Cư Sĩ Nguyên Giác
Trong
Kinh Kim Cang có câu, “Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.” Nghĩa
là, nếu thấy các tướng đều xa lìa tướng, tức là thấy Phật. Câu hỏi nơi đây là,
chúng ta có thể nhìn người phụ nữ như là
‘phi tướng’ được không? Đã có ít nhất là một Trưởng Lão Ni thời Đức Phật từng
nói như thế.
Câu
hỏi này dễ dàng được gợi lên, khi chúng ta đọc bài viết nhan đề “Không Phải Là
Lời Của Phật” của tác giả Kurt Schmidt, do Tiến Sĩ Thái Kim Lan chuyển ngữ sang
tiếng Việt. Bài viết nói rằng có thể đã
có một số đoạn văn do đời sau xen vào.
Trích
như sau:
“… Theo truyền thuyết, không lâu trước khi nhập niết bàn, Đức
Phật đã trả lời Ananda, thị giả theo hầu cận Phật nhiều năm, khi vị này xin
Phật chỉ dẫn cách đối xử cho các vị tỳ kheo mỗi lần gặp phụ nữ. Theo truyền
thuyết, lúc ấy Phật đã dạy: “Không được nhìn!” Trả lời câu hỏi tiếp theo nếu
trong trường hợp đã lỡ nhìn thấy người phụ nữ rồi thì phải ứng xử như thế nào,
Phật lại dạy , cũng theo truyền thuyết: “Không được bắt chuyện!” Trả lời câu
hỏi thứ ba, các tỳ kheo phải đối xử như thế nào, khi chẳng đặng đừng câu chuyện
đã được bắt đầu với người phụ nữ, Phật lại khuyên – cũng theo truyền thuyết:
“Hãy giữ vững tâm trí!”
Trong kinh Đại Niết bàn, – bản kinh lớn tường thuật về giai đoạn
cuối đời và cái chết của Đức Phật có ghi đoạn đối thoại trên. Đoạn này xét ra
không thật, mà là một thêm thắt của người đời sau. Điều đó có thể chứng minh
được…”
(hết trích – link: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-73_4-15648_5-50_6-1_17-142_14-1_15-1/)
Bài
viết nói rằng những câu về cách ứng xử
khi gặp người phụ nữ không phù hợp với mạch văn, và cũng không phù hợp với lời
dạy trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương.Nơi
đây, chúng ta sẽ không bàn về chuyện có phải đã có sự thêm thắt của đời sau hay
không. Nơi đây, chúng ta chỉ muốn dựa theo kinh luận để bàn về pháp tướng, cụ
thể là cách nhìn người phụ nữ.Thực
tế, phụ nữ và nam giới phải có dị biệt. Không thể đơn giản có chuyện xa lìa
hình tướng được. Bởi vậy, chư Tăng Nam Tông mặc y hở vai, nhưng chúng ta có thể
đoán rằng ngay từ thời xưa thật là xưa, không thể nàò có chuyện quý Ni mặc y hở
vai được. Tuy nhiên, những nơi khác trong các bản kinh liên hệ (Kinh Du Hành,
trong Kinh Trường A Hàm, thuộc Hán Tạng dịch từ tiếng Sankrit, bản Việt dịch
của Thầy Thích Tuệ Sỹ; và Kinh Đại Bát Niết Bàn, trong Kinh Trường Bộ, thuộc Tạng Pali, bản Việt
dịch của Thầy Thích Minh Châu) đều có những lời dạy xa lìa cái nhìn về tướng nữ
hay tướng nam.
Thí
dụ, trích từ Kinh Du Hành:
“Phật bảo A-nan: …Không suy niệm tất cả tưởng, khi nhập vô tưởng
định, thân an ổn, không có não hoạn. Vì vậy, A-nan, hãy tự mình thắp sáng; thắp
sáng nơi pháp, chớ thắp sáng nơi khác. Hãy tự nương tựa mình, nương tựa nơi
pháp, chớ nương tựa nơi khác. Thế nào là Hãy tự mình thắp sáng, thắp sáng nơi
pháp, chớ thắp sáng nơi khác; hãy tự nương tựa mình, nương tựa pháp, chớ nương
tựa nơi khác? Này A-nan, Tỳ-kheo quán nội thân, tinh cần không biếng nhác, ghi
nhớ không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán ngoại thân; quán nội ngoại thân,
tinh cần không biếng nhác, ghi nhớ không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thọ,
quán ý, quán pháp cũng vậy. Này A-nan, đó gọi là Hãy tự thắp sáng, thắp sáng
nơi pháp, chớ thắp sáng nơi khác. Hãy tự nương tựa mình, nương tựa nơi pháp,
chớ nương tựa nơi khác.. Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, nếu có ai có thể tu
hành pháp này, người đó là đệ tử chân thật của Ta, là bậc nhất hữu học.”…” (hết trích –
link: http://www.thuvienhoasen.org/D_2-58_4-11830_15-1_1-2_5-50_6-2_17-122_14-1/#nl_detail_bookmark)
Ngay
câu đầu đoạn trên đã viết: “Không suy niệm tất cả
tưởng, khi nhập vô tưởng định…” Lời dạy này có thể hiểu là nhìn chỉ là
nhìn thôi, không suy niệm khởi tưởng gì. Đây thực sự là pháp vô niệm.
Hay
trích bản dịch Kinh Đại Bát Niết Bàn của Thầy Thích Minh Châu:
thoát thứ hai. Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là sự giải
thoát thứ ba. Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không
tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên”,
chứng và trú Không vô biên xứ; đó là sự giải thoát thứ tư. Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư “thức là vô
biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm. Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật
gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải thoát thứ sáu. Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi
tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy. Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt
thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám. Này Ananda, như vậy là tám giải thoát.” (hết trích –
link: http://old.thuvienhoasen.org/truong16.htm) hay: (http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-123_5-50_6-1_17-52_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark)
Diệt
trừ các tưởng hữu đối… Kinh Kim Cang nói cũng tương tự về xa lìa tưởng hữu
đối: Ly tứ cú (bốn câu: có, không, vừa có vừa không, chẳng phải có chẳng phải
không).
Như
thế, dưới cái nhìn của người tu, thực sự không có tướng nam không có tướng nữ.
Không chỉ riêng lời dạy của Đức Phật, chính ngay trong c ách ứng xử của các vị Thánh Ni
cũng biểu lộ như thế.
Chúng
ta có thể dẫn chứng Kinh Tương Ưng Bộ, bản dịch của Thầy Thích Minh Châu, trong
Chương V Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, trích:
lên bài kệ với Ác ma: Nữ tánh chướng ngại gì, Khi tâm khéo Thiền định, Khi trí tuệ triển khai, Chánh quán pháp vi diệu? Ai tự mình tìm hỏi : “Ta, nữ nhân, nam
nhân, Hay ta là ai khác?” Xứng nói chuyện Ác ma, Ác ma thật cân xứng. 7) Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Somà đã biết ta”, nên
buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
(hết trích – link: http://old.thuvienhoasen.org/tu1-05.htm
) hay (http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-511_5-50_6-1_17-52_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark)
Ý
của Tỷ Kheo Ni Soma là, nếu có ai nghĩ rằng “Ta là phụ nữ” hay “là đàn ông” hay
“Ta có là bất cứ cái gì,” thì kẻ đó rơi vào đường ma đạo. Nghĩa là, ngài Soma
nói là đừng có nghĩ tưởng ra tướng nữ hay tướng nam, hay bất kỳ tướng
nào… vì như thế đều là ma đạo. Nơi
đây, chúng ta lại gặp Kinh Kim Cang: nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến
Như Lai.
Bản
Anh dịch “Soma Sutta: Sister Soma” của Tỳ kheo Thanissaro Bhikkhu, từ Tạng
Pali, sử dụng ngôn ngữ minh bạch hơn:
One,” she replied to him in verses: What difference does being a woman make when the mind’s
well-centered, when knowledge is progressing, seeing clearly, rightly, into the
Dhamma. Anyone who thinks ‘I’m a woman’ or ‘a man’ or ‘Am I anything at all?’ —
that’s who Mara’s fit to address. Then Mara the Evil One — sad & dejected at realizing,
“Soma the nun knows me” — vanished right there.” (link: http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/sn/sn05/sn05.002.than.html)
Có
thể dịch ra Việt ngữ đoạn kinh văn trên như sau:
“Đây là Ác Ma,” vị Tỳ Kheo Ni trả lời bằng thơ: Có khác biệt nào nơi người phụ nữ khi tâm chuyên chú an định, khi
trí tuệ đưa tới cái thấy Pháp một cách minh bạch, đúng đắn. Bất kỳ ai nghĩ rằng
‘Ta là một phụ nữ’ hay ‘một người đàn ông’ hay ‘Ta có là bất cứ gì chăng?’ — đó mới là kẻ mà Ác Ma nói tới phù hợp. Rồi thì Ác Ma — buồn bã và thất vọng khi nhận ra rằng, “Tỳ Kheo Ni
Soma biết ta rồi” — biến dạng ngay khi đó.” Nghĩa
là, với trí tuệ đã thấy Pháp một cách minh bạch, một cách đúng đắn, thì không
thấy tướng nữ, tướng nam, hay bất kỳ tướng nào. Ngắn gọn, lời này âm vang lại trong Kinh Kim Cang rằng
nếu thấy các tướng xa lìa tướng thì là thấy Như Lai.
Chúng
ta cũng gặp lại ngôn ngữ Kinh Kim Cang ở một nơi khác. Lần này là trong Kinh
Tập, thuộc Tiểu Bộ Kinh, khi Đức Phật trả lời câu hỏi của ngài Mogharaja.
Kinh này có tên
“Mogharaja-manava-puccha:
Mogharaja’s Question” dịch từ Pali sang Anh văn bởi ngài Thanissaro Bhikkhu. Trích như sau:
come with a question: How does one view the world so as not to be seen by
Death’s king? The Buddha: View the
world, Mogharaja, as empty — always mindful to have removed any view about
self. This way one is above & beyond death. This is how one views the world
so as not to be seen by Death’s king.”
(hết trích – link: http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.5.15.than.html
)
Có thể dịch ra Việt ngữ như sau:
“Mogharaja:… Con tớivới một câu hỏi: Làm cách nào để nhìn thế giới này mà không bị nhìn thấy bởi Thần
Chết? Đức Phật: Mogharaja,
hãy nhìn thế giới này như Tánh Không rỗng rang — luôn luôn rời bỏ bất kỳ cái nhìn nào về tự ngã. Cách này là cao hơn
và vượt qua cái chết. Đó là cách người tu nhìn về thế giới này để không bị Thần Chết nhìn thấy.” (hết trích dịch).
Như thế, Đức Phật cũng dạy là rời
bỏ bất kỳ quan điểm nào về ‘ngã.’ Nghĩa là, đừng thấy là có ‘ngã’, đừng thấy là có ‘vô ngã’,
đừng thấy là có ‘vừa ngã vừa vô ngã’, và đừng thấy ‘chẳng phải ngã, chẳng phảỉ
vô ngã’.
Bản Anh dịch khác của ngài John
D. Ireland là:
“The Lord: Look upon
the world as empty,[2] Mogharaja, ever mindful; uprooting the view of self you
may thus be one who overcomes death. So regarding the world one is not seen by
the King of Death.”
(hết trích — http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.5.15.irel.html
)
Có thể dịch ra Việt ngữ như sau:
“Đức Phật: Hãy nhìn
thế giới này như Tánh Không rỗng rang, Mogharaja, luôn luôn tỉnh thức nhìn như
thế; xóa bỏ cái nhìn về ngã, con như thế sẽ là người vượt qua cái chết. Nhìn
thế giới như thế, con sẽ không bị Thần Chết nhìn thấy.”
Nghĩa là lặng lẽ hồn nhiên, không
thấy có bất cứ cái nhìn nào về ngã, hay bất cứ cái nhìn nào về vô ngã.
Bản dịch của Thầy Thích Minh Châu
là ở đây:
hỏi, Cần nhìn đời thế nào, Để thần chết không
thấy. Thế Tôn: 1119. Này
Mô-gha-ra-ja, Hãy nhìn đời trống
không, Luôn luôn giữ chánh
niệm, Nhô lên ngã tùy kiến, Như vậy vượt tử vong, Hãy nhìn đời như vậy, Thần chết không thấy
được.” (hết trích –
link: http://www.thuvienhoasen.org/images/upload/PDF_Books/TieuBoKinh-TapI.pdf
) hay: (http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-1466_5-50_6-1_17-52_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark)
Nếu như thế, thì làm sao có tướng
nữ hay nam?
Chúng ta cũng có thể nhớ tới Kinh
Lăng Nghiêm, với câu “Tri kiến lập tri, tức vô minh
bổn.” Có thể hiểu là: thấy biết mà dựng lập cái thấy biết, đều là gốc vô
minh.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ cũng có
lời Đức Phật dạy như thế.
Trong AN 4.24, bản kinh tên “Kalaka
Sutta: At Kalaka’s Park” với bản Anh dịch của ngài Thanissaro Bhikkhu, trích:
Tathagata, when seeing what is to be seen, doesn’t construe an [object as]
seen. He doesn’t construe an unseen. He doesn’t construe an [object]
to-be-seen. He doesn’t construe a seer. “When hearing… “When sensing… “When cognizing
what is to be cognized, he doesn’t construe an [object as] cognized. He doesn’t
construe an uncognized. He doesn’t construe an [object] to-be-cognized. He
doesn’t construe a cognizer. Thus, monks, the Tathagata
— being the same with regard to all phenomena that can be seen, heard, sensed,
& cognized — is ‘Such.’ And I tell you: There’s no other ‘Such’ higher or
more sublime.” (hết
trích – link: http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/an/an04/an04.024.than.html)
Chúng ta có thể dịch ra Việt ngữ
như sau:
Như Lai khi nhìn thấy cái được nhìn thấy, không dựng lập một [vật gì như] cái
được nhìn thấy. Như Lai không dựng lập cái không được nhìn thấy. Như Lai không
dựng lập một [vật gì] để sẽ được nhìn thấy. Như Lai không dựng lập một ai nhìn
thấy cả. “Khi nghe… (cũng
tương tự như đoạn trên) “Khi cảm giác… (cũng
như trên) “Khi nhận biết cái
được nhận biết, Như Lai không dựng lập một [vật gì như] cái được nhận biết. Như
Lai không dựng lập cái chưa được nhận biết. Như Lai không dựng lập một [vật gì]
để sẽ được nhận biết. Như Lai không dựng lập một ai nhận biết cả. Do vậy, hỡi chư tăng,
Như Lai – là đồng một thể với tất cả các hiện tượng mà các hiện tượng này có
thể được thấy, được nghe, được cảm giác và được nhận biết – là ‘Như Thế, Như
Thị, Như Như.’ Và Như Lai nói cho con biết: Không có cái ‘Như’ nào khác cao
hơn, vượt hơn.” (hết
dịch)
Đó cũng là ngôn ngữ Lăng Nghiêm: toàn tướng tức tánh, toàn tánh tức tướng. Trong Kinh
Tăng Chi Bộ của Tạng Pali dẫn trên, cái thấy, cái nghe, cái nhận biết là một
với các pháp được thấy, được nghe, được nhận biết.
Như thế cũng có nghĩa là, người
thấy và cái được thấy là một thể bất phân, người nghe và cái được nghe là một,
người nhận biết và cái được nhận biết là một.
Nghĩa là, trở lại ngôn ngữ Kinh
Lăng Nghiêm: khi thấy biết (tri kiến) mà không dựng lập thấy biết (lập tri) thì
là thể nhập cái Như Thị. Nhưng khi thấy biết mà dựng lập thấy biết thì là gốc
của vô minh (tri kiến lập tri, tức vô minh bổn).
Đoạn Kinh Tăng Chi Bộ này được
ngài Thích Minh Châu dịch ra bản Việt ngữ, trích như sau:
“(IV) (24) Kàlaka
Như vậy, này các
Tỷ-kheo, Như Lai là vị đã thấy những gì cần thấy, nhưng không có tưởng tượng
điều đã được thấy, không có tưởng tượng những cái gì không được thấy, không có
tưởng tượng những gì cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người thấy. Đã
nghe những gì cần nghe, nhưng không có tưởng tượng điều đã được nghe, không có
tưởng tượng những cái gì không được nghe, không có tưởng tượng những gì cần
phải nghe, không có tưởng tượng đối với người nghe. Đã cảm giác những gì cần
cảm giác, nhưng không có tưởng tượng điều đã được cảm giác, không có tưởng
tượng những cái gì không được cảm giác, không có tưởng tượng những gì cần phải
cảm giác, không có tưởng tượng đối với người cảm giác. Đã thức tri những gì cần
thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thức tri, không có tưởng
tượng những cái gì không được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì cần
phải thức tri, không có tưởng tượng đối với người thức tri. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, Như Lai đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm giác, được
thức tri, nên vị ấy là như vậy. Lại nữa, hơn người như vậy, không có ai khác
tối thượng hơn và thù thắng hơn, Ta tuyên bố như vậy.” (hết trích – link: http://old.thuvienhoasen.org/tangchi04-0103.htm) hay (http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-1149_5-50_6-1_17-52_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark)
Rất mực là minh bạch, đó là ngôn
ngữ Thiền Tông của Lục Tổ Huệ Năng vậy.
Chỗ này, diễn lại qua ngôn ngữ
của Thiền Sư Duy Lực trong cuốn Duy Lực Ngữ Lục Tập 1, in tại VN năm 2000 như
sau:
“Đáp: Kinh Lăng Nghiêm nói “Tri kiến lập tri, tức
vô minh bổn”, cái “Lập tri” ấy tức là tự tri. Thế gian nói “Tri”, nói “Kiến” ấy
là thế lưu bố tưởng, Phật cũng nói là tri là kiến , nhưng không có chấp cái tri
ấy là thật, nên chẳng có lập tri, nên nói “Tri kiến vô kiến, tư tức Niết bàn”.
Nay do tập khí từ lâu đời, chúng ta việc gì cũng muốn tri, muốn kiến, Phật muốn
thuyết pháp độ chúng sanh cũng phải tùy thuận chúng sanh,cũng phải nói tri, nói
kiến, nhưng không chấp đó là thật; hễ chấp thật tức tự lập cái tri, là căn bản
của vô minh, nếu không kiến lập tức Niết bàn.” (Link: http://old.thuvienhoasen.org/ddpp-trikienlaptri.htm)
Trong cuốn “Sáu Cửa Vào Động
Thiếu Thất,” ngài Bồ Đề Đạt Ma trong Huyết Mạch Luận cũng nói tương tự như khi
Đức Phật dạy cách thể nhập Tánh Như:
Động mà không có sở động. Bởi vậy: – Suốt ngày thấy mà
chưa từng thấy. – Suốt ngày nghe mà
chưa từng nghe. – Suốt ngày cảm mà
chưa từng cảm. – Suốt ngày ngày biết
mà chưa từng biết. – Suốt ngày đi, ngồi
mà chưa từng đi, ngồi. – Suốt ngày hờn vui mà
chưa từng hờn vui. Nên kinh nói: Lời nói
làm cho đạo dứt, tâm động làm cho giác ngộ tiêu (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ
diệt). Thấy, nghe, cảm, biết
vốn tự nó viên tịch, cho đến mọi niềm giận vui cũng vậy.”(hết trích – link: http://old.thuvienhoasen.org/saucuavaodongthieuthat-06.htm) hay (http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-79_4-8115_5-50_6-1_17-93_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark)
Như vậy, pháp tu có phải làm
thanh tịnh hóa những gì không? Bởi vì tự tánh vốn thanh tịnh, có phải là không
cần thực hiện các pháp thanh tịnh hóa phải không?
Và đối với một số người, như trường
hợp với ngài Magandiya, Đức Phật đã dạy hết sức là đơn giản: không hề có một pháp
nào để tu học hết, chỉ đơn giản là đừng nắm giữ bất kỳ một pháp nào. Ngôn ngữ này
y hệt như Thiền Tông của Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Năng.
Có một nơi trong Kinh Tập, thuộc
Kinh Tiểu Bộ, đã nói như thế: không một pháp nào để nắm giữ trong tâm, kể cả cái
gọi là sự thanh tịnh.
Bản Anh dịch từ Pali có nhan đề “Magandiya
Sutta: To Magandiya,” dịch bởi ngài Thanissaro Bhikkhu, trích:
“Magandiya:
Sage, you speak
without grasping at any preconceived judgments. This ‘inner peace’: what does
it mean? How is it, by an enlightened person, proclaimed?
The Buddha:
He doesn’t speak of
purity in connection with view, learning, knowledge, precept or practice. Nor
is it found by a person through lack of view, of learning, of knowledge, of
precept or practice.[1] Letting these go, without grasping, at peace,
independent, one wouldn’t long for becoming.
Magandiya:
If he doesn’t speak of
purity in connection with view, learning, knowledge, precept or practice. and
it isn’t found by a person through lack of view, of learning, of knowledge, of
precept or practice, it seems to me that this teaching’s confused, for some
assume a purity in terms of — by means of — a view.
The Buddha:
Asking questions dependent
on view, you’re confused by what you have grasped. And so you don’t glimpse
even the slightest notion [of what I am saying]. That’s why you think it’s
confused. Whoever construes ‘equal,’ ‘superior,’ or ‘inferior,’ by that he’d
dispute; whereas to one unaffected by these three, ‘equal,’ ‘superior,’ do not
occur.” (hết trích –
link: http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.4.09.than.html)
Các đoạn văn kinh trên có thể dịch
như sau:
“Magandiya: Thưa hiền
giả, ngài nói là đừng nắm giữ bất kỳ bình phẩm nào đã có sẵn nào. Cái ‘hòa bình
nội tâm’ này có nghĩa gì? Làm sao nó được một vị đã giác ngộ tuyên thuyết?
Đức Phật: Thế Tôn
không nói về sự thanh tịnh trong liên hệ tới cái nhìn, tới cái học, tới kiến
thức, tới giới luật hay tới sự tu tập. Nhưng bình an nội tâm này cũng không thể
tìm gặp bởi một người thiếu cái nhìn, thiếu cái học, thiếu kiến thức, thiếu
giới luật hay thiếu tu tập. Buông bỏ hết các thứ đó, không nắm giữ gì hết, bình
an và độc lập, ta sẽ không muốn trở thành [bất kỳ sanh hữu gì hết].
Magandiya: Nếu ngài
không nói về sự thanh tịnh trong liên hệ tới cái nhìn, tới cái học, tới kiến
thức, tới giới luật hay tới sự tu tập. Và [bình an nội tâm này] không được tìm
gặp bởi một người xuyên qua thiếu cái nhìn, thiếu cái học, thiếu kiến thức,
thiếu giới luật hay thiếu tu tập. Như dường đối với con, lời dạy này rối rắm,
vì có những người cho là được sự thanh tịnh khi đo lường về — bởi phương tiện
của — một sự chiếu kiến.
Đức Phật: Khi hỏi những câu hỏi tùy thuộc vào tri kiến,
con bị rối rắm bởi những gì con nắm giữ. Và do vậy con không thấy được ngay cả
một chút xíu nào những gì [Thế Tôn đang
nói]. Đó là tại sao con nghĩ là con bị rối rắm. Bất kỳ ai dựng lập ‘những cái
bằng nhau’, ‘những cái cao thượng hơn’, hay ‘những cái thấp hèn hơn’, bởi như
thế mà Như Lai bác bỏ; bởi vì đối với bậc đã không bị ảnh hưởng bởi ba so sánh đó,
thì ‘những cái bằng nhau’, và ‘những cái cao thượng hơn’ không hề xảy ra.” (hết trích dịch)
Các đoạn trên được ngài Thích
Minh Châu dịch ở đây: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tieubo1/tb15-kt4.htm. hay: (http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-1465_5-50_6-1_17-52_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark)
Nghĩa là, sẽ là trật nếu nói rằng
phảỉ học và phải tu tập để có sự thanh tịnh. Nhưng, Đức Phật cũng nói liền kế
tiếp, rằng sự thanh tịnh cũng không thể có nếu không học và không tu tập. Bởi
nghe thế, ngàì Magandiya mới thấy rối rắm. Đây hiển nhiên là Kinh Kim Cang.
Như thế, Kinh Kim Cang và Kinh Lăng
Nghiêm đã được tuyên thuyết trong Kinh Tạng
Pali.
Và không chỉ riêng Đức Phật trong
Tạng Pali nói lên ngôn ngữ Kim Cang và Lăng Nghiêm. Mà cũng đã có một vị Tỳ Kheo Ni tên là Soma
tuyên thuyết rằng cần phảỉ thấy các tướng là phi tướng…
Bài viết liên quan đến chủ đề: KHÔNG PHẢI LÀ LỜI CỦA PHẬT * – Kurt Schmidt – Thái Kim Lan chuyển ngữ Kinh Du Hành,
trong Kinh Trường A Hàm, thuộc Hán Tạng dịch từ tiếng Sankrit, bản Việt dịch
của Thầy Thích Tuệ Sỹ Kinh Đại Bát Niết Bàn, trong Kinh Trường Bộ, thuộc Tạng Pali, bản Việt
dịch của Thầy Thích Minh Châu























