Làm thế nào để biết chắc chắn mình đang tu đúng Pháp? Hãy nhìn thẳng vào đời sống hàng ngày của chính
mình. Bạn có thấy tâm mình luôn bình tĩnh
trước tất cả sự việc xảy ra hay không, hay là bạn thường xuyên lo âu chuyện này
chuyện nọ? Tu đúng Pháp làm cho bạn trưởng
thành về Tâm Linh. Sự trưởng thành tâm
linh thực sự sẽ tuần tự dẫn con người từ tình trạng hỗn loạn đến trạng thái yên
bình – từ đời sống nhộn nhịp đến bình
tĩnh và thanh thản. Đó chính là đặc điểm
vi diệu thù thắng thứ nhất trong Pháp và
Luật của Thế Tôn, cũng là dấu hiệu rỏ nhất chứng minh rằng bạn đang tu đúng Pháp. Điều này được Phật mô tả trong Kinh A-Tu-La Pahàràda, Tăng Chi Bộ Kinh
(IX) (19) như sau:
“Ví
như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự
sâu dần, không cóthình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong
Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con
đường là tuần tự, không có sự thể chấp chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng
trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự,
các con đường là tuần tự, không có sự thể chấp chánh trí thình lình, nên này
Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo
thích thú trong Pháp và Luật này”
Bản chất của biển lớn trong ví dụ trên của Thế Tôn cho chúng
ta một minh chứng về sự thật này: Gần bờ,
những con sóng ồn ào đánh tung vào ghềnh
đá, tung bọt trắng xóa rồi vội vã rút đi.
Ra xa hơn những con sóng bạc đầu giờ chỉ
là những gợn sóng từng bước giảm dần khi đại dương tiến triển theo chiều sâu .
Xa tít xa về phía chân trời, tất cả thật tĩnh lặng và thanh thản.
Đạo lộ tu tập theo con đường Giác Ngộ Giải Thoát của Thế Tôn cũng theo nguyên tắc tương tự. Đời sống thường nhật của người vô văn phàm phu
như những con sóng gần bờ tìm vui trong cuộc chơi hơn thua được mất bọt bèo của
cuộc sống . Khi gió vô thường thổi qua,
tâm thức của kẻ vô văn Phàm Phu dậy sóng, vì người đó không thấy, không biết,
không thể nhập chiều sâu trong biển Pháp và Luật của Thế Tôn. Trong khi những người con Thích Tử, thấu hiểu
sự vô lý trong cuộc chơi bất tận đó, đi sâu vào lòng Pháp, thể nhập trong lòng Pháp và Luật của Thế Tôn.
Đó là một trình tự xuôi
dòng có hệ thống có khả năng đưa tâm thức bạn từ lăng xăng bất ổn và xung đột đến
thanh thản và bình an. Trong đó các học
Pháp là tuần tự, các quả dị thục (tức là kết quả cụ thể, cảm nhận riêng biệt trên
thân tâm và trí tuệ tâm linh) cũng là tuần tự, các con đường cũng tuần tự. Do vì nhận thức được tính khoa học và
phương pháp tu rất có hệ thống này, nên các người con Phật đời xưa cũng như đời
nay rất hoan hỷ, có niềm tin, và tinh tấn đều đặn để thực hành Pháp này.
Thế giới mà con người đang sống đây không chi khác hơn là thế
giới được cảm nhận qua các giác quan: sự tương tác bất tận của sáu căn, sáu trần,
và sáu thức. Trong đó vô minh và ái dục
dìm con người trong tái sinh luân hồi trải qua vô lượng kiếp sống. Đó là đời sống xô giạt và bọt bèo của những
sinh vật sống gần bờ vì không thấy không biết được chiều sâu của biển Pháp.
Ví dụ cụ thể về Pháp tu tập có hệ thống có khả năng đưa con người từ hổn loạn tới an bình đó được Phật dạy cho
Anan trong Kinh Căn Tu Tập thuộc Trung Bộ
Kinh. Khi các căn được tu tập đúng đắn
theo Pháp và Luật của các bậc Thánh, thế giới sẽ hiện đúng như thật trong đặc tính
Y Duyên Khởi Pháp Tánh của chính nó và hành giả sẽ tuần tự cảm nhận được sự an
tịnh thù thắng của biển Pháp. Trong bài
kinh này, nhân việc một thanh niên Bà-la-môn Uttara, đệ tử của Pasariya, trình
bày pháp môn tu tập các căn của thầy mình–Pasariya, Thế Tôn dạy cho Anan về vô
thượng căn tu tập cho các Thánh Đệ Tử nghe như sau:
“– Ở đây, thưa Tôn giả
Gotama, không nên thấy sắc với mắt, không nên nghe tiếng với tai. Như vậy, thưa
Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pasariya thuyết căn tu tập cho các đệ tử
— Nếu là như vậy, này
Uttara, theo như lời nói của Bà-la-môn Pasariya, người mù sẽ là người có căn tu
tập, người điếc sẽ là người có căn tu tập. Này Uttara, người mù không thấy sắc
với mắt, người điếc không nghe tiếng với tai.
Khi được nói vậy,
thanh niên Bà-la-môn Uttara đệ tử của Pasariya ngồi im lặng, hổ thẹn, thụt vai,
mặt cúi gầm xuống, trầm ngâm, không nói năng gì. Rồi Thế Tôn, sau khi biết được Uttara, đệ tử
của Pasariya im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt cúi gầm xuống, trầm ngâm, không
nói năng gì, liền gọi Tôn giả Ananda và nói:
— Này Ananda,
Bà-la-môn Pasariya thuyết cho các đệ tử căn tu tập một cách khác; nhưng trong
giới luật các bậc Thánh, vô thượng căn tu tập khác như vậy.
— Bạch Thế Tôn, nay
đã đến thời ! Bạch Thiện Thệ nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết vô thượng căn tu
tập trong giới luật bậc Thánh. Sau khi nghe Thế Tôn, các vị Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
— Vậy này Ananda, hãy
nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
— Thưa vâng, bạch Thế
Tôn.
Tôn giả Ananda vâng
đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
— Này Ananda, thế nào
là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh?
Ở đây, này Ananda, vị Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất
khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau:
“Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả
ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là
an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”.
Cho nên, dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất
khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Này Ananda, như một người có mắt,
sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy,
như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng
đối với cái gì đã khởi lên, khả ý bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều
đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Trong giới luật bậcThánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập
đối với các sắc do mắt nhận thức.Như vậy, này Ananda, là bậc Thánh, các căn được
tu tập.”
Trong bài Kinh này, Phật dạy Anan sau khi như thật tuệ tri về
đặc tính khởi lên do nhân duyên (Y Duyên Khởi Pháp Tánh- Iddappacayatà) của các
pháp khả ý, bất khả ý, nhận ra tính chất vô thường và hữu vi của chúng (như đám
bọt biển gần bờ) hành giả an trú trong trạng thái Xả. Vì an trú trong Xả, cho nên
các Pháp khả ý, bất khả ý cho dầu khởi lên, tất cả chắc chắn sẽ đoạn diệt trong
vị ấy, và trạng thái Xả tồn tại. Và điều này thật là an tịnh và thù thắng (tức
trạng thái xả) như là sư tịch tịnh của
biển sâu rất xa bờ (sư vắng mặt của trạng thái lăng xăng).
Sau khi an trú và thực hành nhiều lần như vậy đối với tất cả
các căn khác như tai, mủi, lưởi, thân, và ý. Hành giả trực nhận ra tính chất vô
thường của tâm thức cạn cợt của các căn, vị ấy không còn tham đắm với đám bột
biển danh lợi gần bờ do 18 giới tạo dựng nữa mà sẽ tinh tấn dùng chính sức mình
tự thực hành thâm sâu giáo Pháp của Thế Tôn. Vị ấy thành tực Chánh Kiến ngay trong hiện tại. Là Phật Tử chân chánh của
Thế Tôn. Vậy nên có kệ rằng:
“Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng.
Tức là, Trạng Thái Xả,
Phàm tất cả Pháp gì
(Khả Ý, Bất Khả Ý Hay Khả Ý Bất Khả Ý)
Tất cả đều do Nhân Duyên mà sanh khởi lên,
Chúng sẽ mau chóng dễ dàng cũng do Nhân Duyên mà đoạn diệt.
Tất cả phơi bày thật rõ ràng như thế như thế: Cái gì có bản chất sanh ra, cái đó có bản chất
đoạn diệt!
Nhưng Xả này tồn tại.
Đây là pháp môn vô thượng căn tu tập.
Đưa tới nhất hướng Nhàm Chán, Yểm Ly, Ly Tham, Đoạn Diệt, Niết
Bàn
Con đê đầu đảnh lễ Thế Tôn,
Trong tất cả học Pháp, Pháp này thật vi diệu
Vì tất cả là tuần tự nhưng chỉ có một mục đích duy nhất là
Giải Thoát”
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.























