Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 26)

0
12

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 26)



Pháp Sư Tịnh Không


 


Nguyện
thứ hai, “Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”


Thành
tựu
chính mình thứ nhất phải đoạn phiền não, trừ tập khí. Phiền não ngoại duyên
là khó khăn nhất, không dễ gì dẹp bỏ. Đời sống thực tế của chúng ta, ăn mặc đi
đứng, do phước báu của chúng ta không lớn nên mỗi ngày vì những việc thế tục
bôn ba lo buồn, tâm không thể định. Đó là sự thật khách quan không ai tránh
khỏi
. Người có tiền, có thế lực, địa vị, thành thật mà nói đều rất nguy hiểm,
rất mau tan nhạt, dễ mất đi, sau khi mất đi thì phải làm sao? Cho nên bất cứ
người nào, dù giàu nghèo sang hèn, đời sống đều tràn đầy âu lo phiền não, đôi
khi rất muốn tâm mình định lại để cố gắng dụng công tu hành mà không được duyên
phận
, không được phước phần này. Hay nói cách khác, tập khí nghiệp chướng quá
nặng.


Do
đó Phật dạy chúng ta đoạn phiền não phát đại tâm là quan trọng. Chỉ cần chịu
phát đại tâm, chịu đoạn phiền não, thì dù phiền não chưa đoạn cũng không hề gì.
Miễn có tâm phải đoạn, liền được chư Phật Bồ Tát hộ trì, giúp đỡ. Đó là cảm ứng
tương thông không thể nghĩ bàn. Đoạn phiền não để tâm mình được thanh tịnh,
thành tựu đức hạnh của chính mình.


Giáo
học Phật pháp cùng quan niệm của nhà Nho có thể nói không hẹn mà gặp. Giáo học
của Khổng Lão Phu tử Trung Quốc dạy học trò bốn khoá trình. Khoá thứ nhất là “đức
hạnh
”, giáo học của Phật pháp khoá thứ nhất “đoạn phiền não”, ý nghĩa
hoàn toàn giống nhau. Khoá thứ hai trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện có “học pháp
môn
”, đó là đạo lý nhất định. Nếu như không đoạn phiền não, học pháp môn
nhất định không thể thành tựu, chỉ tăng thêm tà kiến, không tăng thêm trí tuệ.
Đem cái bạn đã tu học toàn bộ biến thành tà tri tà kiến, do ai? Do phiền não,
tham sân si mạn. Cho nên thành tựu trí tuệ chân thật, nhất định phải đoạn phiền
não
trước. Phật pháp nói, sau khi đoạn hết phiền não, bạn mới là một pháp khí.
Như một món đồ, bạn hoàn chỉnh, không có chút hư tổn, bạn mới có năng lực tiếp
nhận
đại pháp của Như lai. Phật pháp gọi là pháp vô lậu. “Lậu” là đại
danh
từ của phiền não.



dụ một tách trà thủng lỗ, khi đựng trà sẽ bị rò rỉ. Cái lậu này là thí dụ cho
phiền não. Phiền não bị rò rỉ hết. Cần phải đoạn hết phiền não thì tách trà của
bạn mới hoàn hảo, có thể đựng trà, có thể tiếp nhận vô lượng pháp môn.


Nguyện
thứ ba, “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”


Tu
học
pháp môn thành tựuthành tựu vô thượng đạo của chính mình, thành tựu trí
tuệ
đức năng viên mãn của chính mình. Bạn không có đức, không có năng, không có
trí thì làm sao có thể phổ tất cả chúng sanh? Tất cả chúng sanh căn tánh không
đồng nhau, nhu cầu khác nhau, bạn có thể mãn nguyện tất cả, khiến tất cả chúng
sanh
sanh tâm hoan hỉ, đó là phải toàn năng toàn trí. Phật pháp sau khi phát
nguyện
phải thật làm, thật tu. Mấy ngày nay chúng ta lợi dụng chút thời gian
rảnh để thu âm. Trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, thế tônchúng ta nói
rõ, nhân duyên Bồ Tát Địa Tạng mới sơ phát tâm, đó là bất khả thuyết vô lượng
kiếp
trước, cách hiện tại chúng ta quá xa quá lâu, không cách gì tính đếm được.


Thân
phận
của ngài là một vị trưởng giả, cư sĩ tại gia, không phải người xuất gia.
Vị đại trưởng tử này không phải là con trai của đại trưởng giả. Chữ “tử
là tôn xưng của Trung Quốc thời xưa xưng hô tôn kính, giống như chúng ta tôn
xưng Khổng Phu Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Trang Tử. “Tử” là lời xưng hô tôn
kính
, hiện tại người ta đem lời tôn kính đặt ở phía trước, còn thời trước thì
đặt chữ “tử” này phía sau. Vì sao ngài phát tâm? Ngài xem thấy tướng hảo
của Phật mà phát tâm. Cho nên các vị đồng tu phải biết, bảng hiệu trước cửa này
rất quan trọng. Các công ty thường chú trọng bao bì, hàng hoá bên trong tốt xấu
không quan trọng, nhưng bao bì nhất định phải bắt mắt, hấp dẫn.


Chư
Phật Như Lai
hiểu được việc này, biết tâm lý của phàm phu nên bề ngoài tạo vẻ
đặc biệt trang nghiêm, tốt đẹp, nhưng không có nghĩa là hoá trang, vì hoá trang
là đồ giả không phải thật. Trang nghiêm của Phật Bồ Tátba mươi hai tướng
tốt
, tám mươi vẻ đẹp, do tu mà có, do thành tựu đức hạnh mà được. Người xem
tướng
đoán mạng thế gian thường nói “tướng tùy tâm chuyển”. Tướng mạo
chúng ta tùy tâm chuyển, thể chất cũng tuỳ tâm chuyển. Sau khi Bồ Tát thành
Phật
còn phải dùng thời gian một trăm kiếp để chuyên môn tu phước. Cho nên
thành Phật gọi là “nhị túc tôn”, phước huệ đều viên mãn. Loại Phật này
trong nhà Phật chúng ta gọi là Phật của tạng giáo, Phật của thông giáo. Các
ngài phải dùng thời gian một trăm kiếp để tu tướng hảo.


Phật
của viên giáo thì từ trong tự tánh lưu xuất ra. Cái quang minh tướng hảo đó
chẳng phải là ba mươi hai tướng. Phật có vô lượng tướng, tướng có vô lượng vẻ
phàm phu chúng ta không nhìn thấy. Cho nên Phật của tạng giáo, Phật của
thông giáo chưa kiến tánh, họ hoàn toàn thành tựu công đức do tu mà được. Kinh
Bách Kiếp nói, một tướng hảo phải tu một trăm loại công đức. Mỗi loại không
biết phải tu thời gian dài bao lâu mới có thể viên mãn. Ba mươi hai tướng, các
vị tưởng tượng họ phải tu ba ngàn hai trăm loại công đức. Tu thế gian bao lâu?
Một trăm kiếp. Ba ngàn hai trăm loại tu trong một trăm kiếp mới thành tựu ba
mươi hai tướng tốt
, tám mươi vẻ đẹp này. Chúng sanh có duyên thấy được tướng
hảo
của Phật thì liền cảm động, liền phát tâm.


Chúng
ta
xem thấy phát tâm của đại trưởng giả tử trên kinh Địa Tạng, cùng tôn giả A
Nan
ở hội Lăng Nghiêm hoàn toàn giống nhau. Tôn giả A Nan vì sao phát tâm xuất
gia? Vì xem thấy ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật Thích Ca Mâu
Ni
. Ngài cảm thấy loại tướng hảo này không do cha mẹ sanh ra, mà do tu hành
thành tựu. Ngài muốn xuất gia vì muốn có được ba mươi hai tướng tốt, tám mươi
vẻ đẹp. Vì việc này mà xuất gia, tu học cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni.


Chúng
ta
không cần lo nhân duyên xuất gia. Dù nhân duyên như thế nào, chỉ cần bạn
chịu tu, thành tựu sau cùng đều chân thật. Từ chỗ này mà xem, bảng hiệu bên
ngoài vỏ hộp đều quan trọng, chúng ta phải xem trọng sự việc này mà chăm chỉ tu
học
. Phật giảng kinh, trước hết đem quả trình hiện ra. Chính mình tu tốt, đó là
quả báo để bạn xem. Sau khi bạn thấy thì bạn tự nhiên động tâm, cũng muốn tu
học
. Cá nhân chúng ta là một tấm gương tốt cho mọi người. Mọi thứ đều tốt, dung
mạo
tốt, thân thể tốt, đối nhân xử thế tiếp vật, không thứ nào không tốt, đó
chính là bảng hiệu, vậy mới có thể nhiếp thọ tất cả chúng sanh. Nếu bạn muốn
giáo hoá chúng sanh, hoằng pháp lợi sanh mà chính mình không chịu làm tốt vẻ
bên ngoài của mình thì làm sao được. Bên ngoài làm được tốt, sau đó phải đoạn
phiền não, nhất định phải học pháp môn.


Chúng
ta
nêu ra mười câu “Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”,
thường giữ tâm này; “Nhìn thấu, buông bỏ, tự tại, tuỳ duyên, niệm Phật”,
phải thường tu hạnh này. Tâm hạnh của chúng ta phải tương ưng với mười câu, hai
mươi chữ trên, xin nói với các vị, chỉ ba năm diện mạo của chúng ta liền thay
đổi, thể chất cũng sẽ thay đổi, “tướng tùy tâm chuyển”.


Đạo
tràng
vừa mới xây. Một năm ba trăm sáu mươi ngày, mỗi ngày đều giảng kinh, mỗi
ngày đều niệm Phật không hề gián đoạn. Ở đây chỉ cần ba năm, sau khi đi ra nhất
định
sẽ khác với người thông thường. Họ ở đây huân tu thời gian dài, thân tâm
thảy đều khởi lên thay đổi, làm gì không vãng sanh, làm gì không thành Phật.
Tương lai chỗ này thật biến thành đạo tràng tuyển Phật. Singapore là quốc gia
có phước không thể nghĩ bàn. Khu vực Đông Nam Á có phước mới có được một đạo
tràng
đúng pháp, thù thắng như vậy. Chư Phật hoan hỉ, hộ pháp thiện thần đặc
biệt
chiếu cố.


Nguyện
thứ tư, “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”


Chúng
ta
phải đầy đủ nguyện này, quyết niệm Phật vãng sanh. Nếu không niệm Phật vãng
sanh
, không tu pháp môn này, thì cái nguyện thành Phật đạo rất khó khăn. Bồ Tát
thượng thủ trong thế giới Hoa Tạng; Văn Thù, Phổ Hiềnthượng thủ trên hội
Hoa Nghiêm, các ngài đều phát tâm cầu sanh Thế Giới Tây Phương Cực Lạc, đều
phát nguyện phải thân cận Phật A Di Đà.


Lần
đầu tôi đọc kinh Hoa Nghiêm, có chỗ mê mờ không hiểu, nghĩ không thông. Nếu nói
các Bồ Tát khác phát nguyện cầu sanh Thế Giới Tây Phương Cực Lạc, chúng ta
thể nghĩ thông. Văn Thù, Phổ HiềnBồ Tát đẳng giác của thế giới Hoa Tạng,
do
gì phải vãng sanh Thế Giới Tây Phương Cực Lạc? Tôi đã mất thời gian rất dài
nghĩ đến việc này, mới nghĩ ra một lý do có thể đúng. Thế giới Tây Phương Cực
Lạc
thành Phật nhanh. Thế giới Hoa Tạng tuy dần dần tu thành Phật, thời gian
thành Phật phải dài, không thể nhanh bằng thế giới Cực Lạc. Họ đến thế giới Cực
Lạc
vừa đến liền thành Phật, còn ở thế giới Hoa Tạng vẫn phải đợi không biết
đến ngày tháng năm nào. Tất cả Bồ Tát, không ai không hy vọng vãng sanh Thế
Giới Cực Lạc
, hy vọng sớm ngày thành Phật. Do đó không nên để lỡ thời gian dài,
không cần phải tu hành khổ hạnh, nếu muốn giải quyết hai vấn đề này chỉ có niệm
Phật
cầu sanh Tịnh Độ.


Văn
Thù
, Phổ Hiền không chỉ chính mình phát nguyện vãng sanh, các ngài không bỏn
xẻn
, không bòn pháp; biết được pháp môn hay, liền phổ biến khuyên bảo thế giới
Hoa Tạng. Bốn mươi mốt vị pháp thân đại sĩ đồng sanh Tịnh Độ. Văn Thù, Phổ Hiền
là học trò đắc ý của Tỳ Lô Giá Na Phật. Hai ngài đem đồ chúng thảy đều đưa đến
Thế Giới Cực Lạc, chỗ của Phật A Di Đà. Ngài làm cho thế giới Hoa Tạng không
còn ai, bạn nói xem Tỳ Lô Giá Na Phật có sân giận không? Phật không giống chúng
sanh
. Nếu là chúng sanh thì sẽ không chịu nổi, “pháp duyên của ta nơi đây
tốt như vầy, bạn vừa đến đây làm cho pháp duyên của ta không còn gì nữa, đều
mang đi nơi khác hết, vậy thì còn gì đáng trách hơn
”. Tỳ Lô Giá Na Phật
không những không tức giận mà còn tán thán.


Cũng
giống như trên kinh nói, Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai là thầy của Bồ Tát Địa Tạng.
Pháp Tạng Bồ TátTây Phương xây dựng Thế Giới Cực Lạc, chính mình thành Phật
cũng đem tất cả đồ chúng dưới hội của Thế Gian Tự Tại Vương đưa đến Thế Giới
Tây Phương Cực Lạc. Thế Gian Tự Tại Vương không những không tức giận còn cổ vũ,
khen ngài làm đúng, vì sao? Tất cả chư Phật Như Lai chỉ có một tâm niệm hy vọng
chúng sanh mau mau thành Phật, “Ngươi đến nơi đó mau thành Phật, ở nơi đây
của ta thành Phật chậm, ngươi đến nơi đó của ngài là đúng
”. Bổn nguyện của
Phật đạt được, cho nên cách làm này chân thật làm rõ bổn hoài của Phật.


Tâm
Phật
cùng tâm phàm phu đích thực khác nhau, cho nên chúng ta phải ghi nhớ, ngay
trong một đời muốn đầy đủ tứ hoằng thệ nguyện, chỉ có cầu sanh tịnh độ. Ở thế
gian
, chúng ta phải tu học công đức chân thật. Trong công đức bao hàm phước
đức
. Tu công đức đệ nhất đẳng, công đức này không gì hơn khuyên người niệm
Phật
, đó là đại phước đức, phước đức hy hữu không gì bằng. Chúng ta có cơ hội
tu, có duyên phận tu phải nên chăm chỉ nỗ lực.


Câu
Cụ túc vô lượng hạnh nguyện”, chúng ta giới thiệu đến đây. Thực ra, ý
trong sáu chữ này vô lượng vô biên, nói một năm cũng không hết, kinh văn phía
sau còn dài, chúng ta chỉ nói đến đây.


“AN
TRỤ NHẤT THIẾT CÔNG ĐỨC PHÁP TRUNG”


Công
đức
” cùng phước đức có khác biệt, chúng ta cần phải nhận biết cho rõ ràng.
Công là công phu, phải có công phu tu học chân thật. Công phu thu hoạch được
gọi là công đức. Ví dụ trì giới có công, thiền định là đức do giới. Bạn trì
giới
, do trì giới mà được định, cái giới đó gọi là công đức. Nếu bạn trì giới
tốt nhưng không được định thì trì giới cũng có lợi ích, đó là phước đức, không
phải công đức. Bạn trì giới tinh nghiêm thì bạn được phước báu của nhân thiên,
đời sau hưởng phước, nhưng đó không phải công đức. Công đức có thể đoạn phiền
não
, có thể chứng được bồ đề, còn phước đức thì không. Phước đức không thể đoạn
phiền não cũng không thể chứng bồ đề, chỉ có thể mang đến cho bạn phước báu. Do
đó chúng ta nhất định phải phân biệt rõ ràng công đứcphước đức.


Tu
định có công, trí tuệ liền khai. Khai huệ là đức. Tu định mà không thể khai
huệ, cái định đó là phước đức, không phải công đức. Phước đức ở trong trời Tứ
Thiền
, không thể đoạn kiếnphiền não, không thể siêu việt ba cõi sáu đường.
Cho nên công đức cùng phước đức khác biệt nhau rất lớn.


Làm
sao tu công đức? Công đức không hề rời khỏi phước đức. Tu phước không dính mắc
chính là công đức. Tu phước mà dính mắc là phước đức. Ta tu tài bố thí, hy vọng
tương lai được đại phú, vậy thì liền biến thành phước đức. Nhưng nếu ta tu tài
bố thítam luân thể không”, không có bất cứ mong cầu nào thì liền biến
thành
công đức. Khi không có bất cứ mong cầu nào, thì ở ngay trong cuộc sống
thường ngày của bạn cũng không thiếu bất cứ thứ gì, vì trong công đứcphước
đức
, nhưng trong phước đức không có công đức.


Chúng
ta
không luận tu phước như thế nào, thông thường nói ba loại bố thí: tài bố
thí
, pháp bố thí, vô uý bố thí, phải bố thí sạch trơn. Then chốttâm địa
phải thanh tịnh, không dính vào tướng bố thí, không nên thường hay nghĩ đến ta
ân đức đối với người, có rất nhiều việc tốt đối với họ, không nên có ý niệm
này, vì khởi ý niệm này thì liền biến thành phước báu, không thể được định.


Định
là gì? Định là tâm thanh tịnh. Bố thí tuyệt đối không nhận báo thì tâm mới được
thanh tịnh. Trong tâm thanh tịnh phước báu bao lớn? Tận hư không biến pháp giới
là chỗ chúng ta hưởng phước. Bạn bố thí chỗ này, thì không chỉ ở ngay đây hưởng
phước, mà bạn đến bất cứ nơi nào, mười phương vô lượng vô biên cõi nước, bạn
đều được hưởng phước, vì tâm lượng của bạn rộng lớn không có chướng ngại, cho
nên phước của bạn to lớn. Cái phước đó cũng hư không khắp pháp giới. Đạo lý
quan trọng này ở trên kinh đại thừa.


Nếu
chúng ta tu phước mà thường dính vào thì, chẳng hạn, tôi ở khu vực này, đã kết
duyên
với người khu vực này. Tôi tu được bao nhiêu phước, tương lai phải đầu
thai
đến đây thì mới hưởng được phước. Còn đầu thai đi nơi khác, người ở nơi
khác
không có quan hệ gì với tôi, chưa kết được cái duyên này thì tôi sẽ không
có phước. Cũng tu như nhau nhưng được phước không như nhau. Vậy vì sao chúng ta
dại khờ không chịu mở rộng tâm lượng? Trồng được chút phước nào đều biến
không
pháp giới, mọi nơi mọi chỗ đều hưởng phước. Chúng ta ở trong kinh điển
đại thừa
, chỗ này nhất định không thể xem thường.


Phật
dạy, “An trụ nhất thiết công đức pháp trung”, cái gì gọi là an trụ? “An
an ổn, “trụ” là ở nơi đó bất động. Phàm phu chúng ta thật rất đáng
thương vì không có chỗ trụ. Người ta hỏi bạn trụ ở đâu. Nếu thông minh trí tuệ,
bạn có thể nói: “Tôi ở nơi đó”. Hiện tại ta ở Cư Sĩ Lâm, làm gì có chỗ
trụ. Không có chỗ, thân tìm một chỗ trụ. Phòng ốc, nhà cửa là chỗ trụ của cái
thân. Có nhà, có phòng, thân liền được an ổn, nhưng tâm không an. Then chốt
nhất là tâm phải trụ ở nơi nào đó. Đó là vấn đề lớn.


Kinh
Kim Cang
, tôn giả Tu Bồ Đề thỉnh pháp với Phật Thích Ca Mâu Ni, câu hỏi thứ
nhất: “Ưng vân hà trụ?”, ý nói tâm này nên trụ vào đâu? Người thế gian
hiểu thân trụ nhưng không hiểu tâm trụ, cho nên cả đời bồng bềnh trải qua ngày
tháng khổ sở, không luận họ có phước hay không. Có phước cũng khổ, không phước
càng khổ hơn, cả đời ưu bi khổ não, sống như vậy khổ dường nào. Nếu hiểu được
tâm phải có một chỗ an trụ, thì cả đời bạn liền có phước, cả đời liền có thành
tựu
. Không luận thế pháp hay Phật pháp đều thành tựu.


Do
đây có thể biết an trụ của tâm rất quan trọng. An ổn an trụ vào một nơi, nơi đó
bất động. Căn tánh của chúng sanh không như nhau cho nên trong tất cả kinh
luận
, Phật dạy người an trụ cũng không như nhau. Ví dụ chúng sanh tâm lượng
nhỏ, tầm nhìn nông cạn, nghe nói trên trời không tệ, đời sau có thể sanh thiên
thì đã rất vừa lòng. Nếu bạn khuyên họ phải ra khỏi ba cõi, gặp người không tự
tin, nghĩ rằng nghiệp chướng của mình sâu nặng, không thể ra khỏi, lập tức liền
muốn thoái lui. Phật đối với loại chúng sanh này có phương pháp giúp họ mãn
nguyện
. Họ muốn sanh thiên thì dạy cho họ phương pháp sanh thiên. Người căn
tánh
hơi lanh lợi một chút, biết được thiên phước cũng có lúc hưởng hết, hưởng
hết thì phải làm sao? Thời gian tuy dài, nhưng dài rồi cũng có lúc đến đoạn
kết
, vậy loại người này cao hơn một bậc so với người muốn sanh thiên. Họ biết
được ngoài siêu việt luân hồi, ngày tháng trải qua tốt hơn nhiều so với trong
luân hồi, họ có cái tâm xuất tam giới, Phật liền dạy họ phương pháp xuất tam
giới
, tâm an trụ ở nơi đó.


Cho
nên giáo học của Phật chân thật khế lý khế cơ, thỏa mãn nguyện vọng của tất cả
chúng sanh. Nếu bạn muốn sanh thiên, Phật liền dạy tâm của bạn nhất định phải
an trụ trong mười thiện, gọi là thập thiện nghiệp đạo, thường hay sanh thiện
niệm, sanh thiện tâm, lợi ích tất cả chúng sanh, sau cùng chính mình được lợi
ích
sanh thiên. Dạy người trì giới tu hành mười thiện, tâm của bạn an trụ ở
ngay chỗ này, nhất định sẽ được phước báu nhân thiên.


Nếu
bạn muốn chứng quả A La Hán, siêu việt sáu cõi sanh tử luân hồi, Phật liền dạy
cho bạn an trụ ở trong pháp tứ đế. Nếu bạn muốn làm Bồ Tát, học Phật quảng độ
chúng sanh, Phật liền dạy bạn đặt tâm an trụ trong lục độ, đó là Phật dạy mọi
người
pháp an tâm. Nếu tâm lượng của bạn quả nhiên rộng lớn, chí nguyện thù
thắng
, bên trên có Bồ Tát, trên nữa còn có Phật, trên Phật thì không còn nữa,
quyết tâm phải thành Phật, thì chí nguyện này cao, Phật liền dạy bạn an trụ
trong công đức thành Phật. “An trụ nhất thiết công đức pháp trung”, pháp
công
đức này chỉ “Di Đà nguyện hải, sáu chữ hồng danh”. Hay nói cách
khác, bạn đem tâm an trụ trong bốn mươi tám nguyện, an trụ ở “phát bồ đề
tâm
, nhất hướng chuyên niệm
”, đây là pháp cả đời này bất thoái viên mãn
thành Phật, loại an trụ thù thắng hơn bất cứ loại nào.


Tóm
lại
, hai câu kinh văn: “Cụ túc vô lượng hạnh nguyện, an trụ nhất thiết công
đức
pháp trung
” là nói về hạnh nguyện công đức.


“DU
BỘ THẬP PHƯƠNG, HÀNH QUYỀN PHƯƠNG TIỆN”


Các
vị Bồ Tát trên kinh đều là Bồ Tát tu hạnh Phổ Hiền, từ sơ phát tâm mãi đến vị
đẳng giác. Người sơ phát tâm tuy chưa chứng quả, nhưng chân thật phát tâm, một
lòng một dạ muốn học hạnh Phổ Hiền. Con người này trên kinh Hoa Nghiêm đã xưng
tán
đại tâm phàm phu, ngay một đời liền có cơ duyên làm Phật. Cơ duyên gì? niệm
Phật vãng sanh
, thân cận Di Đà, rất nhanh thành Phật. Không cần phải thời gian
dài, cho dù nghiệp chướng sâu nặng vẫn đới nghiệp vãng sanh hạ hạ phẩm.


Kinh
Quán Vô Lượng Thọ
nói, hạ hạ phẩm sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc cũng chỉ
cần mười hai kiếp. Mười hai kiếp so với vô lượng kiếp, so với ba a tăng kỳ
kiếp
, thời gian này rút ngắn lại rất nhiều. Cũng giống như bình thường Phật đã
nói trong các kinh, “hoa khai kiến Phật” là địa vị phá một phẩm vô minh,
chứng một phần pháp thân, đó là phương tiện nói. Còn chân thật nói, “ngộ
sanh
” là chứng được vô sanh pháp nhẫn. Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn thuộc địa
vị
thất địa, bát địa, cửu địa. Các vị thứ khác chúng ta không tính, tam hiền vị
cũng không. Chúng ta chỉ nói tam hiền vị của viên giáo. Từ viên giáo sơ trụ tu
đến thập hồi hướng mãn phải một a tăng kỳ kiếp.


Bạn
mới đến đăng địa, sơ địa. Sơ địa là mở đầu a tăng kỳ kiếp thứ hai. Sơ địa Bồ
Tát
tu đến thất địa, bảy vị thứ này lại là một a tăng kỳ kiếp. Hai a tăng kỳ
kiếp
mãn rồi, bạn mới đăng bát địa. Số tự a tăng kỳ kiếp là số tự thiên văn,
chúng ta không cách gì tính điếm. Lấy pháp môn thông đồ để nói, chứng được viên
giáo
sơ trụ, tu đến vô sanh nhẫn vị, cần phải hai a tăng kỳ kiếp.


Chúng
ta
phàm phu, không phải sơ trụ Bồ tát. Là phàm phu, một phẩm phiền não cũng
chưa đoạn, sanh đến Thế Giới Tây Phương Cực Lạc, chứng được địa vị vô sanh pháp
nhẫn
, cũng chính là chứng được địa vị của Bồ Tát thất địa, chỉ cần thời gian
mười hai kiếp, thời gian này rút gọn rất nhiều. Vậy thì mười hai kiếp, xin nói
với các vị, không luận Phật nguyện gia trì, chưa đạt được oai thần bổn nguyện
của Phật A Di Đà gia trì, bạn ở thế giới Tây Phương Cực Lạc tu hành mười hai
kiếp, liền chứng được vô sanh pháp nhẫn. Thế Giới Tây Phương Cực Lạcđạo
tràng
tu hành ở tận hư không khắp pháp giới. Đạo tràng đó của Phật A Di Đà, là
đạo tràng đệ nhất. Bạn ở đó tu hành nhanh, chỉ có tiến bộ chứ không thoái lui.
Nơi chốn đó của ngài là viên chứng tam bất thoái, hạ hạ phẩm vãng sanh, cho nên
nó không thoái chuyển. Các thế giới phương khác, Bồ tát tu hành có tiến không
lùi. Còn thông thường tiến ít mà thoái nhiều, cho nên cần thời gian dài đến như
vậy.


Sanh
đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, không có người nào không được sức gia trì của
Phật. Phật A Di Đà từ bi tột đỉnh. Bốn mươi tám nguyện, mỗi nguyện gia trì
người hành trì, người niệm Phật vãng sanh, cho nên người hạ hạ phẩm vãng sanh
đến thế giới Tây Phương Cực Lạc không cần trải qua mười hai kiếp mới hoa nở
thấy Phật. Sắp gần đến đó thì hoa nở thấy Phật, do oai thần bổn nguyện của Phật
A Di Đà gia trì, cụ thể bằng bốn mươi tám nguyện.


Sanh
đến thế giới Tây Phương Cực Lạc đều là bậc A Duy Việt Trí Bồ Tát. Phật A Di Đà
phát ra nguyện đều phải tính, ngài tuyệt nhiên không nói người như thế nào vãng
sanh
mới là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Đã không nói thì chính là lời nói chung
chung, chỉ cần sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, thảy đều là A Duy Việt Trí
Bồ Tát. Hay nói cách khác, sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, bạn liền bình
đẳng
với thất địa, bát địa, cửu địa. Đại sư Ngẫu Ích trong kinh Di Đà Yếu Giải
nói, “Đó là cảnh giới không thể nghĩ bàn”. Bạn gọi họ là Bồ Tát Thất
địa
, họ không phải, vì sao? phiền não nhất phẩm chưa đoạn, nên họ còn là phàm
phu
; nếu bạn gọi họ là phàm phu cũng không phải. Trí tuệ của họ, công đức của
họ, thọ dụng của họ hoàn toàn giống Bồ Tát thất địa, bát địa. Đó là chỗ không
thể nghĩ bàn của thế giới Tây Phương Cực Lạc. “Yếu Giải” của Đại sư Ngẫu
Ích cũng không thể nghĩ bàn.


Chúng
ta
biết Đại sư Ấn QuangBồ Tát Đại Thế Chíthế giới Tây Phương tái sanh.
Đại sư rất tán thánYếu Giải”. Cho dù là cổ Phật tái lai, làm chú giải
cho kinh Di Đà cũng không thể vượt qua được cái bổn này. Vậy “Yếu Giải
này được đưa lên đến tột đỉnh. Nâng “Yếu Giải” chính là nâng Đại sư Ngẫu
Ích. Nếu Đại sư Ngẫu Ích không phải là Phật A Di Đà tái sanh thì cũng là Bồ Tát
Quán Thế Âm
tái sanh, bằng không sẽ không được Bồ Tát Đại Thế Chí tán thán đến
như vậy. Cho nên chúng ta phải biết pháp môn này thù thắng không gì bằng.


Du
bộ thập phương, hành quyền phương tiện
”. Du bộ là tham học. Người thế giới
Tây Phương Cực Lạc đích thực là như vậy. Mỗi ngày đều đến mười phương thế giới
để bái Phật. Bái Phật chính là thăm hỏi, thân cận chư Phật Như Lai. Chư Phật
Như Lai
là người phước đức đệ nhất đẳng của thế xuất thế gian. Thường hay thân
cận các ngài, thường nghe giáo huấn của các ngài, chính mình trí tuệ liền khai
mở, đức hạnh cũng dần dần được viên mãn, đó là thân cận thiện tri thức, là chọn
lựa của người thông minh, có thể xếp hàng với chư Phật Như Lai, ngồi cùng hàng
với các ngài, vào câu lạc bộ của các ngài, bạn thử nghĩ xem làm sao mà không
thành Phật?


Không
phải hòa chung với Bồ Tát mà mỗi ngày cùng ở chung với Phật. Du bộ mười phương,
tiếp nhận giáo huấn của Phật, khai trí tuệ, mỗi ngày thân cận chư Phật, cúng
dường
thừa sự chư Phật, tu phước báu, cho nên cơ hội tu phước tu huệ trở thành
viên mãn. Ngày nay chúng ta muốn tu phước, tu huệ cũng không tìm được chỗ để
tu, không biết nơi đó có phước hay không, luôn luôn dùng sai cái tâm, rồi tu
sai. Ở thế gian này, chúng ta thấy rất nhiều, đặc biệt là người có tiền của, muốn
làm một chút việc tốt, kết quả đem tiền của bỏ vào biển lớn, đá chìm đáy nước
không ích gì. Không những không lợi ích, còn rước lấy lỗi lầm.


Người
thế giới Tây Phương Cực Lạc thì không như vậy. Họ gặp được bậc chân thiện thức,
biết được nơi nào là phước điền chân thật. Trên cầu hạ hoá mười phương cõi nước
chư Phật, nhất định sẽ gặp được quá khứ, bạn bè quyến thuộc, đồng tham đồng học
nhiều đời nhiều kiếp. Gặp được rồi, họ không nhận biết bạn nhưng bạn sẽ nhận
biết
họ, vì bạn sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Kinh nói trí tuệ thần
thông
đức năng của bạn gần như hoàn toàn hồi phục, gần giống như Phật A Di Đà.
Thân bằng quyến thuộc, bạn bè thân thiết từ vô lượng kiếp trước, họ ở bất cứ
đường nào, bất cứ cõi nào, bạn xem thấy đều quen biết. Phàm hễ có duyên thấy
được sẽ sanh tâm hoan hỉ, bạn liền có cơ hội đến giáo hoá họ. “Hành quyền
phương tiện
” chính là tuỳ loại hoá thân, tuỳ cơ diễn giáo.


Thế
Giới
Tây Phương Cực Lạc, người hạ hạ phẩm vãng sanh chỉ cần thấy qua Phật A Di
Đà
, ở bên cạnh Phật A Di Đà, đi nhiễu quanh một vòng là được. Bạn liền có năng
lực
đến thế giới khác tuỳ loại hoá thân, như trong “Phổ Môn Phẩm” đã
nói, đáng dùng thân gì để độ liền có năng lực thị hiện ra thân đó. Loại năng
lực
này nếu ở kinh đại thừa nói, cần phải đạt được Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát,
Biệt Giáo Sơ Địa Bồ Tát, cũng chính là phá một phẩm vô minh, chứng một phần
pháp thân. Người như vậy mới có năng lực này. Trong mười pháp giới, Phật Bồ Tát
không có năng lực này. Họ không làm được tuỳ loại hoá thân. Bồ Tát trong pháp
giới
nhất chân thì có thể làm được.


Cho
nên nhất định phải biết, cơ hội vãng sanh quyết không để lỡ. Để lỡ rồi thì thật
sai lầm và đáng tiếc. Bất cứ thứ gì ở thế gian cũng đều là giả, chỉ duy nhất
việc này là thật. Chúng taphàm phu nghiệp chướng sâu nặng đến như vậy, kiến
phiền não làm gì có thể đoạn được. Thông thường tu hành, sơ quả tiểu thừa
chúng ta còn không có năng lực chứng, tám mươi tám phẩm kiến hoặc ba cõi này,
chúng ta có bản lĩnh đoạn được hay sao? Nói cách khác, sơ quả cũng không thể
đạt
. Thế nhưng chúng ta chân thật phát tâm bồ đề, một lòng chuyên niệm, cầu
sanh tịnh độ, nhờ oai thần Phật gia trì, việc này nhất địnhthể đạt. Sanh
đến thế giới Tây Phương Cực Lạc liền siêu việt mười pháp giới. Trí tuệ năng lực
này nhờ oai thần Phật gia trì không hề khác với Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, chỉ có
vượt qua chứ không thể kém hơn. Ở mười phương thế giới, đáng dùng thân gì để độ
thì có thể thị hiện tám tướng thành đạo. Loại công đức lợi ích thù thắng này,
có tra hết Đại Tạng kinh cũng tìm không ra, thị hiện rất nhiều thân, có thể tuỳ
nói pháp. Chúng sanh ưa thích nghe pháp gì, bạn liền giống như chư Phật Như
Lai
nói pháp môn đó cho họ nghe, khiến họ được độ.


(Còn
tiếp …)


KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC


Pháp
: HT. TỊNH KHÔNG


Biên
dịch
: Vọng Tây cư sĩ


Biên
tập
: PT. Giác Minh Duyên