Venerable Dr Mettanando Bhikkhu
Bangkok Post, ngày 15 tháng 5 năm 2001
Dịch và chú xong bản 1.0 tại Sài Gòn,
ngày hoàn mãn an cư Phật lịch 2556, nhằm ngày 29 tháng 10 năm 2012
Chú thích của người dịch:
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. Tri ân chư tôn đức trong tứ chúng đã đặt nền tảng cho việc học Phật. Cảm ơn TS Bình Anson đã cung cấp bài viết này trên PLCĐ. Cảm ơn bạn Rùa Bin đã giúp đỡ trong việc dịch các thuật ngữ y khoa. Bài viết này chỉ tường thuật lại một cách phân tích theo lối y khoa đã được tiếp cận cho kinh Đại Bát-Niết-Bàn, Trường Bộ Kinh. Vì thời gian hoàn thành gấp rút cho kịp thời gian mãn an cư nên không thể tránh khỏi thiếu sót, mong các vị thiện tri thức tiếp tục phát triển các phiên bản dịch khác tốt hơn.
Chúng ta đều được biết rằng Đức Phật nhập Bát-Niết-Bàn[i] vào ngày Vesak[ii]. Nhưng không nhiều người trong chúng ta biết Đức Phật diệt độ[iii] như thế nào. Theo các bản văn cổ thì có hai câu chuyện về sự diệt độ của Đức Phật: 1) Có dự tính theo ý muốn của Ngài, 2) hoặc là bị ngộ độc từ thức ăn, hoặc một lý do khác nào đó. Bài viết sẽ đề cập chi tiết về vấn đề này.
Kinh Đại Bát-Niết-Bàn trong Trường Bộ Kinh của Tam Tạng Pāḷi[iv] là nguồn tài liệu đáng tin cậy nhất về việc viên tịch của Siddhattha Gotama, tức Đức Phật (vào khoảng 563-483 trước Tây Lịch). Cách tường thuật của bản văn này cho phép người đọc theo dõi câu chuyện xảy ra vào những ngày cuối của Đức Phật kể từ vài tháng trước khi thị tịch.
Dù vậy, hiểu những gì thực sự đã xảy ra với Đức Phật vẫn không phải là một vấn đề đơn giản. Bài kinh, hay bản văn này, đã phác thảo nên 2 hình tượng nhân vật trái ngược nhau về Đức Phật, trong đó 1 hình tượng nổi bật hơn.
Hình tượng đầu tiên là của một nhân vật thần kì có thể đưa mình và chư tăng đồng phạm hạnh vượt Sông Hằng[v] (D II, 89)[vi], người với thiên nhãn thanh tịnh thấy hàng ngàn chư thiên tụ họp tại các trú địa[vii] (D II, 87), người có thể sống cho đến khi thế giới hoại diệt nếu như có người thỉnh cầu[viii] (D II, 103), người xác định thời được thời điểm thị tịch của mình[ix] (D II, 105), và người mà sự diệt độ đã được tôn vinh bằng hoa trời, đàn hương và thiên nhạc[x] (D II, 138).
Một hình tượng khác là một người ở tuổi xế chiều với sức khỏe suy yếu[xi] (D II, 120), người suýt mất mạng vì một cơn đau nặng trên kỳ an cư cuối của mình tại Vesāli[xii][xiii] (D II, 100), và những người đối diện với cơn bệnh và cái chết bất thình lình sau khi thọ dụng một món ăn
đặc biệt được thí chủ nhiệt tâm dâng cúng.[xiv]
Hai hình tượng này xuất hiện đan xen trong các phần khác nhau của câu
chuyện. Thêm vào đó, cũng có 2 lối giải thích cho nguyên nhân cái chết của Đức Phật: Một là Đức Phật tịch do thị giả Ananda đã không thỉnh Ngài
trụ thế đến hết kiếp trái đất hoặc thậm chí lâu hơn[xv] (D II, 117). Lối giải thích còn lại là Ngài tịch là do căn bệnh đột ngột bắt đầu sau khi thọ dụng vật thực tên là “Sūkaramaddava”[xvi][xvii] (D II, 127-157).
Câu chuyện thứ nhất có lẽ là một huyền thoại, hoặc kết quả của một cuộc đấu tranh chính trị trong cộng đồng Phật giáo suốt một giai đoạn của quá trình chuyển đổi[xviii], trong khi đó câu chuyện thứ hai nghe có
vẻ thực tế hơn và chính xác trong việc mô tả một tình huống thực tế đã xảy ra trong những ngày cuối cùng của Đức Phật.
Một số nghiên cứu đã tập trung vào bản chất của các món ăn đặc biệt mà Đức Phật đã dùng trong bữa ăn cuối cùng của Ngài như là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của Ngài. Tuy nhiên, đó cũng là một cách tiếp cận
dựa trên mô tả của các triệu chứng và dấu hiệu được đưa ra trong bài kinh, mà kiến thức y tế hiện đại có thể làm sáng tỏ.
Một bức tranh tường khác tại Wat Ratchasittharam[xix] mô tả Đức Phật đang trong lúc cận tử, nhưng Ngài vẫn có thời gian để trả lời các câu hỏi đưa ra bởi du sĩ ngoại đạo Subhadda[xx], dành lần cuối tế độ cho ông
trở thành một vị Arahant[xxi][xxii] (người đã giác ngộ[xxiii]).
Những gì chúng ta biết
Trong kinh Đại Bát-Niết-Bàn, ta biết rằng Đức Phật bị bệnh đột ngột sau khi ăn một món ăn đặc biệt gọi là Sūkaramaddava[xxiv], dịch theo nghĩa đen là “thịt heo mềm”. Món ăn này đã được chuẩn bị bởi thí chủ hào
phóng của Ngài là Cunda Kammaraputta. Tên của các món ăn đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả, và người ta đã tập trung nghiên cứu khoa học về
bản chất của các bữa ăn, tức là các thành phần được sử dụng trong việc nấu món ăn này đặc biệt.
Bản thân bài kinh đã cung cấp các chi tiết liên quan đến các dấu hiệu
và triệu chứng bệnh tật của Ngài; thêm vào đó một số thông tin đáng tin
cậy về hoàn cảnh của Ngài vào khoảng hơn bốn tháng trước đó cũng rất có
ý nghĩa về mặt y khoa.
Kinh bắt đầu với âm mưu của vua Ajātasattu[xxv] muốn chinh phục nước Vajjī[xxvi] Đức Phật đã du hành đến Vajjī[xxvii] để an cư mùa mưa lần cuối[xxviii]. Ngài bị bệnh trong mùa an cư này. Triệu chứng của căn bệnh
đến đột ngột và đau dữ dội.
Tuy nhiên, bài kinh không cung cấp mô tả về vị trí và tính chất về cơn đau của Ngài. Bài kinh chỉ đề cập vắn tắt đến cơn bệnh tật của Ngài,
nói rằng đau đớn rất dữ dội, và gần như đã giết chết Ngài.
Sau đó, Mara[xxix] đã đến chỗ Đức Phật và thỉnh Ngài nhập tịch. Đức Phật không chấp nhận lời thỉnh này ngay lúc đó. Chỉ sau khi Ananda, thị giả của Ngài, không nhận ra Ngài gợi ý thỉnh Ngài trụ thế thì ngày mới diệt độ. Chi tiết này của câu chuyện, mặc dù khoác lên vẻ huyền thoại và
siêu nhiên, nhưng đã cung cấp cho ta một số thông tin y học đáng kể. Khi bài kinh được soạn ra, tác giả của nó đã hướng theo quan điểm cho rằng cái chết của Đức Phật không phải do thức ăn gây ra mà là vì Ngài đã có một căn bệnh tiềm ẩn nghiêm trọng cấp tính và có cùng các triệu chứng với cơn bệnh cuối cùng giết chết Ngài[xxx].
Thời gian
Truyền thống của Phật giáo Theravada đã tôn trọng giả định rằng Đức Phật lịch sử qua đời trong đêm trăng tròn trong tháng âm lịch của Visakha (nhằm vào khoảng khoảng từ Tháng Năm đến Tháng Sáu). Tuy nhiên, thời gian này mâu thuẫn với thông tin được đưa ra trong bài kinh, trong đó nêu rõ rằng Đức Phật tịch ngay sau khi kỳ an cư mùa mưa, rất có thể trong thời gian giữa mùa thu hoặc mùa đông, có nghĩa là, từ Tháng Mười Một đến Tháng Một.
Trong bài kinh có mô tả về một hiện tượng kỳ diệu khi hai cây sālā trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá khi Đức Phật nằm giữa chúng[xxxi].
Tuy nhiên, mùa thu và mùa đông không phải là mùa thuận lợi cho sự phát triển của các loại nấm mà một số học giả tin là nguồn gốc của chất độc mà Đức Phật đã dùng trong bữa ăn cuối của mình.
Chẩn đoán
Bản kinh cho ta biết rằng Đức Phật cảm thấy bị bệnh ngay lập tức sau khi ăn món Sukaramaddava. Vì ta không biết bất cứ điều gì về bản chất của thực phẩm này, rất khó để gán nó thành nguyên nhân trực tiếp đến căn
bệnh của Đức Phật. Nhưng từ mô tả trong bài kinh, sự khởi đầu của bệnh diễn ra rất nhanh chóng.
Trong khi ăn, Ngài cảm thấy có điều gì đó không ổn với thực phẩm và Ngài đề nghị chủ nhà đem thức ăn đi chôn. Không lâu sau đó, Ngài bị đau dạ dày trầm trọng và xuất huyết trực tràng[xxxii].
Ta có thể giả định một cách hợp lý rằng bệnh bắt đầu trong khi Ngài đã dùng bữa ăn của mình, làm cho Ngài nghĩ rằng có điều không ổn so với bình thường. Vì lòng từ bi với những người khác, Ngài đã yêu cầu chôn món ăn.
Có phải thực phẩm bị nhiễm độc là nguyên nhân của bệnh? Có vẻ như không phải vậy. Các triệu chứng được mô tả không chỉ ra đó là ngộ độc thực phẩm. Bệnh này tuy cấp tính nhưng khó có thể gây tiêu chảy ra máu.Thông thường, ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn gây ra không tự phát bệnh ngay lập tức, mà phải mất thời gian ủ bệnh từ 2 đến 12 giờ mới biểu
hiện ra ngoài, thường là với triệu chứng tiêu chảy cấp và ói mửa, nhưng
không có máu.
Một khả năng khác là ngộ độc hóa chất. Bệnh này cũng có tác động ngay
tức thời nhưng nó là ngộ độc hóa chất thường không gây ra chảy máu đường ruột nghiêm trọng. Ngộ độc thực phẩm với chảy máu đường ruột ngay lập tức chỉ có thể được gây ra bởi các hóa chất ăn mòn như axit mạnh, có
thể dễ dàng dẫn đến bệnh ngay lập tức. Tuy nhiên, hóa chất ăn mòn có thể đã gây ra chảy máu trong đường ruột trên, dẫn đến nôn ra máu. Không có các biểu hiện mạnh nào như vậy được đề cập trong bản kinh.
Bệnh loét dạ dày tá tràng cũng có thể được loại trừ khỏi danh sách các bệnh có thể có. Mặc dù thực tế là sự khởi đầu của bệnh này là ngay lập tức nhưng nó hiếm khi đi kèm với tiêu ra máu. Loét dạ dày với chảy máu đường ruột tạo ra phân đen khi vết loét ăn sâu vào các mạch máu. Một
chứng loét cao hơn trong đường tiêu hóa sẽ có nhiều khả năng phát bệnh ra như là nôn ra máu, không phải là thải ra một lượng máu thông qua trực
tràng.
Một chứng cứ khác chứng chống lại khả năng này là một bệnh nhân bị loét dạ dày lớn thường không có sự thèm ăn. Bằng cách chấp nhận lời mời ăn trưa với chủ nhà, chúng ta có thể giả định rằng Đức Phật cảm thấy khỏe cũng như bất cứ người đàn ông nào ở đầu độ tuổi 80 sẽ cảm thấy. Với
độ tuổi tác của Ngài, ta không thể loại trừ khả năng Đức Phật có một bệnh mãn tính, chẳng hạn như ung thư hay lao phổi hoặc nhiễm trùng nhiệt
đới như bệnh lỵ hoặc thương hàn, có thể đã khá phổ biến trong thời kỳ Đức Phật.
Các bệnh này có thể làm chảy máu của ruột dưới, tùy thuộc vào vị trí của chúng. Điều này cũng khớp với tiền sử bệnh trạng của Ngài trong kỳ an cư. Nhưng những khả năng bệnh này có thể được loại trừ, vì chúng thường đi kèm với các triệu chứng khác, chẳng hạn như hôm mê, chán ăn, giảm cân, chướng bụng. Những triệu chứng này đã không được đề cập trong các bài kinh.
Một khối trĩ lớn có thể gây ra chảy máu trực tràng nghiêm trọng, nhưng không chắc rằng bệnh trĩ lại có thể gây ra đau bụng dữ dội, trừ khi nó bị chèn ép. Nhưng nếu vậy nó sẽ gây cản trở việc đi lại của Đức Phật để đến nhà thí chủ, và hiếm khi bệnh trĩ chảy máu bởi do bữa ăn.
Nhồi máu mạc treo
Một bệnh phù hợp với mô tả các triệu chứng như kèm theo đau bụng cấp,
chảy máu, thường được thấy ở người cao tuổi, và bị gây ra bởi một bữa ăn là nhồi máu mạc treo gây ra bởi tắc nghẽn các mạch máu của mạc treo. Bệnh này có thể làm chết người. Thiếu máu mạc treo cấp tính (suy giảm cung cấp máu cho các mạc treo) là một tình trạng nghiêm trọng với tỷ lệ tử vong cao.
Mạc treo là một phần của thành ruột liên kết với toàn bộ đường ruột với khoang bụng. Một cơn nhồi máu của các mạch của mạc treo thường gây chết các tế bào trong một vùng lớn của đường ruột, có thể dẫn đến kết quả là làm rách thành ruột.
Điều này thường tạo ra một cơn đau nặng ở bụng và gây chảy máu. Bệnh nhân thường chết vì mất máu cấp. Tình trạng này phù hợp với thông tin được đưa ra trong bài kinh. Nó cũng được xác nhận sau đó khi Đức Phật bảo A Nan lấy nước để uống[xxxiii]. Điều này cho thấy cơn khát rất mãnh liệt.
Như diễn tiến câu chuyện, Ananda từ chối vì ngài thấy có nguồn nước không được sạch. Ngài nói với Đức Phật rằng dòng suối gần đó đã bị khuấy
đục bởi một đoàn xe lớn. Nhưng Đức Phật vẫn quyết bảo ngài đi lấy nước.
Một câu hỏi phát sinh tại chi tiết này: Tại sao Đức Phật không tự đi đến nguồn nước thay vì lệnh cho vị thị giả đang không muốn làm việc này? Câu trả lời thật là đơn giản. Đức Phật đã bị sốc do mất máu nặng. Ngài không còn có thể đi bộ, và từ đó đến nơi Ngài diệt độ, Ngài có thể đã được khiêng trên kiệu[xxxiv].
Nếu đây là tình hình thực sự, bài kinh vẫn im lặng về việc chuyến đi của Đức Phật đến nơi diệt độ mình, có thể do tác giả cảm thấy rằng chi tiết này không hay cho hình ảnh Đức Phật. Về mặt địa lý, chúng ta biết rằng khoảng cách giữa nơi được cho là ngôi nhà của Cunda và địa điểm nơi
Đức Phật đã diệt độ là khoảng 15 đến 20 km[xxxv]. Một bệnh nhân bị bệnh
nghiêm trọng không thể đi bộ một với khoảng cách xa như vậy.
Nhiều khả năng, những gì đã xảy ra là Đức Phật đã được các Tỷ Kheo kiệu đến Kusinārā (Kushinagara)[xxxvi].
Song vẫn còn là một điểm tranh luận nữa là liệu Đức Phật có thực sự quyết định diệt độ tại thành phố mà có lẽ là không lớn hơn nhiều so với một thị trấn như vầy chăng. Từ sự hướng đạo của cuộc hành trình của Đức Phật được đưa ra trong bài kinh, Ngài đã đi từ thành Rājagaha[xxxvii] hướng lên phía bắc[xxxviii]. Có thể Ngài không có ý định diệt độ ở đó, mà là sẽ đến thị trấn nơi Ngài sinh ra[xxxix]. Chuyến hành trình này có thể kéo dài đến ba tháng[xl].
Từ bài kinh, nó là rõ ràng rằng đức Phật được không dự đoán bị bệnh đột ngột của mình[xli], nếu không Ngài ắt là sẽ không chấp nhận lời mời của thí chủ. Kusinārā có lẽ là thị trấn gần nhất, nơi Ngài có thể tìm một y sĩ để chăm sóc bệnh tình cho mình. Không khó để suy diễn rằng chúng Tỷ Kheo vội vàng kiệu Đức Phật trên một cái kiệu đến thị trấn gần nhất để tìm cách cứu chữa.
Trước khi qua đời, Đức Phật nói với A Nan rằng không nên đổ lỗi cho Cunda là cái chết của Ngài đã không bị gây ra bởi món ăn Sūkaramaddava. Tuyên bố này rất đáng chú ý. Bữa ăn không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết của Ngài. Đức Phật biết rằng các triệu chứng này đang lặp lại theo kinh nghiệm như của mình có vài tháng trước đó trong một lần phái bệnh đã gần như đã giết chết Ngài.
Sūkaramaddava, bất kể thành phần hay cách chế biến, không phải là nguyên nhân trực tiếp cho cơn bệnh đột ngột của Ngài.
Diễn tiến của bệnh
Nhồi máu mạc treo là một bệnh thường được tìm thấy ở những người cao tuổi, bị gây ra bởi sự tắc nghẽn của động mạch chính cung cấp máu cho đoạn giữa của ruột, phần ruột non. Nguyên nhân phổ biến nhất của tắc nghẽn là do thoái hóa của các thành của các mạch máu, tức là động mạch mạc treo ruột trên, gây ra đau bụng nghiêm trọng, còn được gọi là đau thắt ngực thể bụng.
Thông thường, cơn đau được gây ra bởi một bữa ăn lớn, đòi hỏi một lượng máu nhiều hơn đến đường tiêu hóa. Khi tắc nghẽn vẫn còn hiện diện,
ruột bị mất nguồn cung cấp máu cho nó. Điều này sau đó dẫn đến nhồi máu
hoặc hoại tử, một phần của đường ruột. Kết quả có thể dẫn đến rách của thành ruột làm máu chảy nhiều vào đường ruột và dẫn đến tiêu chảy ra máu.
Bệnh sẽ tồi tệ hơn khi dịch và những thứ chứa trong ruột đổ ra khoang
phúc mạc, gây viêm phúc mạc hoặc viêm thành bụng. Điều này có thể dẫn đến tử vong cho bệnh nhân. Các bệnh nhân này thường chết do mất máu và mất các dịch khác. Nếu nó không được phẫu thuật chữa trị, bệnh thường tiến triển đến sốc nhiễm trùng do độc tố vi khuẩn xâm nhập vào máu.
Phân tích lại câu chuyện
Từ chẩn đoán được đưa ra ở trên, chúng ta có thể khá chắc chắn rằng Đức Phật bị nhồi máu mạc treo gây ra bởi việc tắc động mạch mạc treo tràng trên. Đây là nguyên nhân của cơn đau mà hầu như đã giết Ngài vài tháng trước đó trong kỳ an cư mùa mưa cuối cùng.
Với sự tiến triển của bệnh, một số lớp màng niêm mạc ruột của Ngài bị
tróc ra, và điều này trở thành nguyên nhân của việc chảy máu. Bệnh xơ cứng động mạch, nghĩa là xơ cứng thành mạch gây ra bởi tuổi tác, là nguyên nhân gây ra tắc động mạch. Một tắc nghẽn nhỏ sẽ không dẫn đến tiêu chảy ra máu, nhưng có thể gây ra triệu chứng đau thắt ngực bụng như ta đã biết.
Cơn bệnh thứ hai của Ngài đến trong khi Ngài dùng Sukaramaddava. Cơn đau có thể không mãnh liệt ngay từ đầu, nhưng làm Ngài cảm thấy không ổn. Nghi ngờ căn bệnh có thể do thực phẩm, Ngài đã yêu cầu thí chủ chôn chúng để không làm hại đến những người khác.
Ngay sau đó, Đức Phật nhận ra rằng căn bệnh trở nên nghiêm trọng, biểu hiện qua việc chảy máu và đau nặng ở bụng. Ngài đã bị shock do mất máu. Mức độ mất nước rất nghiêm trọng đến nỗi Ngài không thể chịu thêm được nữa nên Ngài đã nghỉ tại một cái cây trên đường đi[xlii].
Cảm thấy rất khát nước và kiệt sức, Ngài yêu cầu Ananda lấy nước uống
dù biết rằng nước đã được vẫn đục. Đó là nơi Ngài kiệt sức cho đến khi
đoàn tùy tùng của Ngài mang Ngài đến thị trấn gần nhất là Kusinārā, nơi
có thể sẽ tìm được một y sĩ hoặc nhà nghỉ cho Ngài phục hồi sức khỏe.
Có thể sự thật là Đức Phật đã cảm thấy khỏe hơn sau khi uống bù nước và nghỉ ngơi trên kiệu. Kinh nghiệm với các triệu chứng cho Ngài biết rằng cơn bệnh đột ngột của Ngài là lần xuất hiện thứ hai của một căn bệnh hiện có. Ngài nói với A Nan rằng bữa ăn không phải là nguyên nhân gây ra bệnh của mình, và rằng Cunda không có lỗi.
Một bệnh nhân bị sốc, mất máu và mất nước nhiều thường cảm thấy rất lạnh. Đây là lý do tại sao Ngài bảo thị giả của mình chuẩn bị nơi nghỉ bằng cách gấp y Sanghàti[xliii] làm tư[xliv]. Theo luật của tu sĩ Phật giáo, Sanghàti một chiếc y choàng, tức là phần áo choàng thêm vào có kích thước rất lớn như kích thước của tấm drap trải giường. Y này được Đức Phật cho phép tăng ni mặc vào mùa đông.
Thông tin này phản ánh rằng Đức Phật cảm thấy lạnh vì mất máu. Theo lâm sàng, một bệnh nhân ở trong tình trạng bị shock, đau bụng dữ dội, nhiều khả năng viêm phúc mạc, biểu hiện xanh tái và lạnh run như vậy thì
khó lòng có thể cấp cứu được.
Đức Phật đã rất có thể đưa vào một nhà nghỉ ở Kusinārā, nơi Ngài được
chăm sóc và giữ ấm. Quan điểm này cũng được khẳng định qua mô tả Ananda
khóc lóc[xlv] mà bắm vào cánh cửa nơi nhà nghỉ của Ngài khi biết rằng Đức Phật là sắp diệt độ[xlvi].
Thông thường, một bệnh nhân bị nhồi máu mạc treo có thể sống từ 10 đến 20 giờ. Từ bài kinh chúng ta biết rằng Đức Phật đã diệt độ trong khoảng 15 đến 18 giờ sau cơn bệnh[xlvii]. Trong thời gian đó, thị giả của Ngài sẽ cố gắng hết sức mình để chăm sóc, như là làm ấm phòng Ngài nghỉ, hoặc bằng cách tiếp nước để làm dịu cơn khát kéo dài của Ngài, hoặc bằng cách cho Ngài một số thứ uống thảo dược. Nhưng nhiều khả năng là điều một bệnh nhân đang lên cơn run cần không phải là quạt cho Ngài như được mô tả trong các bài kinh[xlviii].
Cơn bệnh chập chờn, Ngài có thể đã phục hồi sau lần kiệt sức. Điều này cho phép Ngài tiếp tục các cuộc đối thoại với một vài người. Hầu hết
những lời cuối cùng của Ngài có thể là đúng, và các lời này đã được các
thế hệ của các nhà sư ghi nhớ cho đến khi chép ra văn bản. Nhưng cuối cùng, vào đêm khuya, Đức Phật đã mất trong lần shock thứ hai nhiễm trùng. Bệnh của Ngài bắt nguồn từ các nguyên nhân tự nhiên kết hợp với tuổi tác như là ở những người khác.
Kết luận
Giả thuyết được nêu trên đây giải thích một đoạn trong mạch chuyện của bài kinh, cụ thể là việc lệnh cho Ananda lấy nước, yêu cầu gấp tư chiếc y choàng để làm giường ngủ cho Đức Phật, yêu cầu chôn món ăn, và nhiều chi tiết khác nữa.
Phân tích cũng cho thấy một khả năng thực tế về các phương tiện đưa Đức Phật đến Câu Thi Na và vị trí nơi Ngài nằm diệt độ. Món sukaramaddava, cho dù là gì đi nữa, không phải là nguyên nhân trực tiếp của bệnh tật của Ngài. Đức Phật không mất do ngộ độc thực phẩm. Thực ra,
đó là do lượng thức ăn tương đối quá lớn đối với đường tiêu hóa đang gặp bị bệnh. Điều này gây ra cơn phát bệnh thứ hai của chứng nhồi máu mạc treo ruột đã kết thúc cuộc sống của Ngài. /.
Tiến sĩ Tỳ kheo Mettanando là một bác sĩ trước khi xuất gia. Ông hiện đang ở tại Wat Raja Orasaram, Thái Lan.
Tài liệu tham khảo chính lúc dịch: -Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ Kinh 1, Hòa Thượng Minh Châu dịch Việt. -Milindapañhāpāḷi và Milinda Vấn Đạo – Tam Tạng Pāḷi-Việt tập 45. -Sự tích Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni – Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh, 2005 -Wikipedia tiếng Anh và Việt.
How the Buddha
|






















