Nói Lời Lợi Ích

0
138

NÓI LỜI LỢI ÍCH
Hoa Minh

noiloiloiich-contentnoiloiloiich-contentKinh
Pháp Cú
, kệ số 100, ghi lời Phật khuyên nhắc người xuất gia về ý nghĩalợi ích của lời nói: Dầu nói ngàn ngàn lời, Nhưng không gì lợi ích, Tốt hơn một câu nghĩa, Nghe xong, được tịnh lạc.

 Lời
Phật là bài học lớn về lời nói dành cho hàng xuất gia. Người xuất gia không cần phảinói nhiều nhưng cần phải nói lời lợi ích, phải nói những điều đưa đến tịnh lạc. Tịnh lạc cho mình và cho người khác. Tịnh lạc là sự vắng mặt tham, sân, si, vắng mặt các yếu tố gây phiền não khổ đau. Mục đíchtu học của người xuất gia là nhằm diệt trừ tham, sân, si – gốc rễ của mọi phiền não khổ đau – và hỗ trợ người khác khắc phục tham, sân,
si. Để thực hiện điều đó thì người xuất giacần phảichánh kiến (sammà-ditthi) và chánh tinh tấn (sammà-viriya), nghĩa là người xuất giacần phảixem xétcân nhắc cho thật kỹ mọi ý nghĩ, lời nói hay việc làm của mình sao cho một mặt, không để cho tham, sân, si có cơ hội sinh khởi
tăng trưởng; mặt khác, khiến cho tham, sân, si đi đến giảm thiểutiêu trừ. Làm được như thế thì mọi nỗ lực của người xuất gia mới có lợi ích, mới đưa đến tịnh lạc. Tịnh lạc không chỉ cho mình, mà còn cho người
khác nữa.

Nhưng
lời nói gì khiến tham, sân, si không có điều kiện dấy khởi và tăng trưởng, khiến cho cuộc sống được tịnh lạc? Theo lời Phật thì đó là không
nói những điều phù phiếmvô ích, xuất pháttừ tâmthất niệm vọng động, khiến cho các bất thiệnpháp nhưdục tâm, sân tâm, hại tâm có cơ hội sinh khởităng trưởng; chỉ tập trung nói những điều chính đánglợi ích, xuất phát từ chánh niệm, có khả năng loại trừ tâm tham dục, tâm
sân hận, tâm não hại; khuyến khích tâm vô tham, tâm vô sân, tâm bất hại. Kinh Tăng Chi Bộ thuật câu chuyện Phật khuyên nhắc người xuất gia nên chú tâm nói những gì và không nói những gì:

“Một
thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, rất nhiều Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thựctrở về, ngồi tụ họp tại hội trường. Các vị này đang chú tâm trong nhiều câu chuyệnphù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu
chuyện
về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về
anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu.

Rồi
Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền địnhđứng dậy, đi đến hội trường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, các Thầy nay ngồi hội họp ở đây nói chuyện về vấn đề gì? Câu chuyện gì đang được bàn đến giữa các Thầy?


Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất thựctrở về, chúng con ngồi hội họp tại hội trường, và chúng con đang chú tâm trong nhiều câu chuyệnphù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm… các câu chuyện về hữu và phi hữu.


Này các Tỷ-kheo, thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng xuất gia, từ bỏgia đình, sống không gia đình, lại có thể sống chú tâm trong nhiều câu chuyệnphù phiếm sai khác, như câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện
về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện
về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn,
câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển
lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu. Này các Tỷ- kheo, có mười đề tài
nói chuyện này. Thế nào là mười?

Câu
chuyện
về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.

Này
các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này. Này các Tỷ-kheo, nếu các
Thầy tiếp tục nói những câu chuyệnliên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng của mình đánh bạt ánh sáng
của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo”1.

Như
vậy, Đức Phật đã chỉ rõ một loạt các vấn đề “thế sự”, xem chúng là phù phiếm, không lợi ích, phi pháp, phi luật và khuyên người xuất gia không nên luận bàn. Đây là các đề tài thuộc lãnh vựcthế gian mà người xuất gia được khuyên không nên luận bàn, “không nên hành trì”2, vì theo
lời Phật, “chúng không đưa đến mục đích, không phải là căn bản của Phạm
hạnh
, không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”3. Chúng không phải là “hành xứ” (phạm vi nên bàn luận) của người xuất gia. Hơn thế, theo sự giảng giải của Tôn giả Sàriputta thì các bất thiện pháp sẽ có cơ hội tăng trưởng và các thiện pháp sẽ thối giảm, nếu tham giabàn luận chúng4. Nói cách khác, tham, sân, si – gốc rễ của thị phi, tranh chấp, xung đột, chiến tranh và khổ đau – sẽ dấy khởi và phát triển trong con người một khi các diễn biến của thời thế trở thành đề tài của việc ngồi lê đôi mách.

Đức
Phật
tránh cho các học trò mình khỏi mắc phải các sai lầm đáng tiếc do sự lôi cuốntế nhị của thời thế bằng cách tập cho họ một thói quensinh hoạthết sứccăn bản nhằm hạn chế tối đa các nguyên nhân “tán tâm tạp thoại” dẫn đến tranh luận, tranh chấp, cãi vã và xung đột, đôi khi bắt nguồn từ những chuyện không đâu vào đâu. Ngài khuyên các Tỷ-kheo không
nên mất thì giờ vào việc luận bàn các vấn đề thời thế như chính trị, kinh tế… Thay vào đó, Ngài khuyên họ nên chuyên tâm thực hành thiền định hoặc tập trung thảo luận Chánh pháp trong trường hợp gặp gỡ hay ngồi lại với nhau. Ngài nhấn mạnh: “Này các Tỷ-kheo, khi các ngươi hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: thảo luậnChánh pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh”5.

Thảo
luận
 Chánh pháp ở đây là đồng nghĩa vớichánh ngữ (sammà-vàcà) hay bàn luận những vấn đềliên hệ đến mục tiêu thoát khổ mà kinh Phật gọi là “những lời nóikhai tâm, đưa đến nhứt hướng yểm ly, ly tham,
đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như thiểu dục luận, tri túc luận, độc cư luận, bất chúng hội luận, tinh cần luận, giới luận,
định luận, tuệ luận, giải thoát luận, giải thoát tri kiến luận”6. Theo sự giải thích của Sàriputta thì đó là những lời nói chơn chánh, có ý nghĩa, thuộc Chánh pháp, thuộc về luật, thuận lý, có ích lợi mà nếu hành trì thì các thiện pháp sẽ tăng trưởng, các bất thiện pháp suy giảm7. Nói khác đi, vô tham, vô sân, vô si – nền tảng của giải thoátan lạc – sẽ sinh khởi và phát triển ở trong con người, nếu lời nóicâu chuyện của người ấy nằm trong khuôn khổ Chánh pháp hay lời Phật dạy.

Đức
Phật
là bậc Đạo sư rất cẩn trọng chu đáo trong việc hướng dẫn tâm thức các học trò mình thông qua các đề tài thảo luận. Ngài xem thế sự là vòng
thị phi, sinh diệtnhất thời, không thích hợp và cũng không đáng cho người xuất gia bận tâm bàn tán hay tranh luận. Ngài không muốn các học trò mình rơi vào ý tưởngmơ hồ, muốn “cải tạo xã hội” hay “chuyển hóa cuộc đời” trước khi phải làm điều ấy đối với chính mình. Dưới con mắt giác ngộ của Ngài, thế sựthăng trầm là chuyện không lạ và đã có quá nhiều người quan tâm. Nhưng hãy cứ để người khác quan tâm thời thế, còn Tỷ-kheo thì làm phận sự của mình. Bậc Đạo sư không muốn các học trò mình
bị cuốn vào vòng thị phi, dạy như thế này: “Dù người ta có bàn cãithế giới là có hay không, hữu hạn hay vô hạn thì cũng không giải quyết được nỗi khổ của sanh, già, bệnh, chết đang đè nặng lên kiếp người”8.

Chúng ta có thể nói rằng thói quen tránh bàn thế sự, chỉ thảo luậnChánh pháp hay giữ sự im lặng của bậc

Thánh
(tức hành thiền) là một đặc điểm của sinh hoạtTăng già thời Phật còn tại thế. Tập quán sống an tịnh, không lắm lời tạp thoại, là một nét đẹp tinh tế của đời sốngchư Tăng và được đánh giá rất cao9 bởi nó chỉ được
tìm thấy ở những con người đã đạt nội tâm tịnh lạc thực sự. Thông tin từ các truyền bản Pàli cho biết các du sĩ ngoại đạo dưới thời Phật tại thếthường haybàn tánthế sự và tranh cãi ồn ào mỗi khi ngồi lại với nhau, một thói quen khác hẳn với thái độ yêu mến an tịnh, không tán tâm tạp thoại của các đệ tử của Thế Tôn. Bởi vậy họ rất ngại và cảm thấybối
rối
xấu hổ cố bảo nhau giữ im lặng khi trông thấy Đức Phật hoặc các học
trò Ngài đến gần, vì theo lời họ thì “Sa-môn Gotama là người ưa mến an tịnh, tán thánan tịnh, giảng dạy về an tịnh10; các đệ tử của Sa-môn Gotama là những người ưa mến an tịnh, tán thánan tịnh, được tu tập về an tịnh”11.

 

Chú thích:

1. Kinh Những đề tài câu chuyện, Tăng Chi Bộ.

2. Kinh Nên hành trì, không nên hành trì, Trung Bộ.

3. Kinh Lời nói, Tương Ưng Bộ.

4. Kinh Nên hành trì, không nên hành trì, Trung Bộ.

5. Kinh Thánh cầu, Trung Bộ.

6. Kinh Đại không, Trung Bộ.

7. Kinh Nên hành trì, không nên hành trì, Trung Bộ.

8. Tiểu kinh Màlunkya, Trung Bộ.

9.
Xem lời tán thán hội chúng Tỷ-kheo của vua Ajàtasattu ở kinh Sa môn quả, Trường Bộ và sự nhận xétđánh giá của quốc vương Pasenadi ở kinh Pháp trang nghiêm, Trung Bộ.

10. Tiểu kinhThiện sanh Udàyi, Trung Bộ.

11. Kinh Samanamandika, Trung Bộ.

(HOA MINH | Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 146)