Kinh Kiến Chánh

0
12
PHẬT NÓI KINH KIẾN CHÁNH
Thích Trí Đức dịch

LỜI NÓI ĐẦU


Đạo lý luân-hồi
đã làm cho các học giả trong đạo cũng như ngoài đạo, thắc mắc nan giải trong
lúc đề cập đến nó. Nhưng vì là đạo lý căn bản trong Phật-Học, nếu không tín giải
đạo lý luân hồi nầy, ắt có thể gặp nhiều chướng ngại khó hiểu đối với các vấn
đề
khác như, vô minh duyên khởi, nghiệp cảm duyên khởi, cho đến A-Lại-gia duyên
khởi
mà, trong Phật-giáo thường xem là hệ-trọng đặc biệt… Và chúng ta có thể
nói rằng, người không nhận sự thật chúng sanh luân-hồi, là người sống theo vật
chất
khoái lạc chủ nghĩa hay ngẫu nhiên chủ nghĩa vậy.

Nhưng ngẫu
nhiên!

Nhân loại
phải sanh trong ngẫu nhiên, sống trong ngẫu nhiên và chết trong ngẫu nhiên
không? Không lẽ! Mọi loài đều ngẫu nhiên cả, thì đâu là ý nghĩa cuộc đời và đâu
là chơn-giá-trị của hành vi sáng tác, ý chí tự do của con người? Huống chi
trong đời sống hiện tại nầy, chúng ta có thể tạo những điều lành tốt để ngày
mai hưởng quả sung-sướng, hoặc gây sự xấu xa, để nắn thành một ngày mai đen
tối
, hung ác. Nếu chúng ta không hiểu rõ nhân nào quả nấy, chẳng có sự ngẫu
nhiên
nào ngăn đón hay hủy diệt cái định luật nhân quả kia được, ắt chúng ta
không bao giờ suy nghĩ làm điều như thế. Vậy cho biết không có ngẫu nhiên nhưng
nhân quả hẳn hòi. Và nhân quả ấy chuyền nối không dứt, tức là luân-hồi vậy.
Phải, chúng sanh hẳn sống trong vòng luân-hồi.

Vì vậy đạo
luân-hồi đã được Phật giảng dạy trong nhiều Kinh Luận. Kinh Kiến-Chánh sau
đây là một. Nội dung Kinh nầy, Phật dùng nhiều bằng chứng ví dụ để chứng minh
một phần đạo lý ấy.

Nay nhân dịp
Khánh-thành nhà in LIÊN-HOA, gọi là để hồi hướng công đức của quí Vị đã có công
đối với nhà in. Tôi xin lược dịch ra đây, để giúp quí đồng đạo nghiên cứu, hầu
mong am tường thêm một đạo lý rất quan hệ đối với sự tu hành của người Phật-tử.

Dịch-giả: TRÍ
ĐỨC
– Phật Lịch 2516


PHẬT NÓI KINH KIẾN-CHÁNH


Tôi nghe như
thế nầy: Một hôm Phật ở tại Tinh-Xá Kỳ-Hoàn nơi thành La-Duyệt-Kỳ. Trong lúc
gần ngọ, Ngài cùng năm trăm Vị Tỷ-Khưu, một ngàn Vị Bồ-Tát và Ưu-Bà-Tắc, bưng
đồ cúng dường đi ra ngoài thành La-Duyệt-Kỳ, bỗng gặp một cây đại thọ tên là
Cam-Hương, cành lá sum-sê, cây to gốc lớn, hoa trái tươi tốt đỏ hồng, chứa chất
một mùi vị thơm ngọt. Dưới gốc cây bằng phẳng. Phật muốn dừng lại đây lót đá mà
ngồi. Hàng đệ-tử tùy tùng vâng theo ý Phật, sửa chỗ cho Phật ngồi, rồi ai nấy
cũng đều ngồi quanh Ngài.

Trong đám
đệ-tử, có một Tỷ-Khưu tên là Kiến-Chánh, người mới nhập đạo tu hành, nên trong
tâm có chỗ nghi hoặc: “Phật thường nói có đời sau, nhưng từ loài vật cho
đến
loài người, khi chết rồi chưa từng ai trở lại báo cho biết việc ấy như thế
nào cả?” Ông liền đem điều ấy hỏi Phật, Phật nhân đấy bảo cho các đệ-tử
rõ, bằng những điều chứng minh, thí dụ như sau:

— Gốc đại thọ
nầy, vốn từ một hột giống và nhờ các trợ duyên: đất, nước, gió, lửa mà nó được
to lớn, tàn cây có thể che một số người như thế nầy. Truy nguyên thời kỳ hột
giống, thì không thấy có nhánh, lá, hoa, trái gì cả. Nhưng gặp đủ nhân duyên
tứ-đại, nó nứt mầm, nẩy nhánh, sanh hoa, kết trái dần dần thành một cây to, tàn
che một khoảnh đất rộng. Ban đầu nó chỉ gọi là hột, hột sinh mầm, mầm sinh
nhánh, nhánh sinh lá, lá sinh hoa, hoa sinh trái, trải qua nhiều giai đoạn,
thay đổi triển chuyển mới thành cây đại thọ, đối với hột giống không phải một mà
chẳng phải khác, có danh nhưng chẳng phải thường danh. Nó đã trở thành cây đại thọ.
Có thể nhóm tất cả hoa, trái, nhánh, lá, cọng, gốc kia lại, làm hột giống khi
xưa được không?

— Không thể
được – lời các đệ-tử đáp – chúng đã biến chuyển thì không thể trở lại được nữa.
Một ngày một mục nát, hột giống trở thành mầm, nhánh vân vân. Cứ vậy càng sanh
càng đổi, tuy không bị tiêu mất, nhưng cũng không thể trở lại hột giống như
xưa.

Sanh tử cũng
như thế. Thần thức là pháp nguyên khởi, pháp ấy là si (vô-minh). Do vô-minh
sanh tham ái. Vô-minh in như hột giống. Hột giống tuy nhỏ mà trưởng thành cây
đại thọ, vô-minh tuy ẩn vi mà gây thành nhiều hiện tượng nhân duyên sai khác.
Các hiện tượng nhân duyên đều do thức tâm xuất hiện. Từ vô-minh sanh ra hành,
hành sanh thức, thức sanh danh sắc, danh sắc sanh lục nhập, lục nhập sanh xúc,
xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, thủ sanh hữu, hữu sanh sanh, sanh sanh
lão tử, hợp lạimười hai nhân duyên, làm bản thể cho thân nầy. Đã có thân
thì có ngày già, chết. Khi ấy thần-thức tùy theo hạnh nghiệp dắc dẫn, mà sanh
thành một xác thân khác, cũng có Cha mẹ, cũng thọ hình thể, cũng sanh lục tình,
cũng khởi tập nhiễm, cũng chịu khổ vui, cũng theo phong tục, nhưng không thứ
nào trở lui như cũ. Đã không thể trở lại kiến thức như cũ, thì chẳng làm sao
biết được quá khứ. Người ta chỉ một mặt theo kiến thức mới, bảo là thực có, là
thường còn, rồi cố chấp theo những điều tri kiến đó, nên không biết rằng: đời
trước và đời sau do thần thức chuyển di theo hạnh nghiệp mà phát hiện ra
vậy.

Thần thức đã
chuyển di, lại nhờ có cha mẹ làm trợ duyên sanh ra hình thể mới, bị khuôn khổ
theo lục tình, tập nhiễm, khổ vui, phong tục, không thể trở lại đời cũ, cũng
không thể trở lại thân hình cũ, tập quán cũ, kiến thức cũ, như cây đại thọ,
không thể trở lui hột giống của ngày trước.

Sau khi nghe
Phật dạy, Tỷ-Khưu Kiến-Chánh đứng dậy, quỳ thẳng bạch Phật: “nghi ý của
đệ-tử vẫn chưa trừ giải. Giờ đây chính là lúc đệ-tử tỏ bày chỗ ngu si ngưỡng
mong Thế-Tôn thương xót chỉ dạy cho. Đệ-tử từ khi nhỏ đến giờ, gặp người chết
không phải là ít: hoặc cha mẹ, anh em, vợ chồng, nội ngoại, hoặc bằng hữu đang
thương yêu nhau, hoặc kẻ oán thù đang giận ghét nhau, mà sau khi chết, thần
thức
họ vẫn không trở lại gặp mặt, trả lời cho biết ai sướng ai khổ thế nào cả.
Tại sao vậy? Thần thức bị điều gì làm cách ngại, mà họ không trở lại diện báo
cho người sống biết? Mong đức Thế-Tôn giải bày phân biệt để chúng đệ-tử, đoạn
trừ nghi kiết, sớm thấy lẽ thật.”

— Nầy Tỷ-Khưu!
Thần thức kia không hình trạng, khi chuyển di thì tùy theo hạnh nghiệp mà phát
hiện. Nếu người ở đời làm phước, thần thức phước đức chuyển sang đời khác, cũng
còn không thể trở lại diện báo cho biết được, huống chi là kẻ hung ác. Vì sao?
Vì như nhà kỹ-sư nấu đá cho chảy để tìm thiếc, đã thành thiếc rồi lại đúc làm các
khí cụ, những khí cụ ấy, có thể khiến nó trở lại đá được không?

Thần thức
chuyển đi, ở tại thân trung-ấm, ví như đá đã lọc thành thiếc; từ trung-ấm thay
đổi, thọ sanh thân khác, như thiếc đã đúc thành khí cụ. Hình thể đã thay đổi
tiêu ma, không trở lại thân cũ được.

Những ai tu
hành
năm điều thiện (năm giới) họ sẽ được bẩm thọ thân người, họ sẽ có cha mẹ,
và bị sáu thứ ràng buộc: 1) Ở tại trung-ấm, không thể trở lại kiếp xưa. 2) Bị
bó buộc trong bào thai. 3) Khi sơ sanh bị ép bức đau đớn quên hết dĩ vãng. 4)
Rớt xuống đất, các kiến thức trước đều mất, sanh ra kiến thức mới. 5) Sanh ra
rồi liền tham trước vật dục, vì tham trước nên kiến thức cũ bị gián đoạn. 6)
Lần lần khôn lớn, tập theo kiến thức mới, chứ không nhớ lại kiến thức xưa.

— Các đệ-tử:
Ví như người khách buôn, đi khắp bốn phương, gặp đủ điều vui khổ. Khi nhớ nghĩ
những điều ở một quận ấp về phương đông, thì họ không còn nhớ gì về ba phương
kia nữa. Trong đường sanh tử cũng vậy. Trong đời nầy tạo tác hạnh nghiệp rồi
sanh qua đời khác. Khi đã thọ thân khác, liền sanh kiến thức mới, cho nên kiến
thức
cũ không phát hiện ra.

Bởi sáu việc ấy
chằng trói ngăn ngại, nên không biết lại đời cũ và báo tin cho ai.

— Hoặc như
người thợ gốm, nung đất làm đồ, do sức lửa đốt, miếng đất trở thành tấm ngói;
ta có thể khiến tấm ngói ấy trở lại cục đất được không?

— Thưa, không
thể được.

— Hoặc như một
cây đại thọ bị người ta đốn xuống, cưa xẻ, làm thành hàng trăm thứ đồ dùng. Nếu
có người muốn nhóm góp những đồ vụn vặt và các tấm gỗ đã bị cưa, làm lại cây
đại thọ như trước được chăng?

— Thưa không
được.

— Hoặc như
người thợ nấu cát thành ra sa sắc hồng, rồi lại thành sắc trắng mà hóa ra như
nước. Ta có thể khiến sắc hồng ấy trở lại cát được không?

— Thưa không
được.

Sanh tử cũng
như thế, người chưa có đạo ý, chưa có đạo nhãn, khi thân chết, thần thức biến
hóa
theo hạnh nghiệp, thọ sanh thân khác, trong những đời khác, họ bị bưng bít trong
thai bào, trong kiến thức, trong tập tánh mới rồi, thì họ không thể nào biết
lại đời trước được.

Hoặc như nước
đựng trong bình tròn thời nước thành tròn, đổ sang đồ vuông thời nước lại thành
vuông. Tùy theo đồ đựng, mà nước phải thay hình đổi dạng theo tướng trạng lớn nhỏ,
tròn vuông. Sanh tử cũng như thế. Thức tâm vốn không có hình thể nhứt định, chỉ
tùy theo hành vi thiện áclãnh thọ báo thân. Có trắng, đen, dài, ngắn, khổ,
vui, lành, dữ, đều là sự biến đổi hiện hình, theo hạnh nghiệp cả. Như tâm thức
của ta khi ở đời đã gây điều phi pháp, nên bị đọa làm bàng sanh, mất tự do
trong khổ sở, làm sao biết lại đời trước mà báo tin cho ai hay.

— Hoặc như con
sùng, sinh ở trong đất, không kêu, không có cánh, nhưng đúng thời tiếthóa
thành
con ve, ở trên cây kêu suốt ngày, không ngớt. Ta có thể bảo con ve ấy trở
lại
với thân hình con sùng đặng báo tin cho các con khác ở trong đất biết được
không?

— Thưa không
được. Con sùng đã biến đổi, rời âm để sống trong dương khí, thân hình thay đổi
dần cho đến ngày chết đi, hoặc bị chim chóc bắt ăn thịt, chứ không thể trở lại
thân sùng được.

Sanh tử cũng
vậy. Thân nầy chết rồi, thần thức di chuyển, thọ sanh thân mới, bị ngũ ấm ngăn
che, nào kiến thức, nào tập tánh đều đổi mới trong một hoàn cảnh khác, cho đến ngày
tiêu mòn già chết, chứ không thể trở lại thân hình cũ với kiến thức cũ, báo tin
cho ta biết.

— Hoặc như
miếng thịt sống, để lâu ngày hôi hám, hóa sanh trùng giòi. Muốn cho nó trở lại
thành miếng thịt tươi được không?

— Thưa không
được.

Sanh tử cũng
vậy. Người thế-gian, tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác, khi họ chết, thần
thức
chuyển di, đọa làm thân địa ngục, bàng sanh, ở trong cảnh giới mới lạ, sự
thấy biết khác với ngày trước, lại bị lưới tội buộc ràng, không biết được ngày
xưa
, nên cũng không trở lại báo tin cho ta hay được.

— Hoặc như đêm
tối không trăng, mọi vật ở trong hắc ám. Giá có người trong trăm ngàn vạn người
xem mọi vật đêm tối ấy, họ có thể biện biệt được màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng
không?

— Dù ức triệu
người xem trong đêm tối, cũng chẳng thấy được gì, huống chi là biện biệt năm
màu sắc.

— Nếu có người
cầm đuốc soi sáng, bảo cho họ xem, họ có thể thấy được không?

— Có thể thấy
được.

— Nếu có người
ngu không cầm đuốc, đi vào chỗ tối. Càng đi càng xa, càng tối, khi ấy họ muốn
thấy năm sắc được không?

— Người ngu đã
xây lưng với ánh sáng mà đi vào chỗ tối, họ đi xa không bao giờ thấy màu sắc
được cả.

— Các đệ-tử!
Chúng sanh ở trong đường sanh tử tối tăm cũng như thế. Từ người cho đến loài
vật, hễ đã mang thân hình, ngu si mờ ám, không có đạo hạnh, không hiểu được nguồn
gốc thân tâm, chưa có tuệ nhãn mà vội mong biết đến thần thức qua lại thọ sanh
trong đường sanh tử, lui về báo tin, chẳng khác nào ở trong đêm tối muốn thấy
năm sắc. Trái lại, nếu biết học kinh trì giới, tu hành ba mươi bảy món trợ đạo
Bồ-đề, giữ gìn tâm ý thanh-tịnh, là họ như người cầm đuốc sáng thấy rõ năm sắc.
Người nương theo giáo pháp đức Phật, có thể biết đường sanh tửcảnh giới
thiện ácthần thức đã qua lại. Ngoài ra những người không thấu rõ thân tâm,
ngược bỏ kinh giới, theo giòng trần-tục, tự ý buông lung, đoạn diệt thật pháp, lòng
không tin tưởng, thật hành Phật-pháp, kẻ ấy như người vất đuốc mà đi vào chỗ
tối
, càng đi càng mù mờ không trông thấy gì cả.

— Các đệ-tử!
Các người chớ thuận theo tâm ý ngu si, kiết phượcnghi ngờ đạo lý chơn chánh
thanh-tịnh. Nếu thuận theo tâm ý ngu si, các người khó tránh khỏi cảnh giới tối
tăm
, đọa đầy thống khổ. Ta đã có ý dẫn dụ giải bày rành rẽ, vậy các ngươi hãy
siêng năng phụng hành, đừng bao giờ quên.

— Các đệ-tử!
Người đời chỉ dùng mắt thịt mà thấy những việc trong hiện tại, nhưng không thể
thấy trước đây mình từ đâu đến, mà sau khi già chết, bước sang đời sau, thọ một
thân hình khác, cũng không biết lại những việc ngày nay. Vì sao? Vì mỗi lần sống
chết
, thần thức chuyển dịch theo mười hai nhân-duyên, mà trong mười hai
nhân-duyên, ngu si là chủ yếu mà tối tăm, nên một lần thay đổi, khó biết lại
việc cũ. Như đem tấm vải trắng nhuộm thành các màu xanh, vàng, đỏ, tím, tấm vải
đã bị nhuộm không thể trở lại như cũ được. Sanh tử chuyển dịch cũng như thế.
Thức tâm không có tánh-thể thường nhứt, nó bị nhuộm theo hạnh nghiệp mà thay
đổi mãi. Vả lại, tâm ý của chúng sanh thường tưởng niệm mọi pháp, trong một đời
người, lòng nghĩ muốn về những điều lành dữ báo ứng rất nhiều, hễ các niệm mới
sanh thì niệm cũ diệt, mà trong đường sanh tử chỉ ngu si là thường hơn cả. Ai
muốn hiểu nguồn gốc sanh tử qua lại, hãy gắng tu luyện thân tâm, thâm nhập
thanh-tịnh, suy nghĩ nguồn gốc mọi pháp, thì có thể khai ngộ như thức giấc
ngủ.

— Các đệ-tử!
Thần thức bị điều si ám trong việc thiện ác, nên hễ chết rồi lại sanh với những
thân hình sai khác. Không hạnh nghiệp thiện ác là không thọ thân, như lửa gặp củi
thì còn, củi cháy hết thì không, ý thức không hành vi thiện ác thời cũng không
còn có hình thức gì vậy.

Hoặc như gương
mờ không thể soi thấy gì được. Bức gương thức tâm bị hỗn trược ngăn che, chuyển
di
sanh tử, đầy dẫy thảm khốc sợ hãi, và bị dắc dẫn theo sự họa phúc tai ương,
cũng vậy, chẳng soi thấy việc trong đời cũ. Như ao nước đục, dẫu có cá trạnh
trong đó, vẫn không làm sao trông thấy. Ở trong sanh tử hỗn loạn, bị mọi điều
ưu tư bưng bít, nên hễ một lần chuyển sang kiếp khác, là quên mất việc đời cũ.
Như người nhắm mắt đi trong đêm tối, hoàn toàn chẳng trông thấy gì. Người đi
trong đêm tối sanh tử, trôi theo giòng họa phúc, phải cam chịu điều mừng vui, khổ
não
, không thể biết lại việc cũ trong kiếp trước.

— Các đệ-tử!
Ta lấy tuệ-nhãn thanh tịnh soi thấy một cách rõ-ràng, hết thảy chúng sanh qua
lại sanh tử trong vòng ba cõi, khác nào nhìn sợi chỉ trong hột ngọc thủy-tinh,
lưu ly. Xanh, vàng, đều trông thấy rõ. Và như nước trong, có thể nhìn thấu đáy,
tất nhiên thấy rõ các loài thủy tộc trong ấy. Phật thấy chúng sanh sống chết
trong năm đường, như người đứng bên chiếc cầu lớn, thấy rõ tất cả hành khách
qua lại trên cầu. Hoặc như đứng trên núi cao, nhìn thấy cả bốn bề xa gần, Phật
ý cao viễn, Ngài thấy mọi loài sanh tử cũng vậy.

Các ngươi nếu
theo lời chỉ dạy của ta, thì biết rõ tử sanh trong muôn ngàn kiếp. Thật hành ba
mươi bảy pháp trọng yếu là 4 món niệm xứ, 4 món chánh cần, 4 món thần túc, 5
căn, 5 lực, 7 món giác ý, 8 món chánh đạo để trừ bỏ sự nhơ xấu nơi tự tâm, diệt
trừ
ba độc tham, sân, si, cắt dứt mối nghi ngờ, khai hóa trí-thức thanh tịnh,
như chư Phật, là có thể biết được việc quá khứ vị lai.

— Các đệ-tử!
Người đời làm những điều thiện ác, chết rồi đều có sự báo đáp lại cả. Nhưng
không ai biết được là vì chưa có ba thứ tịnh nhãn. Bị ngăn ngại theo lục căn, nhìn
với con mắt thịt, cứ làm theo những việc xấu xa ô trược, đắm đuối trong chỗ ngu
si
, chuyển hóa theo giòng sanh tử, bị xác thân chướng ngại, nên rời việc cũ say
việc mới, không thể biết có sự báo đáp tùy theo hạnh nghiệp ấy. Chứ ở đời có sự
thọ phước, thọ ương, hoặc tương lân, tương ố lẫn nhau, đó chính là sự thật, chứng
nghiệm
việc báo tin của hạnh nghiệp quá khứ vậy.

Người đời bị
trói buộc trong sự nghi ngờ, sanh ra từ chỗ ngu si, không chút hành vi
thanh-tịnh, mà muốn biết việc đời trước cùng những hiệu quả báo ứng, họ khác
nào kẻ không tay muốn viết, không mắt muốn trông. Vì cớ đó Phật ra đời, giảng
bày kinh đạo, mở mang tâm ý mọi người. Ai là kẻ muốn biết rõ và cải hoán nhân
quả
hưởng thọ của mình trong đường sanh tử, hãy tùy theo Phật-giáo, thật hành đạo
pháp, trau dồi trí tuệ, điều chính tâm ý, luyện tập thiền quán, thì đều có hiệu
quả
được cả.

— Các đệ-tử!
Thần thức có danh không hình, tùy hành vi thiện ác và bốn món đại làm thể chất.
Lúc mới sanh thân nhỏ, sáu căn chưa đủ, kiến thức hẹp hòi, hiểu biết cạn cợt, đến
khi khôn lớn, đủ cả sáu căn, thức tâm huân tập thêm những điều ái dục, càng
ngày càng nhiều, cho đến ngày suy yếu, bốn đại tiêu mòn, thức tâm không còn
minh mẫn, sáu tình giảm ít. Chỉ trong một đời hiện tạivô thường thay đổi,
sau không giống trước, kiến thức khi trẻ như bị quên hết với tuổi già, huống
chi nhiều đời cách biệt, thai ấm ngăn che, chưa được đạo ý, tà hạnh mê lầm, mà mong
biết sau khi chết trở lui báo tin. Mong biết việc trước như vậy, khác nào kẻ
xâu kim trong đêm tối, tìm lửa trong nước mà thôi.

Vậy các đệ-tử!
Hãy siêng năng thực hành kinh giới, thâm tư nguồn gốc sanh tử: Từ đâu lại và sẽ
về đâu? Nhân gì mà có sự qua lại? Duyên gì mà phải sanh tử? Suy xét cho kỹ tự
tánh
vô ngã của các pháp, thì mọi điều nghi ngờ nhất thời tự giải.

Phật nói kinh
nầy rồi, năm trăm Tỷ-Khưu và Ưu-Bà-Tắc, đều được kiến đạo và các hàng Bồ-Tát
đều được bất thoái tam muội. Tất cả đứng dậy, nhiễu quanh Phật ba vòng, lễ Phật
sát đất, lễ xong, theo Phật trở về Tinh-Xá.