Giới Thiệu Và Giải Thích Đề Kinh Kim Cương Bát Nhã

0
17

GIỚI THIỆUGIẢI THÍCH ĐỀ KINH
KIM CƯƠNG BÁT NHÃ


Thích Thái Hòa

Không lý từ văn hệ A hàm đến Bát Nhã:

Kinh Kim Cương
thuộc văn hệ Bát Nhã, văn hệ Bát Nhã nầy theo Ngài Thế Thân (Vasubandhu) một Nhà Phật học hết sức uyên áo của Phật giáo Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ tư Tây
lịch cho rằng, Pháp tạng nầy đã được Đức Phật giảng dạy đầu tiên tại thành
Vương Xá, bắt đầu từ năm thứ năm, kể từ khi Đức Thế Tôn thành đạokinh Kim
Cang
Bát Nhã đã được Đức Phật giảng dạy sau cùng trong văn hệ Bát Nhã, và cũng
theo Ngài Thế Thân các kinh thuộc văn hệ Bát Nhã trước Kim Cang, Đức Phật dạy
cách loại trừ “ tướng”, nhưng chưa triệt để, đến thời Đức Phật dạy Bát Nhã sau
cùng, là nhắm tới dùng Bát Nhã để chặt đứt mọi sự mắc kẹt của tâm vào các tướng
một cách triệt để, do đó mà gọi văn hệ Bát Nhã sau cùng là Kim Cang ( Kim Cang
Tiên Luận 1, bản Hán dịch của Ngài Bồ Đề Lưu Chi, tr 798a, Đại Chính Tân
Tu 25).

Và theo sự phán
giáo
của Ngài Thiên Thai Trí Giả ( 538 – 597 ) là một Nhà Phật học nổi tiếng
là một vị Tổ Sư của Thiên Thai Tông ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ 6 Tây lịch cho rằng,
Đức Phật bắt đầu giảng dạy văn hệ Bát Nhã cho chúng đệ tử từ năm thứ hai
mươi kể từ khi Ngài thành đạo.

Nội dung của
bài kệ phán giáo ấy như sau:

Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật
A hàm thập nhị, Phương đẳng bát
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm
Pháp hoa, Niết Bàn cộng bát niên.

Nghĩa là:

Hai mươi mốt
ngày Đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm;
Mười hai năm Ngài
nói kinh A Hàm; tám năm nói kinh Phương Đẳng;
Hai mươi hai năm
nói kinh Bát Nhã; và tám năm nói kinh Pháp HoaNiết Bàn.

Như vậy, theo
sự phán giáo nầy, thì kinh Bát Nhã đã được Đức Phật bắt đầu giảng thuyết từ năm thứ hai mươi kể từ khi Ngài thành đạo.

Tuy nhiên, đây
chỉ là sự phán giáoý nghĩa hết sức tương đối, vì sao ? Vì nếu chúng ta đọc
kỹ các kinh thuộc văn hệ A Hàm hay Nikàya như Tạp A Hàm hay Tương ưng bộ kinh
chúng ta thấy rằng, ở trong các kinh nầy, Đức Phật cũng đã trình bày giáo lý
Duyên Khởi, Không, Vô thường, Vô ngãNiết Bàn một cách tóm tắt và cô đọng,
và những giáo lý nầy đã được Đức Phật trình bày một cách sâu rộng ở trong Văn
hệ Bát Nhã. Và ở văn hệ nầy đã khai triển Lý nghĩa của Không một cách triệt để
và có hệ thống.

Do đó, suốt bốn
mươi chín năm du hóa, tùy theo căn cơ và khả năng tu chứng của hàng đệ tử nghe
pháp
Đức Phật thuyết giáo với giáo lý hoặc sâu, hoặc cạn, hoặc rộng, hoặc hẹp,
hoặc cao, hoặc thấp, hoặc cô đọng, hoặc khai triển, hoặc có thể nghĩ bàn, hoặc
không thể nghĩ bàn…. chứ không phải đi theo một tuần tự rạch ròi, mang tính
khoa bản như sự phán giáo của Ngài Thiên Thai Trí Giả.

Bởi vậy, ta
không ngạc nhiên, khi nghiên cứu kinh A hàm và Nikàya lại hàm chứa nghĩa Lý
Không của văn hệ Bát Nhã. Chẳng hạn đọc Pháp Ấn kinh, bản
dịch của Ngài Thi Hộ, ở trong Tạp A Hàm, Đại Chính Tân Tu 02, trang 500, ta thấy
Đức Phật đã trình bày giáo lý về Không cho các Tỷ khưu một cách thú vị như
sau:

Ngài nói: “Hỡi
các Tỷ khưu! Tánh Không không có sở hữu, không có vọng tưởng, không có khởi
điểm, không có kết thúc, siêu việt mọi quan hệ nhận thức.

Vì sao ? Vì
Tánh Không, không lệ thuộc không gian, không lệ thuộc sắc tướng, vượt ra ngoài
tưởng uẩn, nó vốn không lệ thuộc vào điểm khởi sinh, vượt ra ngoài sự hiểu biết
đối chiếusiêu việt mọi vướng mắc. Vì do nó siêu việt mọi vướng mắc, nên hết
thảy pháp nó đều dung nhiếp…”

Và ở trong Tiểu
Không
kinh thuộc kinh tạng Pàli, Trung bộ 3, bản dịch của Ngài Thích Minh Châu,
trang 252 – 259 Đại Học Vạn Hạnh 1975, Đức Phật đã nói về sự an trú đối với
Tánh Không như sau:

Này Ananda,
sau khi chứng đạt, ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng Không tánh. Như vậy, nầy
Ananda, các ông cần phải học tập.”

Và đọc Tương
ưng bộ kinh
2, ta thấy gần hết hai phần nội dung của kinh là trình bày giáo lý
thuộc về Duyên KhởiVô Ngã; và đọc Tương ưng bộ kinh 3, ta thấy hết
nửa phần nội dung của kinh là trình bày giáo lý thuộc về Ngũ uẩnVô ngã. Như
vậy, những giáo lý nầy đã được các kinh điển thuộc văn hệ Bát Nhã khai triển
một cách triệt để về mặt chiều sâu cũng như chiều rộng đối với ý nghĩa Không
của nó, mà điển hình là Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh 5, bản dịch của Ngài
Huyền Tráng, trang 23, Đại Chính Tân Tu 5, đã đề cập đến hai mươi loại ý
nghĩa
của Không, mà trong đó Nhất Thế Pháp Khôngtánh không của hết thảy
pháp; Bất Khả Đắc Khôngtánh không của cái không thể ý niệm, không thể nắm bắt;
Vô Tánh Không là tánh không của cái vô thể; Tự Tánh Khôngtánh không của tự
tính
; Vô Tánh Tự Tánh Khôngtánh không của vô tánhtự tánh, đây là những
loại Không mà văn hệ Bát Nhã đã khai triển một cách sâu rộngtriệt để
từ nơi nghĩa Không của giáo lý Duyên Khởi, Vô thường, Vô ngã đã được diễn tả
trong các văn hệ thuộc kinh tạng A Hàm và Nikàya.

Giáo lý được
trình bày ở trong văn hệ A Hàm và Nikàya rất chú ý đến Ngã Không; nhưng giáo lý
được trình bày ở trong văn hệ Bát Nhã không những chỉ trình bày Ngã Không
còn trình bày đến Tướng-Không của Ngã và Pháp một cách triệt để nữa.

Ngã Không hay
Ngã Thể tức Không hay còn gọi là Nhân không, nghĩa là ngũ uẩn tạo nên thân tâm
con người hay chúng sanh, trong đó chúng hoàn toàn không có Ngã thể, nên gọi là
ngã thể tức Không.
Pháp Không hay
Pháp Thể tức Không, nghĩa là trong năm uẩn không có ngã thể đã đành, mà ngay
trong mỗi uẩn cũng không có ngã thể. Cực vi hay vi trầnđơn vị cực tiểu của
sắc uẩn, chính nó cũng tương tác duyên khởi, nên chúng hoàn toàn không có pháp
thể
tồn tại cá biệt; và ý niệmđơn vị cực tiểu của tâm ý, nó cũng tương tác
duyên khởi, nên tâm cũng không có pháp thể tồn tại cá biệt, bởi vậy mà gọi là
pháp thể tức Không.

Không đã được
các kinh điển và các Nhà Phật học Đại Thừa khai triển sâu và rộng nhiều loại,
tuy nhiên ở đây ta có thể tóm thâu gồm bốn loại như sau:

Đương thể
tức không
:

Tất cả vạn hữu
đang hiện tiền, chúng không rời Không, nghĩa là ngay trong sự hiện hữu ấy, tự
tính
của nó là Không.

Ngài An Tuệ
trong Đại Thừa Trung Quán Thích Luận 4, trang 144, Đại Chính Tân Tu 30, nói:

Nhất thế bất ly không
Nhất thế đắc thành tựu.

Nghĩa là:

Vạn hữu không rời không,
Hết thảy đều thành tựu.

Duyên khởi
tức không:

Tất cả sự hiện
hữu
, không có sự hiện hữu nào là đơn điệu, chúng không thể tự sinh, cũng không
phải từ nơi cái khác mà sinh, mà chúng sinh khởi là do quan hệ nhân duyên.

Cái gì có quan hệ
nhân duyênsinh khởi, thì tự tính của cái đó là Không.

Hạt mít không
thể tự sinh cây mít, nếu khôngmặt trời, trái đất, nước, không khí… Và mặt
trời
, trái đất, nước, không khí… cũng không thể sinh ra cây mít, nếu không
hạt mít.

Vậy, hạt mít mà
sinh ra cây mít là do quan hệ nhân duyên. Cái gì do quan hệ nhân duyênsinh
khởi
, thì tự tính của cái đó là Không.

Nên, ở trong
Trung Quán Luận 4, trang 33, Đại Chính Tân Tu 30, Ngài Long Thọ nói:

Vị tằng hữu nhất
pháp

Bất tùng nhân
duyên
sinh.
Thị cố nhất thế
pháp
Vô bất thị Không
giả.

Nghĩa là:

Chưa từng có pháp
nào,
Không từ nhân
duyên
sinh.
Do đó, hết thảy
pháp,
Tự tính đều là
Không.

Đương sinh
vô sinh tức không:

Vạn hữu đang
sinh khởi trước mắt chúng ta là do quan hệ nhân duyên, nhưng tự tính nơi vạn
pháp
thì không sinh, không diệt.
Do đó, Tính Không
là tính vô sinh ngay ở nơi các pháp duyên khởi đang sinh diệt ấy.

Nên, ở trong
Trung Quán Luận 1, trang 2, Đại Chính Tân Tu 30, Ngài Long Thọ nói:

Chư pháp bất tự sinh,
Diệc bất tùng tha
sinh
;
Bất cộng bất
nhân
,
Thị cố tri
sinh
.

Nghĩa là:

Vạn hữu không tự sinh,
Không từ cái khác sinh;
Không phải đồng chung sinh,
Không phải vô nhân sinh,
Nên biết rằng, vô sinh.

Thực tướng
tức không:

Không tướng
thực tướng của vạn pháp, thực tướng ấy không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, cũng
không thể dùng ý niệm để ý niệm.
Cái có thể diễn tả
được, có thể ý niệm được, đó là cái sinh và cái diệt; còn cái thực tướng
sinh
, vô diệt thì không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, hay bằng ý niệm. Cái không
thể diễn tả bằng ngôn ngữ hay bằng ý niệm đó, chính là thực tướng vô tướng. Ấy
thực tướng Bát NhãThiền Tông gọi là bản địa phong quang và ở Trung Quán
Luận
3, trang 24, Đại Chính Tân Tu 30, gọi là Thực tướng của các pháp qua bài
kệ
dưới đây:

Chư pháp thực tướng giả
Tâm hành ngôn ngữ đoạn
Vô sanh diệc vô diệt
Tịch diệt như Niết bàn.

Nghĩa là:

Thực tướng của các pháp
Dứt tâm hành, ngôn ngữ;
Không sanh cũng không diệt,
Vắng lặng như Niết bàn.

Giáo lý
chủ đạo của kinh Kim cang:

Đọc, tụng, hành
trì
và cảm nhận kinh Kim Cang Bát Nhã sâu rộng như thế nào là tùy theo căn khí
chứng nghiệm của từng người, tuy nhiên ở đây theo chúng tôi, giáo lý của Kinh
Kim Cang
Bát Nhã có những điểm chủ yếu như sau:

Phát tâm, an
trú
tâm và hàng phục tâm:

Đọc phần mở đầu
của kinh kim Cang theo Phạn bản, ta thấy thính chúng nghe pháp không còn đơn
thuần
là các hàng Thánh giả Thanh văn như các kinh thuộc văn hệ A Hàm và Nikàya
mà ta còn thấy có sự xuất hiện của các hàng Thánh giả bồ tát nữa; điều nầy
chứng tỏ rằng, tư tưởng của kinh Kim cang Bát Nhã bao gồm cả Thanh văn thừa
bồ tát thừa. Thanh văn thừagiáo lý hướng dẫn cho những vị thánh giả nỗ
lực
tu tập để đoạn trừ ngã chấp, ngộ nhập ngã- không và hiện chứng Niết bàn; Bồ
tát thừa
giáo lý không những chỉ hướng dẫn cho các thánh giả nỗ lực tu tập để
đoạn trừ ngã chấp mà còn nỗ lực đoạn trừ pháp chấp, hướng đến đạo quả vô thượng
bồ đề
chứng nhập cảnh giới Vô trú xứ Niết bàn.

Sự tham dự của
các hàng bồ tát ở trong Chúng hội của Phật nói kinh Kim cang Bát Nhã, rất tiếc
là các bản Hán dịch đều không có đề cập.

Kinh kim cang
có sáu bản Hán dịch, bản Hán dịch sớm nhất là bản của Ngài Cưu Ma La Thập vào
thế kỷ thứ năm, bản dịch của Ngài Bồ Đề Lưu Chi vào đầu thế kỷ thứ sáu, bản dịch
của Ngài Chân Đế vào giữa thế kỷ thứ sáu, bản dịch của Ngài Cấp Đa vào cuối thế
kỷ thứ sáu, bản dịch của Ngài Huyền Tráng vào giữa thế kỷ thứ bảy và bản dịch
của Ngài Nghĩa Tịnh vào đầu thế kỷ thứ tám. Tất cả các bản Hán dịch nầy đều đã
không có đề cập đến sự tham dự của các hàng bồ tát ở trong Chúng hội Phật nói
Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Tuy nhiên, Kinh nầy ở trong bản dịch tiếng Anh
của Tiến Sĩ Edward Conze, bản Ấn hành năm 1956 và năm 1975, ngoài Chúng hội
Thanh văn còn có cả Chúng hội bồ tát ở trong Đại chúng nghe Đức Phật giảng dạy Kinh
Kim Cương Bát Nhã nầy.

Sở dĩ, Đức Phật
nói Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba la Mật là do sự thưa thỉnh của Tôn giả Tu Bồ
Đề
với ba nội dung chính như sau: Thứ nhất là phát bồ đề tâm, tức là phát tâm tu
tập
để thành tựu đạo quả vô thượng bồ đề; thứ hai là làm thế nào để an trú tâm
ấy; và thứ ba là làm thế nào để hàng phục vọng tâm.

Đây là ba vấn
đề
chủ yếu của kinh Kim Cang bát Nhã Ba La mật mà bất cứ ai phát tâm tu tập
theo tinh thần Phật giáo Đại thừa không thể không tham học để minh triệt nghĩa
, nhằm hành trì để đạt tới cứu cánh của sự tu học.

Không vướng mắc
bởi bất cứ đối tượng nào :

Giáo lý Đức
Phật
dạy không vướng mắc bởi bất cứ đối tượng nào, đã được ghi lại ở trong
Thích trung thiền thất tôn kinh, Trung A Hàm, bản Hán dịch của Ngài Cù Đàm Tăng
Già Đề Bà
, trang 698, Đại Chính Tân Tu 1, và ở trong Kinh
Lomasakangiyabhaddekaratta thuộc Majjhima Nikàya văn hệ Nam truyền, chính là
không vướng mắc đối với năm uẩn thuộc về quá khứ, thuộc về hiện tại hay thuộc về
tương lai.
Không vướng mắc
bởi bất cứ đối tượng nào, Kinh Kim Cang Bát nhã Ba La Mật gọi là “ Ưng vô sở
trú
“( Na kacit pratisitihitena ), nghĩa là phát khởi bồ đề tâm tu tập không để
bị vướng mắc bởi các vọng tưởng, bởi vì còn tưởng thì còn vướng mắc. Chủ yếu
của kinh nầy là phủ nhận triệt để mọi sự hiện hữu của ý tưởng, mà nhất là ý
tưởng
về Ngã (Àtmasamijnõà), về con người (Pudgalasamijnõàø), về chúng
sanh
(Sattvasamijnõà ), và về thọ mạng (Jìvasamijnõà ), vì còn có ý tưởng
về ngã là còn có thiên kiến, còn có giận hờn, còn có sợ hãi, còn có bất minh,
còn có kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những cái phi ngã và đối với những
cái không liên hệ ngã; vì còn có ý tưởng về con người thì còn có thiên kiến,
còn có giận hờn, còn có sợ hãi, còn có bất minh, còn có kỳ thị và phân biệt đối
xử đối với những cái không phải là con người và kỳ thị phân biệt đối xử đối với
những loài không phải là con người; vì còn có ý tưởng về chúng sanh là còn có thiên
kiến
, còn có giận hờn, còn có sợ hãi, còn có bất minh, còn có kỳ thị và phân
biệt
đối xử đối với những cái không phải là chúng sanh và đối với những
loài không phải là chúng sanh; vì còn ý tưởng về thọ mạng là còn có thiên kiến,
còn có giận hờn, còn có sợ hãi, còn có bất minh, còn có kỳ thị và phân biệt đối
xử đối với những cái không phải là thọ mạng. Vì phát tâm và trú tâm mà còn có
thiên kiến hay ái kiến thì hành xử không phù hợp với Trung đạo; vì phát tâm
trú tâm mà còn có giận hờn thì sự hành xử không phù hợp với Từ bi; vì phát tâm
trú tâm mà còn có sự sợ hãi thì hành xử không phù hợp với Vô úy; vì phát tâm
trú tâm mà còn có bất minh, thì hành xử không phù hợp với trí tuệ; vì tâm mà
còn kỳ thị và phân biệt đối xử thì mọi hành xử không phù hợp với thể tính như
như
bình đẳng. Và vì do như vậy mà Kinh Kim Cang Bát Nhã không những chỉ phủ
nhận triệt để những ý tưởng về ngã, về con người, về chúng sanh và về thọ mạng,
mà cũng còn phủ nhận luôn cả những ý niệm về pháp và ý niệm về không phải pháp,
nghĩa là tất cả ý niệm đều bị kinh nầy phủ nhận một cách triệt để, và không những
vậy mà kinh nầy còn phủ nhận một cách triệt để những ý niệm về giáo, về lý, về
hạnh và về quả. Hay nói một cách khác, tuệ giác của Kim Cang Bát Nhã có khả năng
chặt đứt phăng những hệ lụy của hành giả đối với giáo pháp, lý pháp, hạnh pháp
và quả pháp, khiến cho hành giả bước đi những bước vững chãithong dong
không bị vướng mắc bởi bất cứ cái gì trên lộ trình tiến tới giác ngộ.

Pháp và phi
pháp
:

Pháp được đề
cập ở Kinh Kim Cang Bát Nhã là pháp liên hệ đến pháp chứng và pháp giáo của Đức
Thế Tôn
.

Pháp chứng của
Đức Thế TônNiết bàn, là thực tướng vô tướng. Pháp nầy Kinh Kim Cang Bát
Nhã
, bản Hán dịch của Ngài Cưu Ma La Thập gọi là: “Như lai sở thuyết pháp, giai
bất khả thủ, bất khả thuyết, phi pháp phi phi pháp. Sở dĩ giả hà, nhất thế hiền
thánh
, giai dĩ vô vi pháp, nhi hữu sai biệt (Đại Chính Tân Tu 8, tr 749b)”.
Nghĩa là: Pháp được nói bởi Như lai đều không thể nắm bắt, không thể nói năng,
không phải là pháp, không phải là phi pháp. Tại vì sao? Vì hết thảy các bậc
Hiền Thánh đều từ nơi pháp vô vibiện biệt.

Và pháp nầy ở
trong kinh Kim Cang Bát Nhã, Phạn bản như sau:” Yo’sàu tathàgatena dharmo’bhisamibudho desùito và, agràhyahi so’nabhilapyahi/ na sa dharmo
nàdharmahi/ Tat kasya hetohi? Asamskritaprabhàvità hyàrypudgalàhi/.” Nghĩa là:
Pháp giác ngộ ấy được trình bày với Như Lai, pháp ấy không thể nắm bắt, không
thể nói năng, pháp ấy không phải là pháp, không phải là phi pháp. Tại vì sao?
Vì các bậc Hiền Thánh từ pháp vô vithông hiểu.

Pháp vô vi
kinh Kim Cang Bát Nhã đang đề cập ở đây là Chân như vô vi, là pháp tuyệt đối,
pháp không còn có sự đối đãi, nghĩa là pháp ấy tự nó là nó, nó không còn
sinh diệt, nó là thực tướng vô tướng.

Vô vi tiếng Phạn là Asamkrita, nghĩa là pháp hiện hữu không do quan hệ nhân duyên. Và
từ ngữ prabhàvità ở trong đoạn kinh Kim Cang Bát Nhã của Phạn văn nầy, Ngài Cưu
Ma La Thập
dịch là “sai biệt”(Đại Chính Tân Tu 8, tr 749); Ngài Bồ Đề Lưu Chi
dịch là “đắc danh”(Đại Chính Tân Tu 8, tr 753); Ngài Lưu Chi dịch là “hiển
hiện’”(Đại Chính Tân Tu 8, tr 758); Ngài Chân Đế dịch là “hiển hiện”(Đại Chính
Tân Tu 8, tr 762); Ngài Cấp Đa dịch là “hiển minh” (Đại Chính Tân Tu 8, tr
767); Ngài Huyền Tráng dịch là “sở hiển” (Đại Chính Tân Tu 7, tr 981).
Edward Conze trong bản Anh, dịch là “exalt”(đề cao, làm cho cao hơn).
Vậy, Prabhàvita, theo
các bản Hán dịch có rất nhiều nghĩa, nhưng ở đây tôi dịch là thông hiểu. Nghĩa
là các bậc Hiền Thánh từ nơi pháp vô vithông hiểu thế nào là pháp và thế nào
phi pháp và các địa vị giải thoát, giác ngộ cũng từ đó mà được biểu hiện sai
khác.

Pháp giáo
pháp do Đức Phật dạy, như Giới Định Tuệ, như Ba mươi bảy phẩm trợ đạo và như
Lục độ vạn hạnh … đây là những pháp phương tiện, giúp hành giả thực hiện để đi
đến đời sống giải thoátgiác ngộpháp giáo không phải là giải thoát, giác
ngộ
. Chất liệu giải thoát giác ngộNhư Lai, là Ứng cúng, là Chánh biến tri, là
Minh hành túc, là Thiện thệ, là Thế gian giải…,những chất liệu nầy do sự thực
hành pháp
giáo ấy của Thế Tônthành tựu.

Thực hành các
pháp giáo nầy, các kinh điển thuộc văn hệ A Hàm và Nikàya cũng như các kinh
điển
thuộc văn hệ Đại Thừa cũng hết sức đề cao, nhưng ở kinh Kim Cang Bát Nhã
lại rất đặc biệtnhấn mạnh đến sự đình chỉ mọi vọng tưởng về một bản ngã cố
hữu nơi năm uẩn và mỗi uẩn, về một bản ngã cố hữu nơi con người, về một
bản ngã cố hữu nơi chúng sinh và về một bản ngã cố hữu nơi thọ mạng, trước và
trong khi đang thực hành các pháp giáo, thì mới đi đúng chánh đạo, thẳng đến
địa vị Giải ThoátToàn Giác mà không bị rơi vào tà kiến, tà đạo hay không bị
rơi vào các pháp hữu vi đối đãi.

Bởi vậy, kinh nầy
Hán bản nói: “Dĩ vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, tu nhất thiết
thiện pháp tắc đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Đại Chính Tân Tu 8, tr 751c)”. Chúng tương đương với Phạn bản như sau: “Niràtmatena nihsattvatvena
nirjìvatvena nisipudgalatvena samàsà-anuttaràsamyaksamibodhihi sarvaihi kusùalair dharmàir abhisamibudhyate”. Nghĩa là: Thực hành tất cả thiện pháp với tâm không
vướng mắc ngã, nhân, chúng sanhthọ giả, thì chứng đắc quả vị Giác Ngộ Hoàn
Toàn
.

Giác ngộ hoàn
toàn
chính là giác ngộ “Thực tướng vô tướng; thực tánh vô tánh”, đây là pháp
chứng của chư Phật mười phươngba đời; còn Giới Định Tuệ, Ba mươi bảy phẩm trợ
đạo
, Lục ba la mật…, là thuộc về pháp giáo. Đối với pháp giáo, kinh Viên Giác
nói: “Nhất thiết Tu Đa La như tiêu nguyệt chỉ”, nghĩa là: Tất cả Kinh điển đều
như ngón tay chỉ mặt trăng. Và Kinh Ví dụ người bắt rắn ở Trung A Hàm, cũng như
Trung bộ kinh đều nói rằng: “Pháp Như Lai giảng dạy, ví như chiếc bè đưa
người sang sông, khi sang sông rồi thì không nên mắc kẹt ở nơi chiếc bè, mà hãy
buông bỏ chiếc bè để bước lên bờ”. Và đừng mắc kẹt ở nơi pháp giáo, ở kinh Kim
Cang
Bát Nhã nầy lại nhấn mạnh một cách thú vị như sau: “Như Lai thường thuyết,
nhữ đẳng tỷ khưu, tri ngã thuyết pháp, như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả,
huống
phi pháp (Đại Chính Tân Tu 8, tr 749b)”. Nghĩa là: Như Lai thường nói,
hỡi các thầy Tỷ Khưu! Hãy biết lời thuyết pháp của tôi, ví như chiếc bè, pháp
mà còn phải buông bỏ, huống gì là không phải pháp.

Pháp mà các
thầy tỷ khưu cần phải hết lòng thực tậppháp giáo hay pháp thuyết của Đức
Thế Tôn
, nhưng pháp ấy cần phải buông bỏ khi vô lậu thiện pháp phát sinh và
viên mãn trong đời sống của hành giả. Hay nói theo tinh thần của kinh Kim Cang
Bát Nhã, nghĩa là khi giác ngộ được “thực tướng là vô tướng”, thì hãy buông bỏ
mọi ý niệm về tướng; và khi giác ngộ được “thực tánh là vô tánh” thì hãy buông
bỏ
mọi ý niệm về tánh, không những buông bỏ ý niệm về tướng mà còn phải buông
bỏ
ý niệm về vô tướng; không những buông bỏ ý niệm về tánh mà còn phải buông bỏ
ý niệm về vô tánh mới thức sự có khả năng chứng nhập “Thực tướng Bát Nhã” hay
chứng nhập cảnh giới “Ngã Pháp Nhị Không”.

Những ý tưởng
sai lầm về một bản ngã cố hữu nơi năm uẩn, về một bản ngã cố hữu nơi con người,
về một bản ngã cố hữu nơi chúng sanh và về một bản ngã cố hữu nơi thọ mạng; những ý tưởng sai lầm về pháp tướngvô pháp tướng, về pháp tánhvô pháp
tánh, không còn hiện khởi ở nơi các quan năng nhận thức hay vận hành
trong chiều sâu tâm thức của hành giả, thì khi ấy pháp giáo của Đức Thế Tôn
không cần phải nêu lên không cần phải tuyên thuyết và cũng không cần phải áp
dụng
. Pháp giáo của Đức Thế Tôn, ví như lương dược trị liệu cơn bệnh sinh
tử
hiểm nghèo, cơn bệnh chấp ngã và pháp cho hết thảy chúng sanh, khi chúng
sanh
đã hết sanh tử, đã hết chấp thủ những ý tưởng sai lầm về ngã và
pháp, thì thuốc ấy, dù là thần dược đến cách mấy cũng không còn có chỗ dùng. Lương
dược
mà còn như vậy, huống là phi lương dược hay là độc dược.

Phi lương dược
hay là độc dược ở đây, chính là tà giáo, tà thuyết, tà pháp hay là phi pháp. Và
phi phápác pháp mà cũng chính là hữu vi pháp. Ác pháp là pháp dẫn đến quả báo
khổ đau trong lục đạo chúng sanh. Hữu vi pháp là pháp do có sự tương quan mà
sinh khởi, pháp ấy là hư huyễn, không chơn thực, nếu tu tập mà bị mắc kẹt vào
pháp nầy, thì bị nó đánh lừa và bị trôi lăn ở trong sanh tử.
Bởi vậy, kinh Kim
Cang
Bát Nhã đã có bài kệ giúp ta quán chiếu để thấy rõ bản chất của các pháp
hữu vi
như sau:

Nhất thiết
hữu vi pháp
,
Như mộng, huyễn,
bào, ảnh,
Như lộ, diệc như
điển,
Ưng tác như thị
quán.”

(Bản dịch của
Ngài Cưu Ma La Thập, Đại Chính Tân Tu 8, 752).

Nghĩa là:

Hết thảy pháp
hữu vi

Như chiêm bao,
huyễn thuật,
Như bọt nước, ảo
ảnh
,
Như suơng mai,
điện chớp,
Hãy quán chiếu như
vậy.

Bài kệ nầy
trong Phạn bản như sau:

Tàrakà timirami
dìpo màyàvasyàya budbudam/
Svapnami ca vidyud abhram ca evami drasitiavya samiskritam //

Nghĩa là:

Hãy nhìn pháp hữu
vi
như vậy:
Như tinh tú, mắt bệnh
Như ngọn đèn, huyễn thuật,
Như bọt nước, chiêm bao,
Như sương mai, điện chớp.

Trong bài kệ
quán chiếu về tính chất vô thường, sinh diệt nhanh chóng, bất thực, thoạt có,
thoạt không của các pháp hữu vi nầy, kinh Kim Cang Bát nhã, bản Hán dịch của
Ngài Cưu Ma La Thập chỉ có sáu, gồm: Chiêm bao, huyễn thuật, bọt nước, ảo ảnh,
sương mai và điện chớp. Các bản Hán dịch khác gồm có chín, như tinh tú, mắt
bệnh, ngọn đèn, huyễn thuật, sương mai, bọt nước, chiêm bao, điện chớp, vầng
mây. Tuy nhiên, bản Hán dịch của Ngài Lưu Chi và Ngài Chân Đế lại thay thế
“tinh tú” bằng “ bóng đèn”. Và bản Anh dịch của Edward Conze cũng có đủ cả chín
ví dụ như một số bản Hán vậy. Tuy nhiên, ở Phạn bản, chỉ có đề cập đến tám ví
dụ để chỉ cho tám tính chất của pháp hữu vi, không có ví dụ “vầng mây”.
Ý nghĩa chín ví dụ
về pháp hữu vi, tức là các pháp thuộc về duyên khởi đã được Ngài Vô Trước tạo
tụng và Ngài Thế Thân ở trong Năng đoạn Kim cang Bát Nhã Ba la mật đa kinh luận
thích
, bản Hán dịch của Ngài Nghĩa Tịnh, Đại Chính Tân Tu 25, tr 884, giải
thích
như sau:

Kiến tướng cập dự thức,
Cư xứ thân thọ dụng,
Quá khứ tịnh hiện tồn
Vị chí tường quán sát.

Nghĩa là:

Hãy quán chiếu rõ ràng:
Cái thấy, tướng và thức,
Cư xứ, thân, thọ dụng,
Quá khứ cùng hiện tại,
Cho tới cả tương lai.

Tinh tú là ví
dụ cho cái thấy. Ánh sáng của các tinh tú, ví dụ cho cái thấy (chánh trí) thuộc
tâm pháp. Vì chúng sau khi xuất hiện, lại ẩn diệt.

Mắt bệnh là ví
dụ cho tướng của đối tượng. Vì tướng ấy là hiện khởi bất thực.
Ngọn đèn là ví dụ
cho thức uẩn. Chúng do dẫn lực dơ bẩn của ái nghiệpdựa vào ái kiếnsinh
khởi
.

Huyễn thuật là
ví dụ cho cư xứ. Tức là chỉ cho khí thế gian, tính chất của nó là bất thực.

Sương mai là ví
dụ cho thân thể. Vì chúng chỉ tồn tại trong thoáng chốc.
Bọt nước ví dụ cho
thọ dụng. Tính chất của thọ dụng là bất thực, vì tính ấy do có sự hòa hợp giữa
căn, trần, thức mà sinh khởi.

Chiêm bao là ví
dụ cho thời gian quá khứ. Vì tính của chúng, chỉ là những ý niệm tích tập, tạo
lập như chiêm bao.

Điện chớp là ví
dụ cho thời gian hiện tại. Vì tính của chúng sinh diệt một cách nhanh chóng.

Vầng mây là ví
dụ cho thời gian vị lai. Ví như A lại da thức ở vào giai đoạn huân nhiếp, cất
giữ chủng tử.

Lại nữa, chín
ví dụ đối với pháp hữu vi ở trong kinh Kim cang Bát nhã, được Ngài Công Đức Thi
giải thích ở trong Kim cang Bát nhã Ba la mật kinh, Phá thủ trước bất hoại giả danh
luận, bản Hán dịch của Địa Bà Ma La, Đại Chính Tân Tu 25, Tr 986 như sau:

Quán sát tự tại
như tinh tú: Thí như hiện tượng của các tinh tú ở trong không gian vận hành
theo phương hướng, màu sắc và ánh sáng của nó tồn tại lâu dàitính cách giả
lập
, nên rốt cuộc rồi cũng bị tận diệt. Cũng vậy, thọ dụng các phước báo như
tài vật giàu có, địa vị sang trọng ở trong cõi người, cõi trời dù có chủ quyền
dài lâu đến mấy, cuối cùng cũng đi về với cái trống không.

Quán sát cảnh
vật như mắt bệnh: Thí như mắt bị bệnh, trong không gian thanh tịnh, thấy có hai
mặt
trăng, hoa đốm bay, hay như bánh xe quay tua tủa. Sự hiểu biết bệnh hoạn do
vô minh cũng như vậy, đối với lý chân thật vốn không có xứ vật, mà thấy có các
pháp đủ loại như nội pháp, ngoại pháp, thế gian pháp, xuất thế gian pháp.

Quán sát chuyển
động như ngọn đèn: Thí như ánh sáng ngọn đèn, ngay nơi xứ điểm sanh là xứ điểm
diệt, chứ không phải chuyển diệt sang xứ điểm khác. Tuy nhiên, nhân ở ngọn lửa nầy
mà ngọn lửa khác sinh khởi, từng niệm tương tục, in như có sự chuyển động.
Chúng sinh cũng vậy, các uẩn ngay đó sinh, ngay đó diệt chứ không phải chuyển
dịch qua một xứ điểm khác. Tuy nhiên, nhân ở các uẩn trước mà các uẩn sau sinh
khởi
, vì chúng tương tụctrạng thái in như có sự chuyển động, nên nói rằng,
các phàm phu có sinh qua số kiếp khác.

Quán sát thể
tánh
như huyễn: Ví như do huyễn lực mà biến ra dung mạo của nữ nhân, thể tánh
của nó là phi hữu, nhưng không nhận biết, chấp cho là thực. Tất cả pháp hữu vi cũng
đều như vậy, từ nơi các duyên hư vọng sinh khởi, vốn không có thực thể, nhưng
do không hiểu được sự thực ấy, nên phát sinh kiến chấp hữu thể.

Quán sát sự suy
thạnh như sương: Thí như sương ban mai gặp mặt trời liền biến tan. Dung sắc của
tuổi trẻ cũng như vậy, một khi gặp vô thường là liền tàn lụi.

Quán sát thọ
mạng
như bọt nước: Thí như bọt nước khi mới phát khởi chưa tựu thành thể tướng;
hoặc mới sinh liền diệt; hoặc mới dừng lại liền tan biến. Thọ mạng cũng như
vậy, hoặc khi mới gá sinh vào ở thai tạng; hoặc khi sinh ra làm hài nhi, thiếu
niên
, trung niên, lão niên, nhưng tất cả đều phải đi về chỗ hoại diệt.

Quán sát tác
giả
như chiêm bao: Thí như ở trong giấc chiêm bao, vì do sự thấy nghe, nhớ
nghĩ, phân biệt, huân tập lưu trú từ trước. Tuy rằng, chúng không có tác giả,
nhưng bao nhiêu cảnh giới hiện khởi rõ ràng trước mắt. Chúng sinh từ thời vô
thỉ đến nay cũng như vậy, có bao nhiêu phiền não, thiện nghiệp, bất thiện
nghiệp
do huân tập mà lưu trú, tuy rằng không có bản ngã, nhưng vẫn có thể tác
động
, mà hiện khởi các sự sống chết không có giới hạn.

Quán sát tâm
như điện chớp: Thí như sự chớp sáng của điện, thời điểm sinh chính là thời điểm
diệt. Tâm cũng như vậy, sát na sinh khởi chính là sát na hủy diệt.

Quán sát sự có,
không như vầng mây: Thí như vầng mây giữa không gian, chúng trước đó là không,
sau đó là có, rồi thoáng chốc lại biến diệt. Các pháp hữu vi cũng lại như vậy, thể
tính
của nó vốn không, lại từ nơi các duyên hư vọng mà có, khi duyên ly tán,
thì có hoàn không.

Như vậy, dưới
cách nhìn của kinh Kim Cang Bát nhã, thì các pháp hữu vi (Samikrita), chỉ là
thường
, hư ngụy, sinh diệt nhanh chóng và bất thực, hãy quán sát chúng một cách
như thực và thường trực như vậy, để xả ly mọi hạt giống chấp thủ về một bản ngã
cố hữu nơi năm uẩn và mỗi uẩn , chấp thủ về một bản ngã cố hữu nơi con người, chấp
thủ
về một bản ngã cố hữu nơi chúng sanhchấp thủ về một bản ngã cố
hữu nơi thọ mạng, mà không bị rơi vào chủ trương duy vật đoạn kiến. Và
hãy quán chiếu các pháp hữu vi một cách thường trực như vậy, để thấy rõ
“tính vô sinh nơi các pháp đương sinh”; “tính bất diệt nơi các pháp đương
diệt”, tính ấy là “thực tướng vô tướng” là tướng tịch nhiên, không sinh diệt ở
nơi các pháp sinh diệt hư ảo, thường quán chiếu như vậy, để không bị rơi vào
chủ trương thường kiến, và đồng thời để thấy rõ tính chất như thực của pháp và phi
pháp
, mà không bị rơi vào hai cực đoanđoạn kiếnthường kiến, hoặc cuộc
sống không để bị rơi vào hai cực đoanép xác khổ hạnh hay là buông lung
trong các dục. Và đó cũng là cách nhìn về pháp và phi pháp mà ở kinh Kim Cang
Bát nhã, Đức Phật đã nói với Tôn giả Tu Bồ đề như sau: “Nầy Tu Bồ Đề! Những
người phát Tâm vô thượng bồ đề, thì đối với hết thảy pháp, nên biết như vậy,
nên thấy như vậy, tin tưởnglãnh hội cũng phải như vậy, mà không nên sinh
khởi
vọng tưởng đối với pháp. = Tu Bồ Đề! Phát A nậu đa la tam miệu tam
bồ đề
tâm giả, ư nhất thiết pháp, ưng như thị tri, như thị kiến, như thị tín
giải
, bất sanh pháp tướng( Đại Chính Tân Tu 8, tr 752)”. Và với ý nghĩa lời dạy
nầy của Đức Thế Tôn, ở trong kinh Kinh Kim Cang Bát Nhã Phạn văn ta có như sau:
“Bhagavàn àha – evami hi Subhùte bodhisattvayànasamiprasthitena
sarvadharmà jnõàtavya drasitiavyà adhimoktavyàhi/ Tathà ca jnõàtavyà drasitiavyà adhimoktavyàhi, yathà nadharmasamijnõàyàm api pratyupatisitihen nàdharmasamijnõàyàmi/.
Nghĩa là: Đức Thế Tôn nói, nầy Subhùti, quả thật như vậy! Sự tiến lên với bồ
tát thừa
, thì ở nơi hết thảy pháp phải biết, phải thấy, phải tin tưởng lãnh
hội
. Và phải biết đúng sự thật, phải thấy đúng sự thật, phải tin tưởng lãnh hội
đúng sự thật. Như vậy, không nên khởi tâm chấp thủ vọng tưởng về pháp, cũng không
nên khởi tâm chấp thủ vọng tưởng về không phải pháp.

Như vậy, kinh
Kim Cang
Bát Nhã đã giúp cho ta quán chiếu để thấy rõ đâu là pháp, đâu là phi
pháp
, đâu là pháp tánh và đâu là pháp tướng, nhằm thực hành pháp, loại trừ phi
pháp, và nhằm phế tướng để nhập tánh, và để tiến tới loại trừ những vọng tưởng
sai lầm và không bị mắc kẹt đối với cả hai ý niệm pháp và phi pháp, đối với cả
hai ý niệm tướng và tánh, khiến ta vượt ra khỏi mọi ý niệm quan hệ đối lập để
biết đúng như thật, thấy đúng như thật, tin tưởnglãnh hội đúng như thật, và
giúp ta có được sự giải thoát, giác ngộvững chãi trong từng phút giây của
sự sống.

4- Thực
tướng
vô tướng :

Chánh kiến (
samyakdrsti), được định nghĩa trong văn hệ A hàm và Nikàya là thấy rõ Tứ Thánh
Đế
hay là thấy rõ Lý lưu chuyểnhoàn diệt của Mười hai Duyên khởi, nhưng
Chánh Kiến ở trong kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật không phải dừng lại ở đó, mà
còn đi sâu hơn là thấy rõ thực tướng của tất cả pháp là vô tướng. Thực tướng vô
tướng
pháp thân của phật.

Bởi vậy, ở
trong kinh nầy, Đức Phật đã dạy Tôn giả Tu Bồ Đề (Subhùti) rằng: “Phàm sở hữu
tướng giai thị hư vọng; nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai (bản Hán
dịch của Ngài La Thập)” = Tương đương với Phạn văn:”Yàvat Subhùte
laksianiasamipat tàvan mrisà, yàvad alaksianiasamipat tàvan na mrisieti
hi laksianiàlaksianiatas tathàgato drasitiavyahi”. Nghĩa là: Nầy Subhùti! Bất
cứ cái gì có sắc tướng, cái đó có sự lừa dối; bất cứ cái gì không có sắc tướng,
thì cái đó không có sự lừa dối; nếu thấy rõ vô tướng nơi các tướng tức là thấy
được Như Lai.

Như vậy, theo
Kinh Kim Cang Bát Nhã, thấy Như Lai là thấy “thực tại vô tướng” và không thấy
được “thực tại vô tướng” là không thấy Như Lai.

Như Lai được
diễn tả ở trong văn hệ A hàm và Nikàya là nói và làm đều đồng nhất với nhau;
nghĩa là “những gì Như lai nói thì Như lai đã làm và những gì Như Lai đã làm
thì Như Lai mới nói”; hoặc “Như Lai là trạng thái mát mẻ, là trạng thái không
còn bị nóng bức.” Nhưng, Như Lai được đề cập ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã
chính là thực tại vô tướng. Nói và làm từ trong thực tại vô tướng mới là cách
nói và cách làm chân thực, không hư dối và đó mới là cách nói và cách làm của
Như lai.

Theo Kinh Kim
Cang
Bát Nhã, Như Lai ngoài ý nghĩa thực tại vô tướng ở nơi các tướng của mọi
sự hiện hữu, cũng còn có nghĩa là “ thể tính chơn như ở nơi mọi sự hiện hữu”(
Như Lai giả, chư pháp như nghĩa = Tathàgata iti Subhùte bhùtatathatàyà etad
adhivacanam ). Nghĩa là tự tính của mọi sự hiện hữu xưa nay vốn là rỗng lặng
thanh tịnh, không vọng động, không sinh diệt. Chính tự tính ấy, Kinh Kim Cang
Bát Nhã gọi là Như Lai hay là chư pháp như nghĩa.

Như lai
ngoài “chư pháp như nghĩa,”kinh nầy còn giải thích: “Nầy Tu Bồ Đề! Nếu có người
nói rằng: Như Lai hoặc là có đến, có đi, có nằm, có ngồi thì người nói ấy, không
hiểu được ý nghĩa của Như Lai đã nói. Tại sao? Bởi vì, Như Lai không đến từ đâu
và cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai”(Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhân ngôn, Như
Lai
nhược lai, nhược khứ, nhược tọa, nhược ngọa, thị nhân bất giải ngã sở
thuyết nghĩa, hà dĩ cố? Như lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh
như lai (Theo bản Hán dịch của Ngài Cưu Ma La Thập). Và đoạn kinh nầy trong
Phạn văn như sau: “Api tu khalu punah Subhùte yah kascit evam vadet
Tathàgato gacchati và àgacchati và tisthati và nisìdàti và, sayyàm và
kalpayati, na me Subhùte (sa) bhàsitasyàrtham àjànàti/ tat kasya hetoh?
Tathàgata iti Subhùte ucyate na kacid gato na kutascid àgatah/ Tenocyate
Tathàgato’rhan samyaksambuddha iti. = Lại nữa, hỡi Subhùti! Nếu có ai nói như
vậy, Như Lai hoặc đi, hoặc đến, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, hoặc suy nghĩ,
thì nầy hỡi Subhùti, người ấy không hiểu được ý nghĩa lời dạy của tôi. Tại sao?
Hỡi Subhùti! Gọi là Như Lai, vì là bậc không còn đi đâu và không còn về đâu. Cho
nên, gọi là Như lai, bậc A la hán, bậc Giác Ngộ hoàn toàn ).

Như Lai không
còn đi đâu, nghĩa là Như Lai vốn là tịch nhiên, các phiền nãovô minh
trong tâm thức hoàn toàn không còn sinh khởi; Như Lai không còn về đâu, nghĩa
tự tánh giác ngộ của Như Lainghiễm nhiên thường tại không bao giờ bị hủy
diệt
.

Như Lai cũng có
nghĩa là Phật. Và Phật theo Kinh Kim Cang Bát Nhã, bản dịch của Ngài Cưu ma La
Thập
là “Ly nhất thế chư tướng tức danh chư Phật = Nghĩa là buông
xả
tất cả tướng, gọi là chư phật.” Ý nghĩa nầy tương đương với Phạn bản như
sau: “Sarvasamijnõàpagatà hi buddhà bhagavantah = Nghĩa là buông xả hết
thảy ý tưởng, gọi là chư Phật Thế Tôn.”

Mọi tướng đều
là tướng của vọng tưởng, chư Phật Thế Tôn đã buông xả hết thảy vọng tưởng nơi
tự tâm, nên mọi đi, đứng, nằm, ngồi, nói, cười, im lặng, hành xử của Thế Tôn
đều là từ nơi thể tịch diệt tướng mà biểu hiện và từ nơi thể tướng tịch diệt
nầy mà Chư Phật Thế Tôn giáo hóa độ sinh đem lại lợi ích cho hết thảy muôn
loài.

Bởi vậy,
theo Kinh Kim Cang Bát Nhã, ‘Thực tướng vô tướng hay thực tại vô tướng” là Như
lai
, là chư Phật Thế Tôn.

Do đó, bất cứ
ai tiếp xúc và thấy được thực tại vô tướng ở nơi các tướng là tiếp xúc và thấy
đuợc Như Lai hay là tiếp xúc và thấy được Chư Phật Thế Tôn ngay trong sự sống
nầy.

(còn tiếp)
T.H.
Tập San Nghiên Cứu Phật Học
Phật Giáo Thừa Thiên Huế Số 8 Xuân Giáp Thân