Mối quan hệ tu sĩ và cư sĩ

0
130
MỐI QUAN HỆ TU SĨCƯ SĨ 
Thích Nữ Chơn Ngọc

phat tuphat tuKhông phải đến thời điểm hiện tại mối quan hệ của tu sĩcư sĩ mới được thiết lập mà mối quan hệ này đã được hình thành trước khi đức Phậtthành đạo và rải dài suốt chiều dài lịch sử từ khi có đạo Phậthiện diện trên thế gian. Từ việc nhìn thấy bóng dáng vị tu sĩ oai nghiêm dẫn đến quyết địnhxuất gia của Thái tử Siddthar, cho đến việc thí chủ Dona chủ trì phân chia Xá- lợi Phật sau lễ trà tỳ của đức Thế Tôn đã minh định rằng: người tu sĩ và người cư sĩ có những mối quan hệ không chỉ dừng lại ở đời sốngtinh thần mà còn trong đời sống vật chất. Hệ thốngkinh điểnPhật giáo trong cả hai truyền thống Nam truyền và Bắc truyền đều ghi nhận rất nhiều những quan hệ giữa người tu sĩcư sĩ. Cả cư sĩchư tăng đều là đệ tử Phật, chỉ khác chăng là dung nghi, hoàn cảnh sống, mức độ tu tập, giới pháphành trì và khả năng tâm linh. Cả hai chúng đệ tử này có sự liên hệ, hỗ trợ với nhau chặt chẽ. Sự tăng trưởng hoặc ngược lại
của bộ phận này đều có sự tác động, ảnh hưởng đến bộ phận kia; xét về mức độ sâu xa thì đôi khi còn ảnh hưởng tới sự phát triển hay suy vong của Phật giáo.

1. KHÁI NIỆM VỀ TU SĨCƯ SĨ

1.1. Tu sĩ

Tu sĩPhật giáo là người từ bỏnếp sốngthế tục, nên còn gọi là người xuất gia, khép mình trong nếp sốngđạo đứchành trì theo pháp môn đã được đức Phật thuyết định. Hình bóng chư tăng thời đức Phật cũng như hiện nay là sự hiện hữu của Phật pháp đến với hàng cư sĩ nói riêng và mọi người nói chung. Hình bóng tu sĩPhật giáo hình thành Tam bảo sau khi đức Phậtthành đạo đó là năm anh em Kiều Trần Như qua bài kinhChuyển Pháp Luân [1], thuyết tại vườn Lộc Uyển. Đức Phật khuyên hàng Tỳ kheo không nên thực hành theo hai cực đoan đắm say trong các dục và tự hành khổ mình, mà phải đi theocon đường Trung đạo, tức con đườngThánh đạo tám ngành (chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệmchính định) [2]. Trong Phật giáo Bắc truyền, trước khi xuất gia, vị Hoà thượng sẽ xướng rằng: “Thiện tai, Thiện nam tử! Năng liễu thế vô thường. Khí tục thế Nê-hoàn. Công đứcnan tư nghì” [3]. Và sau khi cắt trên đầu ba lát tóc thì đọc bài kệ “Huỷ hình thủ chí tiết. Cát ái từ sở thân. Xuất gia hoằng thánh đạo. Thệ độ nhất thiết nhân.”

1.2. Cư sĩ

Trong kinh Tăng Chi bộ, chương Tám pháp, phẩm Gia chủ, kinh Thích tử Mahànàma, đức Phật nói với Mahànàma rằng: “Này Mahànàma, khi nào quy y Phật, quy y Pháp, quy ychúng Tăng, cho đến như vậy, này Mahànàma, là người nam cư sĩ” [4]. Theo kinh Tương Ưng bộ, tập V (Đại phẩm), chương 11 (Tương ưngdự lưu), phẩm Phước đứcsung mãn, kinh Mahanama (số 37), đức Phậttrả lời cho họ Thích Mahànàma rằng: “Ai quy y Phật, này Mahànàma, quy y Pháp, quy ychúng Tăng. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ”. Đức Phật dạy rằng Mahànàma về người cư sĩ cần đầy đủ: Giới (năm giới), Tín (Phật), Thí (rộng mở và lìa xan tham), Tuệ (tuệ sinh diệt, tuệ các bậc Thánh thể nhập, đoạn tận khổ đau). Sau khi phát nguyệnquy y Tam bảotrở thành người cư sĩ, tiếp theo để hoàn thiệnđạo đức tự thân cần phảithọ trìnăm giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ và không uống rượu) và tu học các thiện pháp.

1.3. Tứ chúng

Tứ chúng gồm Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc (nam cư sĩ) và Ưu bà di (nữ cư sĩ). Đức Phật nói với A Nan về việc Ác ma thỉnh Ngài nhập Niết bàn và Ngài sẽ không nhập diệt nếu những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ “chưa thành những đệ tửchân chính, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trìChính pháp, thành tựuChính phápTùy pháp, sống chân chính, sống theo Chính pháp, sau khi học hỏigiáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thíchrõ ràngChính pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền báChính pháp thần diệu” [5] .

Tu sĩcư sĩ, gọi tắt là tứ chúng là những người sẽ thay Phật hoằng truyền chính pháp đến khắp mọi người. Mỗi người sẽ có trách nhiệm và bổn phận trong đời sống tu học tự thân và gắn kết nhau trong việc hoằng truyền chính pháplợi lạcnhân thiên thời đức Phật còn tại thế cũng như hiện nay. Hơn hết, chư tăng là người giữ vững chính pháp nhãn tạng, là sứ giả của Như Laitruyền thông điệp tu tập đến với mọi người, xây dựngđạo đức tự thân, nếp sốngthiền môn
đạo lộ giải thoát trong mai sau.

2. QUAN HỆ TU SĨCƯ SĨ

2.1. Chân chínhbình đẳng

Trong tất cả các mối quan hệ thì quan hệ tu sĩcư sĩ có điểm đặc biệt là có sự chân chínhbình đẳng. Vì sao nói như vậy đơn giản dễ nhận thấy là trong sinh hoạthằng ngày các vị tu sĩ đều truyền trao giáo lý đến với các vị nam nữcư sĩ trong quá trình học luôn đề cao tinh thần bình đẳngvị tha, không phân biệt đối xử với nhau là người giàu kẻ nghèo, hay người tri thức và kẻ thiểu năng, mà một lòng cùng nhau chia sẻ giáo phápPhật đà đến với mọi người, cùng nhau xây dựng nền đạo đức, thông qua các việc mở các hệ thống lớp học cư sĩ, hay truyền giới, thọ bát quan trai, mục đích là đến với niềm vui an lạc để tu tậpgiải thoát, cùng nhau thực hành các việc làmchân chính tuyên truyền, vận độngtham gia các việc làm mang tính chất không gây đau khổ đến ai, bởi vì khi đức Phật còn tại thế Ngài có dạy: “các vị là Phật sẽ thành, ta là Phật đã thành”[6] mọi người mọi loài đều tu tập và đều có thể chứng quảthành Phật.

Chính vì điều này làm rõ hơn tinh thần bình đẳng và sự thực hành phápchân chính, mà không một tôn giáo nào có thể vượt qua. Ngài cũng nhấn mạnh các vị Tỳ kheo: “này các Tỳ kheo, Tỳ kheo ấy do kiến được đặt hướng chân chính, do con đường tu tập được đặt hướng chân chính, nên đâm thủng vô minh, minh được sinh khởi, chứng được Niết-bàn” [7]. Qua đó, chúng ta có thể nhận định lại rằng tôn giáo của đạo Phật là một tôn giáochân chính, bình đẳngthể hiện qua mối quan hệ tu sĩcư sĩ, nơi giao thoa với nhau để mang lại nền hòa bình cho xã hộimọi người, nâng cao nền giáo dụcđạo đứcPhật học và thấy rõ nền đạo lý có sự hỗ tương giữa hai thân phận.

2.2. Giáo dụcgiảng pháp

Nền giáo dục trong hệ thốngPhật học mang tính toàn cầu hóa đất nước, là nơi phổ thôngliên kết các nước để chạm tới sự nhất quán, nơi đây là điểm hẹn cho các tầng lớp xã hộitham gia vào các phật sự cùng các vị tu sĩ trên danh nghĩachính thứchợp tác, và cũng chính là đối tác để cùng tham gia vào các công cuộc đóng góp cho kho tàng tri kiến. Tại nơi đây, các vị đứng đầu trong hệ thốngPhật học mở ra các trường, lớp, hay các trang mạng online giảng dạy giáo lý trong và ngoài nước, lan truyền các bài học về các pháp hành, hay các trung tâmphiên dịch như: Trung tâmphiên dịchHuệ Quang, Hán Nôm, Học Viện các thành phố lớn để đào tạo ra tăng tài dấn thân vào phụng sự, hoằng pháplợi sinh, giảng dạy, thuyết pháp về tam tạng kinh điển, ứng dụngđời sốngthực tại, giải quyết các nhu cầu khổ đau của các cư sĩ, hướng dẫn thực tậpthiền quán, mở các đạo tràng, khóa tu nhằm nâng caogiáo lý cho các cư sĩ, ngược lại các vị cư sĩ mang tinh thần hoằng hóa giáo lýchuyên tâmtu tập để ngoại hộthiện tri thức, hộ trìchính pháp, tạo nên mối tương quan với các vị
tu sĩ. Và chính đức Phật cũng đã dạy mỗi người đi một hướng để giáo hóa chớ đừng hai người đi cùng một hướng.

2.3. Cúng dườngtừ thiện

Cúng dường là một trong những cách thức thể nghiệm tâm buông xả. Hơn nữa, đã là một người đệ tử Phật, thì phải có trách nhiệm đến sự suy vong hay phát triển của đạo pháp. Sự hiện hữu của người xuất gia là sự hiện hữu của Tam bảo. Góp duyên để người xuất giahoàn thànhsứ mạngthiêng liêngđồng nghĩa vớihạnh nguyệnhộ pháp. Đây chính là phương diệntích cực trong trách vụ hỗ trợ người xuất gia. Khi cúng dường với tâm hoan hỷ, thì dù cúng phẩm vật nhỏ nhoi nhưng vẫn cóý nghĩa lớn. Và hơn thế, đức Phật sẽ không nói lời tùy hỷ với các thí chủ, dù đó là nhà vua, nếu như không có tâm cung kính và sự gia tâm. Nhận thức đúng về các điều này là những định hướng quan trọng cho người cư sĩ, trong thiện hạnhyểm trợ người xuất gia.

Việc hộ pháp cho người xuất gia thì không nên giới hạn ở một vị tu sĩ thầy Bổn sư truyền giới hay dựa vào sự thân quen, vì Tăng già là một đoàn thể sống thanh tịnhhoà hợp. Câu chuyện Gotami cúng y cho đức Phật và được Phật bảo bà rằng: “Này Gotami, hãy cúng dườngtăng chúng. Bà cúng dườngtăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả tăng chúng cũng vậy” [8]. Thông qua lời dạy của Ngài, con ngườiphụng sựcon người, mang lại lợi lạchạnh phúc cho nhân giancúng dườngquý báu nhất đối với ngài. Ở đây, theo kinh Bổn phận người gia chủđức Phật dạy rằng, người cư sĩ nếu đủ phước, đủ duyên thì nên hộ trì các bậc xuất giaphạm hạnh về các nhu cầu sống thiết yếu, trên cơ sở của tự nguyện và tùy duyên.

2.4. Thiện xảo trong xử lý những sai lầm

Tỳ kheoXa Nặc (Chana) náo loạn chê bai các vị đại đệ tử và ỷ mình có công với Phật nên sau khi đức Phậtnhập diệt, theo lời di huấn của Phật, Tăng già đã tác pháp mặc tẫn (Brahmadanda) Xa Nặc. Cư sĩ là những vị tích cực đóng góp ý kiến cho tu sĩhoàn thiệnđạo đứcgiới luật trên tinh thầnhộ pháp như vua Tần Bà Sa La, vua Ba Tư Nặc… Tu sĩcư sĩ tương tác nhau, nhưng không nên can thiệp quá sâu đời sốngtu sĩ. Nếu cúng dườngchư Tăng với tâm hoan hỷ thì dù vật phẩm nhỏ vẫn cóý nghĩa lớn như bà già nghèo cúng bát cháo hôi thiu cho Tôn giả Ca Diếp. Và hơn thế, đức Phật sẽ không nói lời tuỳ hỷ với các thí chủ, dù đó là bậc vua chúa quyền quý, nếu như việc cúng dường không có sự cung kínhgia tâm: “Thức ăn tốt nhất là thức ăn được cho với tình yêu thương. Vì thiếu những người tạo mối thân tình bằng cách bố thí với niềm yêu thương nên các Tỳ kheo đã lấy thức ăn ở đó và mang đến ăn tại các nhà thân hữu của họ. Tâu Đại vương, không có vị ngọt nào bằng vị ngọt của tình thương. Thứ gì được cho mà không tình thương thì dù nó gồm bốn thứ ngon ngọt cũng không xứng bằng gạo rừng được cho với tình thương” [9].

Sự tương tác hài hoà của chúng xuất giatại gia sẽ tạo thành sức mạnh đoàn thể Tăng già lúc bấy giờ và mai sau. Dù đệ tửxuất gia hay tại gia, giàu hay nghèo, vua chúa hay dân thường… luôn an trú trong chính pháp, như lý tác ý với tất cả mọi việc, khắc phục những sai lầm, thực tậpquán chiếu, hiện pháp lạc trú để an lạc tự thân và phát triển xã hộithanh bình.

3. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI CƯ SĨ

3.1. Trách nhiệm trong gia đìnhxã hội

Kinh Thiện Sinh (kinh Trường A Hàm 16) hoặc kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt (kinh Trường Bộ 31), đức Phật dạy chàng thanh niên Sigala (Thi Ca La Việt) về những bổn phận của người cư sĩ như bổn phận cha mẹ và con cái, thầy và trò, chồng và vợ, bạn bè (bà con), chủ (quản lý) và tớ (nhân viên), tu sĩcư sĩ . Đức Phật nói với vua Pasenadi nước Kosala về một vị chân nhâncư sĩthọ hưởng không đưa đến tổn giảm bằng việc: “có được tài sản lớn, đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, đem lại an lạc cho người phục vụ, cho người làm công, đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu; đối với các vị Sa môn, Bà La Môn, thiết trí các sự cúng dườnghướng thượng, có khả năng thăng lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến Thiên giới”. Trong đời sống sinh hoạt ngoài xã hội, người cư sĩ làm ra tài vật phải đúng pháp.

3.2. Hộ trì người xuất gia

Chân chính hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn! Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tửThế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điềnvô thượng ở đời giới được bậc Thánh ái kính, không có bể vụn, không bị sứt mẻ, không tì vết, không ô nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, làm cho an lạc, hướng đến Thiền định. Chư tăngruộng phước, đáng được cung kínhcúng dường ở đời. Chính vì thế, đức Phật khuyên người cư sĩ nếu đủ duyên thì nên hộ trì các vị xuất giađạo hạnh: “Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tửhộ trì chúng Tỳ kheo, hộ trì chúng Tỳ
kheo với y, hộ trì chúng Tỳ kheo với đồ ăn khất thực, hộ trì chúng Tỳ kheo với sàng tọa, hộ trì chúng Tỳ kheo với dược phẩm trị bệnh”. Đức Phật đã tán thán việc hỗ trợ không giantu tập, ngoài việc cúng dườngtịnh xá hay giảng đườngtu tập, tuỳ theo khả năng mà người cư sĩ có thể cúng dường hỗ trợ điều kiện sống cho người tu sĩ trên cơ sở tự nguyện và tuỳ duyên như y tế, phương tiện đi lại, và các điều kiệnsinh hoạt của người xuất.

Kinh Tăng Chi bộ III có đề cập rằng: “Ở đây, này Kimbila, khi Như Lainhập diệt, các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính, tùy thuận bậc Đạo Sư, sống cung kínhtùy thuận Pháp; sống cung kínhtùy thuậnchúng Tăng; sống cung kínhtùy thuận học pháp; sống cung kínhtùy thuậnThiền định; sống cung kínhtùy thuận không phóng dật; sống cung kínhtùy thuận nghinh đón. Này Kimbila, đây là nhân, đây là duyên, khi Như Lainhập diệt, diệu pháp được tồn tại lâu dài” [10]. Bản thân người cư sĩ phải nhận thức được vai tròtrách nhiệm của mình trong việc hộ trì Tam Bảo cũng như thừa tự pháp, để giúp cho giáo pháp được trường tồn. Trong vấn đềhộ trì đó, có nhiều khía cạnh mà người cư sĩ cần ghi nhớ: Ngoài việc hộ trì Phật bảo, Pháp bảo thì Tăng bảo cũng là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của hàng đệ tửtại gia và cần được hộ trì:

a. Niềm tinvững chắc nơi tăng chúng.
b. Thường xuyên hộ độ cúng dường đến chư tăng.
c. Bảo vệuy tínthanh danh cho tăng chúng.
d. Kính trọng và nhu thuận

3.3. Một số gương mẫucư sĩtiêu biểu

a. Quốc vươngBình Sa: cúng dườngtinh xáTrúc Lâm (Veluvana).
b. Trưởng giả Anàthapindika (Cấp Cô Độc): cúng dườngtinh xáKỳ viên.
c. Tín nữ Visakha: cúng dườngLộc mẫu giảng đường (Migaramatu).
d. Kỹ nữ Ambapali: cúng dường vườn xoài, làm nơi trú ngụ tứ phương tang.
e. Cư sĩ Jivaka: chữa bệnh đầy hơi, khó tiêu cho đức Phật.
f. Cư sĩ Sankha cúng giày cho đức Phậtchúng tăng khi đi lại những vùng khó khăn tại Kỳ Viên tinh xá.
h. Nữ cư sĩ Matikamata dù đã chứng đắcthánh quảA Na Hàm nhưng vẫn phát tâmcúng dường cho 60 vị tăng (thể trạng, tâm tư, điều kiệnvật chất) trong mùa an cư. Kết thúcmùa an cư, 60 vị đều chứng quảA La Hán.
e. Việt Nam: Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Tâm Minh Lê Đình Thám, Chánh Trí Mai Thọ Truyền.

Cư sĩ đến với chùa là tinh thần tự nguyện, đem công đức của mình cùng với tu sĩtham gia các phật sự, đồng tâm hiệp lực tạo ra sức mạnh đồng bộ, góp phần phụng sự đạo giúp đời theo phương hướnghoạt động của Giáo hội Phật giáo ngày càng hưng thịnh và phát triển.

KẾT LUẬN

Tu sĩcư sĩ chính là những người con ưu tú của đức Phật, nếu cả hai trang nghiêm tự thân, tu tập chuẩn mực và hoàn thành những trách vụ đã được phân định, luôn tương kính nhau bằng con mắt tuệ thì ngọn đènsinh mệnhchính pháp luôn được duy trì và thắp sáng mãi muôn nơi, đem lại lợi lạc đến khắp cả nhân sinh. Bằng sự nỗ lựchoằng pháphộ trìChính pháp của cả hai giới: xuất giatại gia nhằm kế thừasự nghiệp mà Chư Phật, chư Tổ đã dày công tạo lập. Tăng, ni và phật tử ngày nay cần xác định rõ mục đích của đạo Phậtđi vào đời cứu khổ ban vui với phương châm: “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sinh vi bổn hoài”. Mỗi chúng ta hãy cùng nhau góp từng viên gạch nhỏ vững chắc góp phần xây dựng nên tòa nhà Chính pháp của đức Như Lai ngày càng được kiên cố hơn. Mỗi chúng ta phải tự thân làm gương mẫu, luôn trau dồi giáo lý và phẩm hạnh, điều này rất cần thiết trong quá trình đưa đến quả xuất thế. Chính tác phong, đạo đức của tu sĩ và hàng phật tử chính là nền tảng cho một gia đình, xã hộitốt đẹp, là tấm gương cho các thân hữu hoặc những người chưa hiểu đạo phát tâmtu tập theo đạo Phật, làm cho đời sống ngày càng thăng hoa, hạnh phúc. Đặt trên nền tảng các mối quan hệ hỗ tương và cùng nhau phát triển, sự gắn kết giữa hàng tu sĩ và giới cư sĩ sẽ vững chắc trong tinh thầntừ bitrí tuệ. Trong bối cảnh đang và sẽ có nhiều tôn giáo cùng vận hành trong xã hội, tu sĩcư sĩ Phật giáo nên trang bị nhiều hơn về kiến thức và kỹ năng trong việc tu học, nhất là nghiêm túc thực hành đúng theo những gì đức Thế Tôn đã dạy nhằm kiến tạođời sống vững mạnh về tâm hồn lẫn thể chất. Phật giáo, chắc chắn sẽ không thể tồn tại đúng nghĩa nếu mối quan hệ song hành này bị phá vỡ do hành động thiếu hiểu biết hoặc hiểu sai lời dạy của Như Lai.

Thích Nữ Chơn Ngọc
(Tạp chí Nghiên cứu cứu Phật học số tháng 3/2021)

_____________________

TÀI LIỆUTHAM KHẢO:
1. Kinh Tương ưng bộ II, tập IV (Thiên sáu xứ), Thích Minh Châu (dịch), NXB Tôn giáo, HN, 2018, tr 783.
2. Kinh Tương ưng bộ II, Sđd, tr. 783.
3. Thích Thiện Hoà, Giới đàn tăng, NXB Tôn giáo, HN, 2016, tr. 249.
4. ĐTKVN, Kinh Tăng chi bộ I, chương Tám pháp, phẩm Gia chủ, kinh Thích tử Mahànàma, Thích Minh Châu (dịch), NXB Tôn giáo, HN, 2018, tr 340.
5. Kinh Trường bộ 1, kinh Đại Bát Niết Bàn (số 16), Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn giáo, HN, 2018, tr. 300.
6. Thích Tịnh Hạnh, “Đại Tập 145, Bộ Luật Sớ III, số 1809- 1815, Hội Văn Hoá Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000, tr. 614.
7. Kinh Tương Ưng V, Đại Phẩm, Chương Tương Ưng Đạo, Phẩm Vô minh, sđd, tr. 23.
8. ĐTKVN, Kinh Trung bộ (quyển 3, 13 quyển), kinh Phân biệt cúng dường, NXB Tôn giáo, HN, 2018, tr. 595.
9. Kinh Tiểu bộ (q11, 13q), Chuyện tiền thân 346, chuyện đạo sĩ Kesava, tr. 413.
10. Kinh Tăng Chi Bộ III, Chương Bảy pháp, Phẩm Không Tuyên Bố, sđd, tr. 395.