà Ngài đã phát Tâm Bồ Đề”.
Chính nhờ năng lực của Tâm Bồ Đề mà Thánh Atisha đã mang hoan hỷ và an lạc đến
cho bất cứ ai có nhân duyên đuợc gặp Ngài, và tất cả mọi hành động của Ngài đều
không ngoài mục đíchphổ độ chúng sanh.
Vậy Tâm Bồ Đềhoán
chuyểnphiền não và viên mãn nguyện ước của chúng ta bằng cách nào? Chúng ta đều
hiểu rõ, phiền não không ngoài tâm mà có. Bất cứ vấn đề gì đều do tâm quyết định,
trước mỗi việc khó khăn, ta nhìn nó dưới con mắt của phiền não hay xem như là
một cơ hội để vươn lên, tất cả đều tùy thuộc ở tâm. Nếu có Tâm Bồ Đề, những tâm
không tốt như tham ái, sân giận hay ích kỷ nhỏ mọn… không có cách nào hoạt động.
Ví dụ trong cuộc sống, có khi ta không tìm được việc làm tốt, nhà đẹp, bạn lành
v.v… lúc đó cũng không lấy gì làm buồn, vì ta nghĩ “mơ ước chính của ta là đạt đếngiải thoátgiác ngộ, nếu hôm nay không có những hỷ lạcthế gian thì cũng không
nhằm gì, vì suy cho cùng, chung quy những đòi hỏi thế gian đó chỉ kéo ta trầm
luân mãi trong luân hồi mà thôi”. Với tâm trong sáng như vậy, ta sẽ không còn
những đòi hỏi cho cá nhân hay oán trách người khác. Không gì có thể ngăn chặn ta
trên con đường tìm đến giải thoát. Hơn thế, Tâm Bồ Đềtối thượng đó sẽ tạo nên
một nguồn phước đứcvô lượngvô biên, vì tất cả mọi tư tưởng và hành vi của ta đều
đã biến thành nguồn lợi lạc cho kẻ khác. Công đức sâu dày đó sẽ khiến tất cả
mọi nguyện ước đều thành tựu dễ dàng, chúng ta sẽ có một năng lực vĩ đại để phổ
độ chúng sanh, lúc đó mọi Phật sự đều thành tựuviên mãn.
Chúng ta cần thường
xuyên nhớ nghĩ đến lợi ích của Tâm Bồ Đề,
cho đến lúc tận sâu thẩm trong tâm hồn bừng lên niềm cảm hứngsâu xa với tâm quí
hiếm cao tột này. Muốn được vậy, không
chỉ thường nhớ nghĩ đến lợi ích của Tâm Bồ Đề, mà còn phải thường hành bốn pháp:
tích tập phước đức, trao dồi trí tuệ, cần cầu minh sư và tinh tấn tu tập.
Ngay giờ phút này là
cơ hội ngàn vàng cho ta phát TâmBồ Đề. Tuy nhiên không một ai chắc chắn cơ hội
này sẽ được tồn tại đến bao lâu. Một khi ta phung phí để thời giantrôi quavô
ích, chúng ta sẽ không còn bao giờ tìm thấy lại nữa. Nếu bị mất việc, mất cơ
hội kiếm tiền hay mất một người đẹp, người hấp dẫn nào đó, đó chưa thật sự đáng
tiếc, đó chưa phải là mất. Vì tìm kiếm những thứ đó không khó, chưa kể khi
chiếm hữu được rồi, chắc gì chúng đã đem đến cho ta hạnh phúc thật sự. Nhưng
một khi để vụt qua cơ hội này, không phát TâmBồ Đề, đó mới chính là điều thật đáng
tiếc vô cùngvô tận, chính đó mới là sự mất mát cực kỳ to lớn.
Được thân người là cơ
hội lớn nhất để phát huy cuộc sống tâm linh. Thân người chỉ là một tái sanh
trong bao nhiêu lần tái sanh của chúng tatừ vô lượng kiếp vừa qua. Nhưng thử
quan sát xem, xã hội ngày nay có mấy ai muốn sống đời sốngtâm linh. Trong số
những người ít oi đó, mấy ai được biết Phật Pháp. Quan sát như vậy mới nhận
thức được sự may mắn và hiếm hoi của chúng ta trong giờ phút này, đây là cơ hội
quí báu cho ta hướng đến niềm an vui tối thượng của Phật quả.
Bây giờ chúng ta bước
sang giai đoạn sau khi đã phát TâmBồ Đề rồi. Chúng taai nấy đều biết rằng,
hiện giờ Tâm Bồ Đề đã được phát và đã có ước nguyệnphổ độ tất cả chúng sanh,
mặc dù vậy nhưng ta chưa có khả năng biếnước mơ thành hiện thật. Ví như người đang
chết đuối làm sao cứu người khác, cho dù người chết đuối đó có tâm khao khát
muốn cứu người bao nhiêu chăng nửa. Như vậy, chỉ có người đã tự giải thoát mới có khả năng giúp đỡ người khác mà thôi.
Hãy tự hỏi xem, ai
mới là người có đủ năng lựcphổ độ chúng sanh. Chắc chắn người đó không ai khác
hơn là Phật. Chỉ có Phật mới hoàn toàn khỏi những lỗi lầm, vượt qua hết những
giới hạn, có đầy đủ trí huệ và phương tiệnviên mãntối thượng để tùy thuận
từng căn cơgiáo hóachúng sanh. Chỉ có Phật mới là bậc hoàn toàn đến bờ kia,
bờ giác ngộgiải thoát. Chỉ có Phật mới là người duy nhất đưa chúng sanh vượt
thoát biển khổ luân hồi.
Quán sát như vậy, Tâm
Bồ Đề sẽ bừng lên trong tâm thức, tự nhiên tâm sẽ phát nguyện: “Con xin nguyện
phổ độ chúng sanh, nhưng vì bản thân còn nhiều phiền nãogiới hạn, không sao
thực hành điều đó được. Chỉ có Phật quả mới đủ năng lực, nên con nguyện tu tậpchứng ngộPhật quả càng sớm càng tốt để phổ độ chúng sanh”. Quán chiếutâm
nguyện này nhiều lần cho đến lúc nguyện ước đó hiển hiệnrõ ràng trong tâm
thức.
Khi muốn một tách
trà, tức là tâm đầu tiên muốn uống trà, dĩ nhiên tự động phải khởi tâm thứ hai
là tìm cái tách trà. Cũng vậy tâm niệm đầu tiên là muốn giải thoát cho chúng
sanh, tất nhiên tâm thứ hai kèm theo, là phải thành tựuPhật quả. Vì nếu khôngthành tựuPhật quả, thì không thể giải thoát chúng sanh. Giống như không có
tách làm sao uống trà?
Thời gian đầu mới
phát tâm, tất nhiên tâm đó còn gượng ép, dễ bị lui sụt, thậm chí chỉ khi nào
nghĩ đến thì tâm mới phát, nếu không thì thôi. Thế nên cách tốt nhất để TâmBồ Đề
luôn hiển hiệnrõ ràng là thường xuyênhuân tậptâm giác ngộ đó.
Đa phần thời gian thường
ngày chúng ta không có công phu, nên hãy cố gắng tận dụng mọi cơ hội trong cuộc
sống để tập phát tâm. Làm sao những thời công phu và những lúc ngoài công phu hỗ
trợ lợi lạc cho nhau. Nếu không, chỉ những lúc ngồi xuống tu tập ta mới phát
tâm, mới hưởng những phút giây an lạc, nhưng khi rời thời khóa công phu rồi,
trở lại nguyên vẹn những đau khổhằng ngày do sân hận, tham trước và si mê gây
ra. Những phiền não đó chính là chướng ngại ngăn trở con đường tu tiến của chúng
ta. Mình phải học cách áp dụng việc tu vào những sinh hoạt thường ngày. Đạt được
như vậy, dù ngày hay đêm ta đều hưởng thụ trạng thái an vui hỷ lạc, duy trì sự
chú tâm mà trước đây chỉ có mỗi khi bắt đầu thời khóa công phu mà thôi.
Hiện tại có thể tâm
cảm chúng tatrong đời sống thường trái ngược với những lúc ta hành trì, thậm
chí có khi đã đi vào thời khóa rồi, nhưng vẫn không sao ngăn được những nhớ
nghĩ cứ tuôn trào ào ạt do những sinh hoạthằng ngày kéo đến, khiến ta không
sao giữ vững sự nhiếp tâm. Tất cả những thiện pháp lúc đó sẽ biến mất do cả
ngày bận rộn, thay vào đó là những mệt mỏi, căng thẳng và tâm tư phủ đầy những
tư tưởngloạn động.
Tuy nhiên, mọi khó khăn
đều có cách giải quyết. Chúng ta có thể vượt qua những ngăn ngại đó bằng cách chuyển
tất cả những sinh hoạt và kinh nghiệm phải
trãi qua hằng ngày sang chiều hướng tu tập. Hãy tạo một cách suy nghĩđặc biệt.
Những sinh hoạthằng
ngày như nấu nướng, làm việc, nói năng hoặc tịnh dưỡng nghỉ ngơi… đều không hẳn
chỉ là những việc mang tính thế gian. Chúng sẽ thế gian nếu ta làm với tâm thế
gian. Nhưng cũng những việc đó mà hành động với động lựctu tập thì chính những
việc thường ngày sẽ chuyển biến thành những pháp tu thanh tịnh.
Ví dụ, mỗi khi trao đổi
tiếp chuyện với bạn bè, chúng ta thường để cho bản ngãích kỷtự áichi phối,
thích nói những gì có sẵn trong đầu, không cần biết điều đó lợi ích hay không.
Nay thay vì như thế, tâm tư chuyển sang khuynh hướng khác, chỉ nói những lời
tốt đẹplợi lạc, khuyến khích khơi dậy những thiện tâm của người đối diện,
tránh tối đa những gì khiến cho người đau lòng hay tổn thương. Thay vì trước đây
chỉ lấy lòng người và nâng cao mình, thì nay nên tìm cách khuyến tấn, nhắc nhở
lẫn nhau tất cả chúng ta đây còn đang mắc kẹttrong vòngluân hồi, thiếu duyên
phước này. Với khuynh hướng đó, tiếp chuyện với bạn bè sẽ trở thành một pháp tu
để ta phát triển tình thương, lòng từ bi và nhận thức những giá trị khác trong
tinh thầnĐại thừa.
Nếu có thểchuyển đổi
tất cả những hành vitrong đời sống thành pháp tu như thế, thì mỗi khi vào thời
khóa công phu, tất nhiên sẽ không còn cảm giácmệt mỏi, căng thẳng nữa, mà sẽ
là một niềm cảm hứnghỷ lạcvô biên. Đó chính là lúc hành giả tiến sâu vào cảnh
giới của Định một cách mau chóng và dễ dàng nhất.
Tóm lại, phát triển
lòng từ bi là điều rất quan trọng và căn bản, đó là nhân chủng của Tâm Bồ Đề. Để
cho hạt giống này phát triển, cần phảithường xuyênkết hợpvun trồngphước đức,
diệt trừ tất cả những ác pháp và thường cầu nguyện sự hộ trìgia bị của tất cả
chư Phật và Bồ Tát. Có được tất cả những thiện duyên như thế, chắc chắn Tâm Bồ Đề
sẽ được phát huy đến mức viên mãn.
Pháp Bảo Tự Viện, Sydney.
Mừng Xuân Tân Mão 2011
Thích Nữ Giác Anh trích dịch.

























