

Một trong những đặc điểm của đời sốngxuất gia là du hành. Không thường ở một nơi cố định, Tỳ-kheo có thể tùy duyênvân dugiáo hóa. Đức Phật cũng tán thán hạnh du hành, không khuyến khích các Tỳ-kheo sống quá lâu tại một nơi. Tuy vậy, nếu Tỳ-kheo du hànhtrường kỳ lại bị Ngài quở trách.
Kiểu tu hành mà cứ đi mải miết, ngày đi đêm nghỉ rồi lại đi thì không phải là điều hay. Pháp thoại dưới đây, Đức Phật chỉ rõ những khó khăn và trở ngại cho các Tỳ-kheo du hànhtrường kỳ.
“Một thời, Đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Người du hànhtrường kỳ có năm sự khó. Sao gọi là năm? Ở đây, người thường du hành không tụng giáo pháp; giáo pháp đã tụng thì bị quên mất; không được định ý; tam-muội đã được lại thoái thất; nghe pháp nhưng không thể hành trì. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là người du hành nhiều có năm việc khó này.
– Các Tỳ-kheo nên biết, người không du hành nhiều có năm công đức. Sao gọi là năm? Pháp chưa từng đắc sẽ đắc, pháp đã đắc rồi lại không quên mất, nghe nhiều mà ghi nhớ được, có thể đắc định ý, đã đắc tam-muội rồi không bị mất. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là người không du hành nhiều có năm công đức này. Cho nên, này các Tỳ-kheo, không nên du hành nhiều.
– Các Tỳ-kheo, cần phải học điều như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành”.
(Kinh Tăng nhất A-hàm, chương Năm pháp, phẩm 33-Năm vua, kinh số 7)
Đức Phật đã chỉ ra có đến năm trở ngại cho người du hànhtrường kỳ. Trước hết, người tu mà đi liên tục thì không trùng tụnggiáo pháp. Trùng tụnggiáo pháp để ghi nhớ, khắc sâu vào tâm khảm những lời dạy của Đức Phật. Giáo pháp là cơ sở, làm chỗ y cứ để thực hành và bấy giờ cần có hội chúng mới thường được nghe và trùng tụng. Khi du hànhtrường kỳ, không ở gần Đức Phật (hay các bậc Trưởng lão) thì không đủ duyên để nghe pháp và đọc tụng lại những điều đã nghe.
Trở ngại tiếp theo là những giáo pháp đã được nghe và trùng tụng thì dễ bị lãng quên. Thời Thế Tôn học pháp chủ yếu bằng cách lắng nghe rồi cùng nhau đọc lại. Trừ những vị có trí nhớ cực tốt (như Tôn giả A-nan), còn lại hầu hết đều không thể nhớ trọn vẹn, vì thế phải nương theo đại chúngtrùng tụng mỗi ngày để ghi nhớ lời Phật, nắm vững pháp mônhành trì. Tỳ-kheo đi liên tục thì không hội đủ duyên lành để học tập và ghi nhớ giáo pháp.
Kế đến, đi quá nhiều thì khó đắc định. Thiền định được thực hành trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, nhưng ngồi thiền dễ nhiếp tâm và thành tựu định hơn. Mặt khác, đi nhiều thì gặp và biết nhiều thứ trên đường, trong đó có không ít thứ có hại cho định. Cho nên, Tỳ-kheo thường đi khất thực trong xóm làng vào buổi sáng, buổi chiều và tối thì nghe pháp hoặc an trú trong thiền định. Đi quá nhiều thì khó đắc định là vì vậy.
Nếu Tỳ-kheo đã có định (tam-muội) như cận hành, an chỉ hay từ Sơ thiềncho đếnTứ thiền. Đi lại quá nhiều, đối duyên xúc cảnh đầy biến độngphức tạp có thể làm cho năng lực định của Tỳ-kheo bị suy giảm. Trong khi định cần được nuôi dưỡng, vun bồi liên tục. Sự tịnh chỉ của thân tâm sẽ vững chắc hơn trong môi trường thanh tịnh. Do vậy, định đã đạt được bị suy giảm là trở ngại quan trọng cho Tỳ-kheo khi du hànhtrường kỳ.
Trở ngại cuối cùng là không thể hành trìgiáo pháp nếu du hànhtrường kỳ. Thành ra, du hànhvừa phải nhằm khất thực và thay đổi chỗ ở, tránh dính mắc vào một nơi thì được Thế Tônca ngợi. Còn du hànhliên tục từ sáng đến chiều, đi quá nhiều sẽ chướng ngạitu tập, bị Thế Tônquở trách.























