Chúc Phú
Có những biện giải Phật học mà đôi khi ý nghĩa thực
tiển vượt thoát khỏi cái võ ngôn từ. Đó là khi hiện thực nương gá vào sự biện
giải đó bị biến dạng theo lịch sử, thời gian. Gần gũi hơn, có những phạm trù,
khái niệm mà khi vận dụng, ta vô tình quên mất nghĩa gốc ban đầu của chúng. Vấn
dề Phật sự là một trường hợp như vậy.
1. Phật sự theo
nghĩa lịch sử
Phật sự (Buddha-kārya) là việc của Phật. Việc của một
đấng giác ngộ hoàn toàn và đem sự giác ngộ đó chuyển hóa chúng sanh. Ở tầng nghĩa
nguyên thủy, việc của Phật chỉ tập trung chủ yếu vào mỗi một việc là chuyển hóa
và độ thoát chúng sanh. Nói cách khác, độ
chúng sanh, làm cho chúng sanh giác ngộ là Phật sự.
Đọc lại lịch sử Đức Phật, theo Maha Thera Narada trong
Đức Phật và Phật Pháp, có thể thấy
một ngày của Đức Phật bắt đầu từ khi tảng sáng, khi ấy Phật dùng thiên nhãn để quán
sát thế gian, xem có ai cần để Ngài tế độ. Nếu thấy có người cần hỗ trợ thì
không đợi họ thỉnh cầu, Ngài tự ý đến để dẫn dắt người ấy. Sau khi thọ thực
xong, Ngài thuyết một bài pháp ngắn. Khi đã trưa, Đức Phật lui về hương thất.
Nếu muốn, Ngài nằm nghiêng bên mặt và định thần một lát. Lúc dậy, Ngài nhập Đại
Bi Định (Maha Karuna Samapatti) và dùng Phật nhãn quan sát các vị tỳ kheo hành
thiền nơi rừng sâu vắng vẻ hoặc các vị đệ tử khác ở xa, để hướng dẫn và khuyên
dạy các vị ấy. Vào buổi chiều, thiện tín kéo đến nghe Pháp. Do Phật nhãn, Ngài
nhìn vào khuynh hướng tâm tánh của từng người trong cử tọa để thuyết Pháp độ
một giờ. Từ sáu giờ chiều đến mười giờ đêm là khoảng Đức Phật dành riêng để các
vị tỳ kheo được tự do thỉnh cầu nhằm soi sáng những hoài nghi về giáo pháp, xin
đề mục hành thiền. Từ mười giờ đến hai giờ khuya, chư Thiên từ các cõi Trời,
đến hầu Phật và hỏi Ngài về giáo pháp. Canh cuối cùng trong đêm, từ hai giờ
khuya đến sáu giờ sáng, được chia làm bốn phần. Trong phần đầu, từ hai đến ba
giờ, Đức Phật đi kinh hành (cankamana). Từ ba đến bốn giờ, Ngài nằm định thần,
nghiêng về phía tay mặt. Từ bốn đến năm giờ, Ngài nhập Đại Bi Định (Maha Karunasamapatti),
và rải tâm Từ đến khắp nơi.
Có thể nói, trọn cả ngày, Đức Phật luôn bận rộn với
nhiệm vụ hóa độ cho tha nhân. Thuyết giảng cho chư Thiên, giảng dạy chúng xuất
gia, thuyết giảng cho chúng tại gia và tùy cơ nghi hóa độ bất cứ ai cần ngài,
không phân biệt thời gian và trú xứ. Ngài đơn giản hóa đến mức có thể về vấn đề
chổ ở, thức ăn, nhằm dành tất cả thời gian còn lại của đời mình vào bản thệ hóa
độ chúng sanh. Như vậy, Phật sự được hiểu ở đây chính là sự nghiệp hóa độ vĩ
đại của Đức Phật. Ở tầng nghĩa này, chúng ta chỉ là người đứng rất xa và còn
rất lâu mới với tới.
2. Phật sự theo
nghĩa phái sinh hay là hai loại Phật sự
Như đã nói, việc của Phật thì chỉ có Phật hiểu và chỉ
có Phật mới làm được. Kinh Pháp Hoa đã khẳng định điều này[i].
Nếu việc Phật được hiểu trong khuôn
khổ giới hạn như vậy là một thiệt thòi lớn cho chúng sanh, vì chúng sanh còn
rất lâu mới thành Phật. Hơn đâu hết, trong nhiều kinh điển, Đức Phật đã từng
tán thán khả năng thành Phật ở mỗi chúng sanh[ii]. Sau
khi đức Thế Tôn diệt độ, cùng với quá
trình phát triển của các tông phái Phật giáo, quy mô, thể thức cũng như phạm vi
lan tỏa của Phật giáo ngày càng được mở rộng. Từ đây, khái niệm Phật sự từng
bước mở rộng phạm vi của mình.
Ở một chừng nào
đó có thể hiểu, đi theo con đường của Phật, noi theo công hạnh của Phật, để
cuối cùng được kết quả như Phật…thì được xem là đang làm việc Phật. Phàm các việc làm
nhằm phát huy đức của Phật thì gọi là Phật sự[iii]. Như
vậy, ở nghĩa phái sinh này, Phật sự được thể hiện rất bao quát ở nhiều dạng, nhưng
tựu trung, có thể khái quát khái niệm Phật sự ở nghĩa phái sinh bao hàm hai hình
thức: Nỗ lực tu tập cho bản thân và công
hạnh hóa độ tha nhân.
Trong hai dạng Phật sự nêu trên, dạng thứ nhất là điều
quan thiết, chính yếu. Vì lẽ, nỗ lực để được như Phật là cả một quá trình,
không phải chỉ một ngày, một đời, một kiếp mà có thể xuyên qua vô số kiếp. Trên
năm trăm chuyện tiền thân của Đức Phật được ghi lại trong các tập Jataka đã
chứng tỏ rằng, trước khi thành Phật, ngài đã kinh qua vô số kiếp sống và đã
thực hành nhiều hạnh nguyện khác nhau. Do đó, đã là người xuất gia thì phải nỗ
lực: “Hãy đứng dậy, ngồi dậy, Hãy kiên trì học tập, Đạt cho được an tịnh,
Đừng để cho thần chết, Biết Ông là phóng dật, Mê hoặc, chinh phục Ông”[iv]. Nói rõ hơn, hàng đệ tử Phật, đã đi theo con đường của
Phật thì phải nỗ lực tu tập và tự chuyển hóa, dù ở đâu và trong bất cứ hoàn
cảnh nào. Nếu thực hiện được như vậy, tức là thực hiện được phương diện thứ
nhất của nghĩa Phật sự.
Ở tầng nghĩa thứ hai, tức xem việc hóa độ chúng sanh
là Phật sự. Điều này, được khẳng định rõ ràng và mạnh mẽ nhất ở Kinh Hoa
Nghiêm: “Phụng sự chúng sanh tức cúng
dường chư Phật”[v].
Và như vậy, với lý tưởng Bồ tát của giáo nghĩa đại thừa, ý nghĩa Phật sự đã
được mở rộng lên một tầm mức mới. Vì lẽ, lý tưởng độ thoát chúng sanh, độ tận,
không mệt mõi, sẳn sàng vận dụng vô vàn phương tiện, vô vàn hình thức, miễn sao
làm cho chúng sanh chuyển mê khai ngộ, lìa khổ, được vui… thì người theo lý
tưởng Bồ tát sẳn sàng làm. Ở đây, chúng ta có thể thấy lý tưởng độ chúng sanh
được khởi dậy mạnh mẽ, thể hiện qua sự phát nguyện của ngài A Nan, được ghi lại
trong thời công phu sáng như: Con phủ
phục thỉnh cầu, đức Thế Tôn từ bi, mà chứng minh cho con: trong thời kỳ dữ dội,
đầy năm thứ vẫn đục, con nguyện vào đó trước, nếu còn một chúng sanh, chưa được
thành Phật đà, không bao giờ với họ, con bỏ mà Niết bàn”[vi]. Trong
hành hoạt của các vị đại Bồ tát gắn với đời sống và niềm tin trong nhân gian
như Quán Thế Âm Bồ tát, Địa Tạng Bồ tát, ta dễ dàng bắt gặp sự phát nguyện
tương tự. Không những vậy, tâm nguyện độ sanh không chỉ xuất hiện và dành riêng
cho các vị đại Bồ tát, mà còn được thể hiện ở bất cứ ai mạnh mẽ phát tâm, không
chỉ dừng lại ở một đời này mà còn được thể hiện trong những đời sống tiếp theo.
Nói như ngài Thật Hiền: “Tôi đi là trở
lại liền”[vii]. Trở
lại cõi đời này để tiếp tục sứ mạng độ sanh. Một câu nói ngắn nhưng hàm nghĩa cho
lý tưởng độ sanh chất ngất, vô biên. Nói cách khác, trong lý tưởng của hàng Bồ
tát, từ sơ phát tâm cho đến khi thành tựu trọn vẹn, sứ mạng độ thoát chúng sanh
luôn là nổi khắc khoải khôn nguôi, là bản hoài khi hóa hiện trên cuộc đời này.
Và cũng do bởi yếu tính này, nghĩa của Phật sự trong giáo nghĩa đại thừa ngày
càng được mở rộng hơn bao giờ hết.

Trong thời đại ngày nay, Phật sự ở nghĩa này dường như
bao quát hầu hết mọi việc làm của người xuất gia như: từ thiện – cứu tế, ứng
phó đạo tràng, kiến thiết già lam, tự viện, giảng dạy cho chúng xuất gia và tại
gia…cùng như nhiều việc vô danh khác. Kinh Duy Ma đã mở rộng nội hàm khái niệm Phật
sự như sau: “Có thế giới lấy ánh sáng của Phật mà làm việc Phật. Có thế giới
lấy bồ tát mà làm việc Phật. Có thế giới lấy người Phật hóa ra mà làm việc
Phật. Có thế giới lấy cây bồ đề mà làm việc Phật. Có thế giới lấy y phục hay đồ
nằm của Phật mà làm việc Phật. Có thế giới lấy cơm ăn mà làm việc Phật. Có thế
giới lấy vườn rừng lầu đài mà làm việc Phật. Có thế giới lấy ba mươi hai tướng
tốt và tám mươi vẻ đẹp mà làm việc Phật. Có thế giới lấy thân Phật mà làm việc
Phật. Có thế giới lấy sự trống không mà làm việc Phật. Chúng sinh thích ứng với
những duyên tố trên đây mà được vào chánh pháp. Có thế giới lấy chiêm bao, ảo
thuật, hình ảnh, tiếng vang, bóng trong gương, trăng dưới nước, sóng nắng,
những sự ví dụ như vậy mà làm việc Phật. Có thế giới lấy âm thanh ngôn ngữ văn
tự mà làm việc Phật. Có thế giới trong sạch lấy sự vắng lặng, không nói năng,
không chỉ bảo và không thi vi mà làm việc Phật. Như thế ấy, A nan, chư Phật cử
động tới ngừng, mọi việc toàn là việc Phật. A nan, ma quân có bốn loại, phiền
não có tám mươi bốn ngàn thứ, chúng sinh vì thế mà khốn đốn, còn chư Phật thì
lấy chính những thứ ấy mà làm việc Phật”[viii].
Tựu trung, có thể xem diệu dụng pháp Phật là Phật sự.
3. Điều kiện để làm Phật sự
Trong hai nghĩa
phái sinh của khái niệm Phật sự vừa được trình bày, làm Phật sự ở nghĩa chuyển
hóa bản thân hay tự tu, tự độ đòi hỏi những điều kiện rõ ràng và đơn giản. Vì
trong quá trình tự tu tập, tự chuyển hóa đó, đã bao hàm những yêu cầu bắt buộc
của từng gian đoạn hành trì rồi. Nói rõ hơn, làm Phật sự ở nghĩa này rất an ổn,
bình yên và luôn được vinh danh, tán thán.
Do yếu tính uẩn áo, hàm súc của khái niệm Phật sự được
mở rộng từ cơ sở triết lý của giáo nghĩa đại thừa, làm Phật sự ở nghĩa phái
sinh thứ hai được thể hiện trong tính hiện thực sinh động, nhưng đồng thời cũng
bộc lộ ra những bất cập, nhưng khiên cưỡng, vì đôi khi có những sự lồng ghép,
quá sức và thậm chí là nhân danh. Do đó, khi thực thi Phật sự ở nghĩa này, đòi
hỏi người thực hành cần phải kiện toàn một vài tố chất căn bản.
Thứ nhất, cần phải phải hiểu rõ bản thân, phải có sức
mạnh và chí khí lớn. Hiểu rõ năng lực cũng như hạn chế của mình. Nhận thức rõ
đâu là chỗ mạnh đâu là thế yếu của bản thân để định ra một hướng đi thích hợp.
Vì lẽ, con đường phụng sự, độ tha trong nghĩa rộng nhất của khái niệm Phật sự,
là con đường tuy rất mực cao đẹp nhưng cũng đầy thử thách, cam go. Con đường đó
không thích hợp cho những ai mang thể trạng yếu đuối và một chí khí khiếp nhược
về thân và cả về tâm. Nói như kinh Địa Tạng[ix], sẽ
rất mực nguy hiểm nếu như người đã ốm yếu nhưng lại mang đá nặng, đã vậy, lại
gặp phải người thân gửi thêm hàng hóa nữa thì bản thân dễ dàng lâm vào tình thế
hiểm nguy. Ở đây, mỗi cá nhân có thề tùy chọn một dạng Phật sự nào đó, vừa sức
lực và vừa phù hợp với biệt nghiệp của mình để thực hiện. Biết rõ bản thân để
thực hiện Phật sự là tâm thế tích cực cần có của hàng xuất gia.
Thứ hai, cần phải duy trì năng lượng thương yêu trong
suốt quá trình thực hiện Phật sự. Năng lượng thương yêu đó là đồng thể đại bi
tâm, là tâm thương yêu không điều kiện và rộng khắp, không bị giới hạn bởi
không gian và vượt cả mọi khoảng thời gian. Trong suốt quá trình làm Phật sự,
năng lượng này cần phải song hành, vì nếu như quên mất năng lượng, hoặc năng
lượng đó bị gián đoạn thì mọi việc làm mang danh là Phật sự kia, đều trở nên vô
nghĩa, thậm chí đôi khi rơi vào trạng thái xấu nhất của hiện thực. Đó là điều
được khẳng định ở Kinh Hoa Nghiêm: Quên
mất tâm Bồ đề mà tu hành các thiện pháp, thì gọi là hành động theo ma vương”[x] Nói theo kinh Pháp Hoa thì khi làm Phật sự thì cần
phải “vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai. Nhà của đức Như-Lai là
tâm đại từ bi đối với tất cả chúng sinh. Áo của đức Như-Lai là nhu hòa nhẫn
nhục. Chỗ của đức Như-Lai là tất cả các pháp đều không”[xi]. Duy trì tất cả những tâm thế vừa nêu để thừa hành
Phật sự, thì diệu nghĩa của Phật pháp được thể hiện.
Thứ ba, làm Phật sự với tâm tùy hỷ, vô cầu. Vui với
niềm vui của mọi người là điều mà người làm Phật sự cần phải thực hiện. Phải
dũng mãnh như đại nguyện Tùy hỹ thứ
năm trong mười hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền và phải giữ tâm vô dục, vô cầu.
Phải mở rộng và chiêm nghiêm thêm từ lời dạy của đức Phật được thể hiện trong
kinh Nghĩ như thế nào: “Chúng con không nghĩ rằng: “Vì nhân y
áo, Sa-môn Gotama thuyết pháp. Hay vì nhân đồ ăn khất thực, Sa-môn Gotama
thuyết pháp. Hay vì nhân sàng tọa, Sa-môn Gotama thuyết pháp. Hay vì nhân thành
bại, Sa-môn Gotama thuyết pháp”[xii]. mà
đức Phật thuyết pháp chỉ vì: “Với từ tâm,
vì lợi tha và do lòng từ, Thế Tôn thuyết pháp”[xiii]
.
Từ thực tế mỗi mỗi việc của người con Phật hiện nay đều
mặc nhiên dùng từ Phật sự để biểu thị. Trong sự phong phú sinh động về việc làm
của hàng xuất gia thời nay, nên chăng cần phải minh định đâu là Phật sự, đâu là
gần với Phật sự và đâu chưa phải là Phật sự? Nên chăng có thể tạm phân ra hai
hạng Phật sự như Xuất thế gian Phật sự
và Thế gian Phật sự? Nhập thất quyết
tu, kiến thiết già lam, cứu tế xã hội, làm kinh tế cho nhà chùa, tham gia các
hoạt động văn hóa, gia nhập hội đoàn xã hội…đều là những việc mà người xuất gia
thời nay đã và đang miệt mài thực hiện. Tuy nhiên, vẫn chưa có một sự cảnh báo
hay một sự phân định và đánh giá, đâu là những Phật sự đòi hỏi người thực hiện
phải có chí khí lớn, phải có tâm và có tầm và quan trọng nhất là phải luôn có
Bồ đề tâm. Chính xác hơn, mặc dù đã có sự cảnh báo từ lâu trong kinh điển,
nhưng không được nhắc lại, không được chú trọng nên dễ bị lãng quên. Và cũng vì
vậy, nên trong quá trình thực hiện Phật sự, do chưa nhận thức đầy đủ về bản
thân, do chưa được trang bị kỹ càng, do sự thiếu vắng của tri thức – trí tuệ,
do chưa được phòng hộ đủ đầy và chu đáo, nên đôi khi nhân danh làm Phật sự, nhưng
kết quả đạt được chỉ tiệm cận với Phật sự trong nghĩa tích cực mà thôi. Bởi lẽ,
một thực tế hiển nhiên mà chúng ta cần bình tâm để nhận ra rằng: hấp lực của
ngũ dục vẫn là một trong những điều quan ngại và vẫn mang tính thời sự, xưa
cũng như nay.
[i] Kinh
Pháp Hoa, Phẩm Phương tiện thứ hai, bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh: Thôi Xá-Lợi-Phất! Chẳng cần nói nữa. Vì sao?
Vì pháp khó hiểu ít có thứ nhất mà Phật trọn nên đó, chỉ có Phật cùng Phật mới
có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tướng như vậy,
tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như
vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy.
[ii] Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới. Hòa thượng
Thích Trí Quang dịch, Nguyên văn là: nên
hết thảy đại chúng, chí tâm mà thâm tín; thâm tín rằng chính mình, là đức Phật
sẽ thành, y như Như Lai đây, là đức Phật đã thành,
[iii] Phật Quang Đại Từ Điển, Hội văn hóa giáo
dục Linh Sơn, Đài Bắc xuất bản, 2000, tập 4, trang 4273
[iv] Kinh
Tập, Sutta Nipata, chương hai, Kinh đứng
dậy, kệ 332
[v] Đại phương
quảng Phật Hoa Nghiêm kinh,
Nhập bất tư nghì giải thoát cảnh giới Phổ
Hiền hạnh nguyện phẩm. Đúng theo văn kinh là: 若菩薩能随順眾生.
則為随順供養諸佛, 大方广佛华严经入不思议解脱境界普贤行愿品
[vi] Hòa thượng Thích Trí
Quang dịch, Hai Thời Công Phu, NXB.
TP. Hồ Chí Minh, 1994, tr 141…).
[vii] Hòa
thượng Thích Trí Quang dịch, Bài văn
khuyến khích phát tâm Bồ đề, tr 16
[viii] Hòa thượng Thích
Trí Quang dịch, Kinh Duy-ma, Phẩm
Việc Làm Bồ Tát.
[ix] Hòa
thượng Thích Trí Tịnh, dịch, Kinh Địa
Tạng, Phẩm thứ bảy, Lợi ích cả kẻ còn người mất
[x] Hòa
thượng Thích Trí Quang dịch, Bài văn
khuyến khích phát tâm Bồ đề, tr 31
[xi] Hòa
thượng Thích Trí Tịnh, dịch, Kinh Pháp
Hoa, phẩm Pháp sư công đức, thứ 10
[xii] Trung
Bộ Kinh, Kinh Nghĩ như thế nào (Kinti
Sutta), hòa thượng Thích Minh Châu,
dịch
[xiii] Trung
Bộ Kinh, sđd

























