Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 27)

0
8

KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 27)



Pháp
Tịnh Không


 


“NHẬP
PHẬT PHÁP TẠNG”


Trí
tuệ
đức năng vốn đủ trong tự tánh, gọi là Phật pháp tạng. “Phật” là Phật
tánh
, chính là chân tánh của mỗi chúng ta. Nhà Phật thường nói, chân tâm bổn
tánh của tất cả chúng sanh gọi là Phật tánh. Phạm vi của hai chữ “chúng sanh
này rất rộng, ý nói chúng duyên hoà hợpsanh khởi ra hiện tượng, phạm vi
trong đó vô cùng lớn. Tất cả động vật do chúng duyên hoà hợp mà sanh. Kinh Phật
thường lấy con người làm thí dụ. Con người do bốn đại năm uẩn hòa hợp mà hiện
khởi. Bốn đạisắc pháp, sắc uẩn trong năm uẩn. Hiện tại chúng ta gọi là vật
chất
: thọ, tưởng, hành, thức. Bốn loại này chỉ về tinh thần. Phàm hễ là động
vật
đều do bốn đại năm uẩnsanh khởi ra hiện tượng. Ngoài động vật còn có
thực vật, khoáng vật. Trong thực vật khoáng vật, chính là trong năm uẩn không
có bốn uẩn sau. Sắc uẩn phía trước thì đầy đủ, cho nên bốn đại đầy đủ. Bốn đại
cũng là chúng duyên hoà hợp mà hiện khởi, cho nên ý nghĩa của chúng sanh rất rộng
lớn.


Chân
tánh
của tất cả chúng sanh, thực tế mà nói là một tánh. Một tánh biến thành
nhiều hiện tượng. Phật ở ngay chỗ này đã phân tích một cách đơn giản. Phật nói,
cái tự tánh này của động vật gọi là Phật tánh. Thực vật, khoáng vật là ngoài
động vật, bao gồm hiện tượng tự nhiên; những tự tánh này gọi là pháp tánh. Các
vị phải biết, pháp tánh bao gồm Phật tánh, nhưng Phật tánh không bao gồm pháp
tánh
. Phật tánh cũng tốt, pháp tánh cũng tốt, đều là nói Phật.


Phật
pháp tạng
trí tuệ đức năng vốn đủ trong tự tánh. Ở thực vật cùng khoáng vật
có đức năng, không có trí tuệ, còn ở động vật hữu tình chúng sanh có trí tuệ,
có đức năng. Chúng sanh vô tình có đức năng, không có trí tuệ. Khác biệt ở chỗ
này. Tất cả chúng sanh phàm hễ có Phật tánh đều sẽ thành Phật, đều nên làm
Phật
, hữu tình chúng sanh thành Phật. Chúng sanh vô tình liền theo đó mà
chuyển, “y báo tùy theo chánh báo mà chuyển”. Cho nên kinh Hoa Nghiêm
mới nói: “Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí”. Chúng sanhtình tự
nó không thể chuyển. Phải khi chúng sanh hữu tình đạt trí tuệ viên mãn thì
chúng sanh vô tình liên đới chuyển, đạo lý là như vậy.


Nhập
là khế nhập cũng là chứng đắc. Trí tuệ đức năng vốn đủ trong tự tánh thảy đều
hiển bày, thảy đều có thể dùng được, đó gọi là nhập. Trong pháp Đại thừa, người
thế nào Phật pháp tạng hiển lộ ra? người nào vào được bảo tàng trí tuệ đức năng
của tự tánh? Đó là chư Phật Như Lai. Các ngài đều đạt được, nhưng thực tế
nói chỉ “đạt” một cách miễn cưỡng, làm gì có chuyện đạt hay không đạt,
tự tánh vốn đủ.


Trên
hội Lăng Nghiêm nói: “Viên mãn Bồ Đề, quy vô sở đắc”, vì sao vô sở đắc?
vì bạn vốn có. Nếu vốn không có, hiện tại bạn có được mới gọi là đắc, còn vốn
đã sẵn có, hiện tại gọi là hồi phục, không thể nói đắc. Vì vậy mới nói không có
được mất. Hiện tại bản năng trí tuệ tự tánh của chúng ta chưa hiện tiền, không
hiển lộ, nên chúng ta trải qua đời sống khổ cực, ngày tháng lao nhọc. Nói cách
khác, trí tuệ đức năng trong tự tánh không thể hiện tiền, nên chúng ta chưa vào
Phật pháp tạng.


Nói
thì rất dễ nhưng làm rất khó. Mức độ thấp nhất phải đoạn dứt kiến tư phiền não,
trần sa phiền não, đoạn bốn mươi mốt phẩm vô minh, hoặc chí ít cũng phải phá
một phẩm mới có thể vào Phật pháp tạng. Phật pháp tạngchân tâm bổn tánh;
thiền tông gọi là minh tâm kiến tánh. Minh tâm kiến tánh là vào Phật pháp tạng,
kinh Hoa Nghiêm gọi là pháp thân đại sĩ, không phải người thông thường. Pháp
thân đại sĩ
thành Phật, tuy nhiên thành tựu của họ vẫn chưa viên mãn, vì họ
chỉ mới phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân, họ có năng lực ở tận
không
khắp pháp giới độ hóa chúng sanh như trong “Phổ môn phẩm” đã nói,
đáng dùng thân gì để độ, ngài liền hiện ra thân đó”, đáng dùng thân
Phật để độ, ngài liền có thể thị hiện tám tướng thành đạo. Các vị phải biết,
thị hiện tám tướng thành đạo tuyệt nhiên không đại biểu ngài đã chứng được Phật
quả
cứu cánh viên mãn. Thế nhưng ngài vẫn chứng được phần chứng Phật quả, đó là
nhất định. Ngài có năng lực thị hiện, do đó chúng ta ở trong Viên giáo xem thấy
được, từ sơ trụ trở lên, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, tổng
cộng có bốn mươi mốt ngôi thứ, bao gồm đẳng giác, đều gọi là phần chứng vị,
không phải viên mãn. Cho nên câu này, vào Phật pháp tạngphần chứng vị, bốn
mươi mốt vị pháp thân đại sĩ.


“CỨU
CÁNH BỈ NGẠN”


Thêm
vào sau chữ “cứu cánh” là “viên mãn”. Câu này là diệu giác vị. Từ
phần chứng vị đến diệu giác vị nói những vị Bồ Tát này đều là Bồ Tát thế giới
Tây Phương Cực Lạc. Chúng ta phải làm thế nào để học tập? Người niệm Phật cần
phải
biết, trong tịnh độ tông gọi là Phật pháp tạng. Cách nói tuy không như
nhau nhưng nghĩa thú không hề khác nhau. Phật pháp tạng chính là Di Đà dựa vào
nguyện hải, pháp tạng tự tánh viên mãn. Chúng ta mỗi niệm cầu sanh Tây Phương
tịnh độ
, mỗi niệm mong cầu tham gia Liên Trì Hải Hội của Phật A Di Đà. Chúng ta
thể tham gia Liên Trì Hải Hội chính là vào Phật pháp tạng, đó là cách nói
của tịnh độ tông chúng ta.


Người
xưa nói “Nếu thấy được Di Đà lo gì không khai ngộ”, cái khai ngộ đó
chính là minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật của thiền tông. Do đây có thể
biết, thấy Phật cũng đồng với đại triệt đại ngộ minh tâm kiến tánh của thiền
tông
. Thế nhưng trong tông môn dùng phương pháp tham cứu để đạt đến cảnh giới
này, rất khó, vào thời đại hiện nay gần như không còn thấy.


Lão
pháp sư Đàm Hư so với thời đại của chúng ta sớm hơn nửa thế kỷ. Đại sư thường
hay
khai đạo cho hậu học. Ngài nói chính mình ngay một đời thấy qua rất nhiều
thiện tri thức xuất gia, tại gia tu hành, ngài nói cũng thấy qua người được
định, tu thiền được thiền định, ví dụ lão hòa thượng Hư Vân của thiền tông. Lão
hòa thượng Hư Vân được thiền định, nhưng khai ngộ hay không chúng ta không
biết. Đại sư Đàm Hư nói, ngài chưa từng thấy qua người khai ngộ, cũng không hề
nghe nói qua. Vào thời đại đó của Đại sư Đàm Hư, lão hòa thượng Hư Vân còn tại
thế
, cũng bao gồm trong đó. Đàm lão khẳng định ngài được thiền định, nhưng
không thể khẳng định ngài khai ngộ.


Được
thiền định là chuyện không dễ. Nếu chính mình không phát nguyện, tương lai nhất
định
sanh trời tứ thiền, địa vị rất cao, phước báu rất lớn. Chúng ta biết lão
hòa thượng Hư Vân phát nguyện thân cận Bồ Tát Di Lặc. Ngài đích thực sanh đến
Đâu Suất nội viện, việc này không giả. Vậy người niệm Phật chúng ta nhất định
phải hiểu được then chốt tu học. Niệm Phật thành Phật, thẳng tắt ổn định, mau
chóng đáng tin, cứu cánh bỉ ngạn.


Vận
dụng pháp môn niệm Phật, “niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Sau khi
sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, hoằng nguyện của họ phát ra ở nhân địa
đều có thể thực hiện. Trong Tứ hoằng thệ nguyện: “Chúng sanh vô biên thệ
nguyện
độ
”, sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, dù hạ hạ phẩm vãng sanh,
nếu họ hoằng nguyện quảng độ tất cả chúng sanh thì đều có thể thực hiện được.
Không giống nơi đây của chúng ta, nguyện của chúng ta đã phát mà không làm
được, nên gọi là “Lực bất tòng tâm”.


Thế
giới
Tây Phương Cực Lạc thì không như vậy, tuy phàm thánh đồng cư hạ hạ phẩm
vãng sanh, phiền não tập khí một phẩm cũng chưa đoạn, nhưng họ vẫn có thể đến
tận hư không khắp pháp giới cúng dường chư Phật, độ hoá chúng sanh. Dựa vào cái
gì? Nhờ vào gia trì của bổn nguyện, bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà. Thế
mới biết pháp môn tịnh độ thù thắng không gì bằng. Thế xuất thế gian bất cứ
pháp môn nào đều không thể so sánh. Ngay đời này chúng ta có duyên gặp được
không phải là ngẫu nhiên, không phải là việc trùng hợp. Kinh Phật nói, đó là
thiện căn phước đức nhân duyên từ vô lượng kiếp, đời này mới gặp được. Sau khi
gặp, cả đời này chúng ta có thể thành tựu hay không? Kinh Phật cũng nói, người
gặp được phân làm bốn loại, căn tánh không như nhau.


Người
thượng căn nghe rồi liền tin tưởng, tin rồi liền phát nguyện, liền chăm chỉ nỗ
lực
tu học, y giáo phụng hành, một đời nhất định được sanh, đó là người thượng
thượng căn.


Thứ
kế một bậc không thể tự động tự phát, rất dễ dàng lười biếng giải đãi, cần phải
có người khích lệ, cần phảithiện tri thức đề cử, thì họ sẽ làm được. Họ chỉ
cần được người khích lệ cũng có thể phấn chấn đoạn ác tu thiện, niệm Phật cầu
sanh, và có thể vãng sanh.


Loại
người căn tánh thứ ba thì kém một chút. Phải có thiện tri thức, cần lao khẩn
thiết khuyên bảo hết lời, họ mới hồi đầu, tương đối không dễ. Cho nên chúng
sanh
diêm phù đề cang cường khó độ. Phật Bồ Tát thị hiệnthế gian này, dù có
khó, các ngài đều không sợ. Các ngài có trí tuệ, có phương tiện khéo léo, hết
lời khuyên can dạy bảo chúng ta. Thời gian lâu dần, chúng ta sống trong xã hội
bị nhiều thiệt thòi, gặp nhiều chướng ngại, lúc đó mới chịu quay đầu, cũng có
thể thành tựu.


Hàng
thứ tư tuy gặp được nhưng tri kiến bất chánh. Chư Phật Bồ Tát đến khuyên bảo,
họ cũng không thể quay đầu. Loại này chúng ta xem thấy rất nhiều trong Phật
pháp
. Sau khi học được vài năm thì đi học ngoại đạo. Phật Bồ Tát đến giáo hoá,
họ vẫn không thể quay đầu. Đó là do tập khí phiền não nghiệp chướng của chính
họ quá nặng. Bên ngoài gặp phải ác duyên, trong ác duyên cũng không ngoài danh
vọng
lợi dưỡng. Bên ngoài bị mê hoặc của danh vọng lợi dưỡng, bên trong có tham
sân si
mạn. Nội ngoại kết hợp nên họ bỏ đạo mà đi, vô cùng đáng tiếc. Tuy nhiên
Phật không bỏ rơi họ. Phật vẫn đợi họ quay đầu. Ngay đời này không thể quay đầu
thì chờ đời sau. Đời sau không quay đầu thì đợi đời sau nữa.


Thành
thật
mà nói, chúng ta không nên cười ngạo người khác, như vậy thì bản thân
chúng ta chính là loại người đó. Không phải ngày nay chúng ta mới niệm Phật A
Di Đà
, không phải đời này mới tu tịnh độ, mà trong quá khứ đời đời kiếp kiếp,
không biết bao nhiêu lần chúng ta gặp được pháp môn này. Không phải người ta
vừa bị mê hoặc, mà họ đang từ từ tu tập, hy vọng đời này thông minh hơn một
chút, không còn chạy rong nữa. Điểm này trong giáo học của người xưa, các ngài
khéo léo dùng phương thức ngăn ngừa rất chu đáo. Đó là sư thừa mà thế xuất thế
gian pháp
chúng ta đã nói.


Chúng
ta
lạy một người làm thầy, chúng ta theo một vị thầy học thì phải theo chắc vị
thầy này. Ngoài thầy ra, người khác đến dạy cho ta, nếu ta nghe họ và đi theo
họ thì không còn là học trò của thầy giáo này. Người thế gian gọi là khinh sư
phản đạo. Cho nên thời trước thầy giáo kèm thúc học trò, trừ khi cùng học với
một mình thầy ra, bất cứ thiện tri thức nào khác giảng kinh nói pháp đều không
được nghe. Việc ngăn cấm này tốt, giúp học trò không đến nỗi vượt qui. Vì sao?
Học trò khi mới học, trí tuệ chưa khai mở, thế pháp Phật pháp chưa phân biệt
thứ nào thật, thứ nào giả; chưa phân biệt tà chánh, thiện ác phải quấy, thậm
chí đến lợi hại. Người sơ học không có trí tuệ không thể phân biệt. Không cần
nói chân vọng tà chánh, nếu bạn không có năng lực phân biệt thì lợi hại trước
mắt
bạn cũng đều không thể phân được rõ ràng. Cho nên làm học trò có điều kiện
để làm học trò; làm thầy giáo có bổn phận của thầy giáo. Điều kiện của học trò
nhất định phải phục tùng thầy giáo, tôn sư trọng đạo. Chúng ta theo một vị
thầy giáo thì nhất định phải nghe lời dạy của thầy.


Tôi
ở vào thời đại mạt pháp. Nói đến sư thừa, có lẽ tôi là người sau cùng. Từ tôi
về sau có thể không còn nữa. Cả đời này, tôi cầu học đều một thầy giáo chỉ dạy.
Khi chưa học Phật pháp, tôi học triết học với một mình tiên sinh Phương Đông
Mỹ. Cho nên thứ học được rất thuần không tạp, có thể chuyên tâm, ít lâu sau
liền nhận được hiệu quả, chân thật gọi là làm chơi ăn thiệt. Tôi học Phật, thân
cận với Đại Sư Chương Gia. Ngài dạy tôi ba năm, cho nên trong quá trình cầu học
của tôi, một chút khó khăn cũng không có, không phức tạp. Một thầy dạy một môn,
một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu”. Đại sư Chương Gia viên tịch một
năm, tôi quen biết với lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Tôi theo ngài mười năm. Ngài răn
dạy tôi chỉ nghe một mình ngài. Tức là ngoài ngài ra, không được nghe bất cứ
người nào nói pháp. Tôi tuân thủ.


Nếu
bạn thân cận một vị thầy giáo, khi người khác giảng kinh nói pháp, hoặc người
khác giảng khai thị cho bạn, khuyên dạy bạn, bạn thảy đều nghe hết, thì tâm của
bạn nhất định tán loạn, không ổn định, tâm bạn liền bị biến đổi, bạn liền đi
với người khác. Như vậy nhân duyên thù thắng không gì bằng của chính bạn đã bị
lỡ qua, bị vuột mất. Cho nên không chỉ không được nghe người khác nói chuyện mà
sách chưa được sự đồng ý của thầy cũng không xem. Sau khi học Phật, tôi rất ít
xem sách bởi vì đều phải được sự đồng ý của thầy. Trước khi học Phật, trước khi
tôi tiếp xúc Phật pháp, tôi ưa thích đọc sách nên thường đọc rất nhiều thứ.
Nhưng sau khi học Phật, tôi liền vâng theo lời dạy của thầy, không chỉ sách thế
gian
toàn bộ sách khác, tôi đều không xem. Ngay đến kinh điển của Phật giáo,
tôi cũng lướt qua không nhiều. Tuy nhiên khi người ta nhắc đến, tôi đều có thể
hiểu. Vĩnh viễn giữ gìn tâm địa thanh tịnh. Tâm thanh tịnh sanh trí tuệ.


Tôi
được ân đức giáo huấn của thầy rất lớn. Tâm tôi mỗi niệm báo ân đối với thầy
mạnh hơn nhiều lần so với người khác. Tôi cũng chân thật được lợi ích, đó là do
tôi thật biết nghe lời, chân thật hợp tác với thầy. Thầy toàn tâm toàn lực dạy
chúng ta, chúng ta phải hợp tác với họ mới có thể đạt lợi ích chân thật của
giáo học. Đạo lý này không thể không hiểu. Thành tựu của thế xuất thế gian
pháp
, có rất nhiều người thành tựu kiệt xuất. Bạn thử tự đi tìm hiểu, nhất định
họ tuân thủ giáo huấn của thầy giáo mới được thành tựu. Thành tựu của họ mới
chắc thực, có gốc rễ bám sâu, sau đó cành lá mới xum xuê. Gốc của bạn bám không
sâu thì làm sao được. Không luận thời đại thay đổi thế nào, tôi tin tưởng
nguyên lý nguyên tắc học tập, vĩnh viễn sẽ không thay đổi.


Thế
nhưng thời đại hiện tại không giống thời xưa. Ngày xưa khi chúng ta làm con
cái, bị ràng buộc bởi cha mẹ, nhất định không dám phản kháng; đi học ở trường
học nhận giáo huấn của thầy cũng không dám phản kháng ý thầy. Từ nhỏ đã tập
thói quen giữ qui củ. Còn hiện nay là dân chủ mở rộng, đề xướng tự do phóng
túng
, cho nên con cái không nghe lời cha mẹ. Con cái ngày ngày xem truyền hình,
chơi vi tính, biết quá nhiều thứ, rồi quay sang nói cha mẹ làm sai việc này,
làm không đúng việc kia. Ở Đài Bắc, tôi gặp một thầy giáo trung học cũng là
người học Phật, ông kể, con cái của ông thường hay về nhà dạy ông. Chúng hiểu
biết
rất nhiều. Học trò không nghe thầy giáo dạy bảo thì xã hội làm sao có thể
được an định hoà bình. Loại thói quen này nếu tiếp tục phát triển thì xã hội
tương lai là thế giới đại loạn.


Ai
phá hoại xã hội? Ai tạo ra những động loạn này để tất cả chúng sanh chịu những
đại khổ đại nạn? Xin nói với các vị, ma vương thứ nhất chính là truyền hình.
Truyền hình vi tính là đại ma vương hủy diệt thế giới. Lời nói này không phải
tôi nói mà thầy tôi nói, tiên sinh Đông Phương Mỹ. Lão sư Phương rất cảm khái,
từng có người đến hỏi ông, vừa lúc hôm đó tôi cũng có mặt ở nhà thầy nên nghe
được
. Người ta hỏi ông, “Nước Mỹ ngày nay là nước mạnh nhất trên toàn thế
giới
; đương nhiên nước mạnh cũng sẽ bị diệt vọng như La Mã đã bị diệt vong. Nếu
nước Mỹ tương lai bị diệt vong thì nhân tố thứ nhất là gì?
” Thầy Phương trả
lời
là truyền hình.


Nước
Mỹ không bị diệt do bên ngoài, làm gì có ai có thể đối đầu với họ. Chỉ có
truyền hình làm cho thế hệ thanh niên trẻ nhỏ thảy đều bị hủy diệt. Chúng ngày
ngày xem thấy, tiếp xúc toàn mặt không tốt. Nội dung diễn trên truyền hình đều
là sát đạo dâm vọng, luôn quanh quẩn những đề tài này. Gần đây nhất, chúng ta
xem thấy báo chí đưa tin, học trò nước Mỹ cầm súng ngắn giết thầy giáo, giết
bạn học. Nước Mỹ không cần đánh giặc bên ngoài, chính trong nội bộ tự đánh
nhau
, do ai dạy? truyền hình dạy, vi tính dạy. Có người nói với tôi, trong vi
tính còn dạy làm thuốc nổ, làm bom nguyên tử. Tương lai, một học sinh cao
trung, từ vi tính cũng có thể chế tạo được bom nguyên tử. Bạn nghĩ xem như thế
được sao?


Phương
tiên sinh nói lời này không sai. Truyền hình, vi tính là đại ma vương. Ma vương
này không có người nào không yêu nó. Chúng ta học Phật phải hiểu rõ chân tướng
sự thật, nhất định phải nỗ lực chăm chỉ tu học, niệm Phật mà di dân đến thế
giới Cực Lạc
. Thế giới này đã loạn, chúng ta phải di dân đến nơi khác. Ngay từ
bây giờ phải chuẩn bị sớm nếu không e không kịp. Đến được thế giới Tây Phương
Cực Lạc
, cũng giống như kinh này nói, hạ hạ phẩm vãng sanh, được oai thần bổn
nguyện Phật A Di Đà gia trì, trí tuệ đức năng của bạn cùng với pháp thân đại sĩ
không hai không khác.


Kinh
nói rất hay, sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc đều là Bồ tát A Duy Việt Trí,
việc này thật không thể nghĩ bàn. Bồ Tát A Duy Việt Trí không phải là Bồ tát
Thập Trụ
, Thập hạnh, Thập hồi hướng. Bồ Tát A Duy Việt TríThất Địa trở lên.
Hạ hạ phẩm vãng sanh sanh đến Thế Giới Tây Phương Cực Lạc, tuy phiền não của
chúng ta một phẩm cũng chưa đoạn nhưng đến Thế Giới Cực Lạc thần thông cùng đạo
lực
giống như Bồ Tát Thất Địa, vậy thì còn gì bằng. Cho nên có thể làm được “Chúng
sanh
vô biên thệ nguyện độ
”.


“NGUYỆN
Ư VÔ LƯỢNG THẾ GIỚI THÀNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC”


Cái
nguyện” này là bổn nguyện. Đến lúc cần thiết, tất cả chúng sanh mong
cầu Phật xuất hiệnthế giangiáo hoá chúng sanh. Bạn thấy duyên đã chín
muồi
, đáng dùng thân Phật để độ, bạn liền có thể thị hiện thân Phật giúp đỡ
chúng sanh. Như vậy bạn có năng lực nguyện ở vô lượng vô biên thế giới thành
đẳng chánh giác
. Đó là tùy loại hoá thân thù thắng nhất, cụ thể hoá thân Phật
để độ chúng sanh. Hóa hiện thân Phật còn làm được, thì các thân phận khác như
thân Bồ Tát, thân Thanh Văn, thân Duyên giác, thân sáu cõi không cần phải nói,
thảy đều có thể làm được. Cho nên câu nói này đại biểu đại viên mãn ứng hoá,
hóa thân đến mọi nơi, hiện thân ở mọi lúc, tùy loại hóa thân, tùy cơ nói pháp,
giúp đỡ chúng sanh vô lượng thế giới.


Hiện
tại
chúng ta sống ở thế gian này, không gian hoạt động của chúng ta nhỏ hẹp
thật đáng thương. Ở khu vực này, bạn được xem như tự do, tự tại. Mỗi ngày bạn
ra ngoài vui chơi tham quan, nhưng không gian của bạn cũng không thể ra khỏi
Singapore, không thể ra khỏi cái đảo nhỏ này. Muốn du lịch ra thế giới thì bạn
phải có khoản tiền tương đối, vì vé máy bay khá đắt. Bạn còn phải có sức khoẻ
tốt. Dốc hết sức thì không gian hoạt động của bạn vẫn chỉ trên địa cầu này, vẫn
chưa có cách nào đến các tinh cầu khác. Không gian hoạt động của chúng ta nhỏ
hẹp như vậy, trong khi bạn xem thấy kinh văn này là “vô lượng thế giới”.


Nếu
bạn sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, thì không gian hoạt động của bạn là
tận hư không khắp thế giới, mười phương tất cả chư Phật cõi nước, bạn nghĩ đến
nơi nào thì người đã đến nơi đó, không cần dùng phương tiện giao thông, cũng
không cần đến phi trường mua vé máy bay, làm nhiều thủ tục phức tạp. Ở ngay nơi
đây vừa mới khởi niệm thì thấy Phật, thân thể đã ở ngay trước mặt Phật, bạn nói
xem tự tại dường nào. Chúng ta phải thể hội ý này, không gian hoạt động phải mở
rộng
. Vô lượng thế giớikhông gian hoạt động của chúng ta, đương nhiên bao
gồm
cả thời gian. Thời gianquá khứ, hiện tại, vị lai. Chúng ta có thể trở
về
quá khứ cũng có thể đến tương lai. Mười phương ba đờikhông gian hoạt
động
của chúng ta. Đến thế giới Tây Phương Cực Lạc thì toàn bộ thảy đều thực
hiện
được. Kinh văn phía sau nói cho chúng ta nghe, nêu ra tùy loại hóa thân,
tùy cơ nói pháp; nêu ra đáng dùng thân Phật để độ, họ liền hiện thân Phật, đó
là một thí dụ. Chúng ta từ thí dụ này có thể thể hội, ở bất cứ thân phận nào
đều biến hiện tự tại, cho nên thần thông tự tại đạt đến viên mãn cùng tột.


“XẢ
ĐÂU XUẤT”


Đó
là tướng thứ nhất trong tám tướng thành đạo, “Hạ sanh”, như Thích Ca Mâu
Ni Phật
thị hiện cho chúng ta. Bồ Tát bổ xứ, thông thường chúng ta gọi là Hậu
Bổ Phật. Hậu Bổ Phật ở Đâu Xuất nội viện, vì sao họ không ở nơi khác? Vì trong
đó có ý nghĩa biểu pháp. Ngày xưa thời đại của đế vương, thái tử chính là hoàng
đế
hậu bổ. Họ nhất định phải ở Đông cung, cũng có ý nghĩa biểu pháp. Phật khi
còn làm Bồ Tát bổ xứ cũng đều ở cung trời Đâu Xuất. “Đâu Xuất” là tiếng
Phạn, dịch sang Trung văn là “tri túc”. Tri túc thì thành Phật, không
tri túc thì không thể thành Phật. Trời Đâu Xuất gọi là trời tri túc, có nghĩa
thường lạc. Cho nên người trời Đâu Xuất rất an vui, thân tâm thường lạc.


Hoàn
cảnh
đời sống quá tốt, thế nhưng vì để hoá độ chúng sanh khổ nạn, hoàn cảnh đời
sống
của chính mình có tốt hơn cũng phải xả bỏ, đó mới là đại từ đại bi, chỉ
biết lợi ích tất cả chúng sanh, không bằng lòng để an thân hưởng lạc. Tóm lại, ngài
dạy chúng ta xả đắc. Đạt được hoàn cảnh đời sống thù thắng như vậy, ngài vẫn
xả. Đem những gì đạt được xả bỏ hết, đó là ý chính. Trong “Lễ Ký” của
nhà Nho nói “an an nhi năng thiên”, là ý này. Hai chữ “an” chỉ
đời sống của bạn, thân an tâm cũng an. Hai chữ “an” có ý nghĩa như Đâu
Xuất. Nhưng vì phúc lợi xã hội đại chúng, mọi người cần đến bạn, bạn phải bước
ra
phục vụ xã hội đại chúng, hy sinh phụng hiến.


Trong
lịch sử
Trung Quốc, thời đại Tam Quốc, tiên sinh Khổng Minh Gia Cát Lượng, vào
thời loạn thế, mấy người bạn của ông đều ẩn cư nơi núi sâu, cả đời không xuất
hiện
. Vốn dĩ ông cũng ẩn cư nơi Lũng Trung, bị người phát hiện. Lưu Bị ba lần
đến chòi tranh, ông đành phải xả bỏ đời sống an ổn của chính mình, bước ra
xã hội, vì quốc gia phục vụ. Ông đã làm được tám chữ “cúc cung tận tuỵ, tử
nhi hậu kỷ
”.


Phật
vì tất cả chúng sanh khổ nạn, an vui ở cung trời Đâu Xuất, tầng trời thứ hai
mươi tám, bất cứ tầng trời nào cũng đều không thể so sánh, đó là nơi thánh hiền
cư ngụ; vậy mà ngài có thể xả bỏ. Đó là dạy chúng ta, không luận hoàn cảnh đời
sống
của mình thư thích thế nào, an ổn đến thế nào, nếu vì chúng sanh, vì
hội
, vì quốc gia, chúng ta nhất định phải hy sinh phụng hiến.


(Còn
tiếp …)


KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC


Pháp
: HT. TỊNH KHÔNG


Biên
dịch
: Vọng Tây cư sĩ


Biên
tập
: PT. Giác Minh Duyên