Tứ Chúng Đồng Tu – Thánh Phàm Đồng Cư Độ

0
450

TỨ CHÚNG ĐỒNG TU,
THÁNH PHÀM ĐỒNG CƯ ĐỘ
Trí Không Trần Quang Thuận

 

Bà Cụ nhà tôi và nhà tôi chuyên tuTịnh Độ. Mỗi ngày bà cụ ít nhất ba lần công phuniệm Phật. Nhà tôi ít nhất mỗi ngày một lần, từ 5 giờ đến 7 giờ sáng. Khi nghe bàn đến chuyện Tịnh Độ thì nhà tôi như rồng gặp mây, thao thao bất tuyệt, cho rằng mình đã đi đúng đường, vì căn cơ thấp nên không thể hành trìthiền quán mà chỉ biết trì danhniệm Phật, tụng kinhbái sám, để một ngày nào đó được vãng sinh vào thế giới Cực Lạc.

Tôi hỏi nhà tôi tại sao cầu vãng sinh Cực Lạc? Cực Lạc nằm ở đâu? Cực Lạc có gì hay mà cầu vãng sinh? Bà nhìn tôi có vẻ không tin vào lỗ tai của bà ta, vì một Phật tử ai lại hỏi những câu hỏi lạ kỳ như vậy. Tôi lại làm cho bà bối rối them khi tôi nói trong đạo lýThật Tướng, thì làm gì có sinh tử, khổ đau? Trong đạo lýBất Sinh, Bất Diệt, Bất Lai, Bất Khứ thì làm gì có Ta Bà, Tịnh Độ.  Trong đạo lýNhư Như, thì Như Lai không xuất thế, Như Lai không nhập Niết Bàn, thì làm gì có Cực Lạc, Ta Bà? Rồi tôi dẫn chứnglời Phật dạy trong Kinh Duy Ma Cật: “Này Bảo Tích, chúng sinhcõi Phật của Bồ Tát, vì sao vậy? Vì Bồ Tát muốn giáo hóachúng sinh, muốn điều phụcchúng sinh, tùy tâm nguyện chúng sinhtiếp nhậncõi Phật. Như người muốn xây dựng lâu đài phải xây trên đất chứ không phải xây trong hư không. Bồ Tátcũng thế, vì muốn thành tựu chúng sinhtiếp nhậncõi Phật.”

Bà được thế, chụp vội: “Anh thấy chưa trong đoạn Kinh anh dẫn chứng Phật dạy…” Tùy tâm nguyện chúng sinhBồ Táttiếp nhậncõi Phật.” Như vậy rõ ràng là có cõi Phật được Bồ Tátchúng sinhtiếp nhận.”

Tôi nói: “Thôi được, cho bà có lý đi. Bà có biết không, niềm tin nơi đức PhậtA Di Đà là kết quả của sự chiêm nghiệm về Báo ThânPháp Thân Phật. Nếu vượt qua mọi hình tướng, sắc thái của vị Phật lịch sử, vị Hóa Thân Phật, ta sẽ tìm thấy một đức Phậtlý tưởng hợp với quả vịphước báo từ bao số kiếp, hợp với sự giác ngộviên mãn. Nói một cách khác, nếu chúng tamô tả một vị Phật dựa trêncăn bảngiác ngộviên mãn, chúng ta sẽ có một đức Phật tràn đầy ánh sáng, sống lâu vô lượng kiếp, đức PhậtVô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Bà thường đọc KinhPháp Hoa, trong Kinh, đức Thích Ca Mâu Niẩn dụ cho hàng đệ tử không nên xem ngài như một vị Phật sinh ở xứ Ca Tỳ La Vệ, xuất gia, hành thiền, tu chứng, nhập diệt, một vị Phật với thọ mạng 80 năm, với công hạnh trên 45 năm, mà ngài thật sự là một vị đã thành Phậtlâu đời, lâu kiếp, thời gianvô cùng, hiện thân khắp nơi, không gianvô tận, là đức Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang Phật, không khác đức PhậtA Di Đà…”

“Nhưng cảnh giới Ta Bà”, tôi nói tiếp “theo Kinh A Di Đà làm bằng vàng, bằng ngọc, bằng trân châu, mã não có vẻ nhân tạo như vậy đâu có thích thú, làm gì có ánh mặt trời, có cảnh chiều tà, có chiếc lá vàng rụng cuốn theo chiều gió, làm gì có trận mưa ngâu, làm gì có ánh bình minh chói rọi… những vẻ đẹp thiên nhiênthế giới Cực Lạc không có! Còn nữa, sinh trên đài sen, trong vườn hoa senngũ sắc, nghe âm nhạc suốt ngày! Bà cứ tưởng tượng mình bị đầy ra Côn Đảo, hòn đảo lớn như vậy mà mình còn cảm thấytù túng, bị cô đơn, bây giờ ngồi trên đài sen, giữa hồ, thì cô đơn biết mấy, tù túng biết mấy, rồi còn phải nghe nhạc suốt ngày, không có phút nào yên tĩnh, thì làm sao chịu cho nổi!”

Bà ta có vẻ bực tức nói: “Không ngờ anh quá gàn bướng.  Tưởng anh nghiên cứu sách Phật nhiều, tưởng anh đa văn, túc trí, không ngờ anh không có một sáng tạo nào cả! Anh có nghe câu “Y kinh giải nghĩatam thế Phật oan không?” Lời nói trong Kinh A Di Đà là để diễn tả sự hoàn hảo của thế giới Cực Lạclẽ dĩ nhiênngôn từ không làm sao chuyên chở được toàn ý nghiã.  Chính vì vậy mà Phật sau 49 năm thuyết pháp đã dạy là Ngài không nói một lời nào.”

Không ngờ bà ta khá thật. Tôi hỏi thêm để thử khả năng thâm nhập Phật lý của bà: “Thế giới Cực Lạc như vậy có khác gì Thiên Đường! Bà cầu về Cực Lạc để hưởng thụ và tệ nhất là để hưởng thụ cá nhân mặc cho ai sống khổ đau ở thế giới Ta Bà!”

Bà nói: “Tôi chán anh quá, anh chả biết Phật Pháp tí nào cả.  Thế mà đòi viết sách Phật, ưa đi giảng đạo. Khi lý tưởng về Niết bàn vượt không gian, thời gian, được thể hiện thì đấy chính là Vô Tận hay Vô Lượng, là Di Đà hay Amida hay Amitabha. Sự mô tả về cảnh Cực Lạc chỉ là giải thíchđặc tínhVô Lượng của giác ngộviên mãn. Cực Lạc là nơi Tứ Chúng đồng tu, nơi Thánh Phàm cùng cư trú (Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cư Độ), không phải là nơi chỉ để hưởng lạc mà là nơi thuận tiện cho con đườngtiến tu của Tứ Chúng, không phải ích kỷ cho riêng mình, mà là nơi Thánh cũng như Phàm cùng nhau sống, tu, trên hành trìnhgiác ngộ, giải thoáthành trình ấy được xây đắp không bằng tự lợi mà bằng lợi tha, chính lợi thatự lợi, nên không phải dửng dưng trước sự khổ đau của đồng loại, chúng sinh. Kinh Hoa Nghiêm khai triển đạo lýtrùng trùngduyên khởi, chủ trương vạn vật trên thế gianliên hệmật thiếtvới nhau như lưới pháp châu, mọi động tác, lời nói, ý nghĩảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, tự lợilợi tha, lợi thatự lợi, không có cái gì đứng riêng rẽ một mình.”

Bà dừng lại, rồi nói: “Chắc anh biết hết rồi, muốn chọc quê em chứ gì. Có điều em muốn hỏi anh, trong các Kinh khác Phật thường dạy ‘Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi’ bây giờ Kinh A Di Đà lại nói nhờ vào tha lực vào sự cứu độ của Phật A Di Đà, như vậy có mâu thuẫn không anh?”

Tôi nói: “Không biết bà đã đọc KinhNa Tiên Tỳ Kheo chưa? Trong Kinh thuật chuyện vua Milinda, một hoàng đế Hy Lạp trì vì Sagara vào khoảng năm 115 trước kỷ nguyên, hỏi ngày Na Tiên (Nagasena) tại sao người ác lại được cứu độ nếu tin tưởng vào vị Phật trước khi chết. Na Tiêntrả lời, một hòn đá dầu nhỏ mấy đi nữa, nếu quăng xuống nước, nó sẽ chìm, nhưng một tảng đá nặng ngàn cân, nếu để trên chiếc tàu cũng sẽ nổi trên mặt nước.  Ngài Long Thọ (Nagarjuna 100-200) nói có hai phương tiện đưa đến Phật quả, một khó như đi bộ, một dễ như đi thuyền. Tín ngưỡngDi Đà là con thuyền chở người đến cõi Tịnh Độ.”

 

Đời là một cuộc hành trình. Trong dòng sinh tửTa Bà, chúng ta đã trải qua bao nhiêu số kiếp, bao nhiêu cuộc hành trình, bập bềnh trên sóng vô minh, tật đố, thị phi, đầy khổ não. Nhưng cuộc đời thật sự đáng chán như vậy sao? Người tu Tịnh Độ nhìn đời không những là cuộc hành trình mà còn là chuyến hành hương.  Bà Vi Đề Hy được Phật khai thị đã đi hành hương từ Phật độ này đến Phật độ khác, cuối cùng bà chọn cảnh Tịnh Độ làm nơi an dưỡng, tiến tu. Nhờ kinh nghiệm khổ đau mà bà Vi Đề Hy được thấy cảnh Tây Phương Cực Lạc. Ta Bà là chuyến hành hươngThế giới khổ đau là hy vọng chứ không phải tuyệt vọng. Đạo lýTịnh Độ không bi quanyếm thế mà là đạo lýBạt Khổ Dữ Lạc, đạo lý dứt khổ cho vui.

Phương phápdiệt khổ dữ lạc của đạo Bồ Tát như thế nào?  Ngay trong khổ đau mà tìm ragiá trịtôn giáođạo đức. Không xa lánh, không trốn tránh, không loại bỏcưu mang tất cả.  Cảnh giới Cực Lạc có chin phẩm, dung chứa chín trình độtu chứng, dung chứa 4 chúng đệ tử, dung chứa thánh, phàm. Tuy có trật tự 9 phẩm, tuy có thấp cao giữa Hạ PhẩmHạ Sinh đến Thượng PhẩmThượng Sinh, nhưng không vì phẩm trật mà loại bỏ, mà bớt cưu mang, Thánh Phàm không vì vậy mà phải phân biệt chống đối lẫn nhau, Thánh Phàm cùng nhau tu tập, thẳng tiến trên hành trìnhgiải thoát, giác ngộ.

 

Cảnh giới Cực Lạc huy hoàng rực rỡ mà hài hòa dung dị.  Những người tu Tịnh Độ không thể không đem biểu tượng này áp dụng vào đời sốnghằng ngày, vào mọi hành hoạt của mình, đối với bản thân, với người đồng đạo, với cộng đồngnhân loại. Ta không thể xây dựngTịnh Độ trong hư khôngxây dựng nó trên nền tảng vững chắc, trên những yếu tốnhân duyênphù hợp với thế giớiTịnh Độ, được khai triển từ trong Tứ Nhiếp PhápBố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành, Đồng Sự.

Bố Thí ở đây là san sẻ. San sẻ tài vật, san sẻ đạo pháp, san sẻ cái vui, cái buồn, cái vinh, cái nhục của nhau, cho nhau, để làm tăng trưởngPhật tínhduy nhất của toàn thểchúng sinh, để cùng giúp nhautiến tu trên đường giải thoát, để cùng nhau hướng về cảnh Tây Phương Cực Lạc.

Ái Ngữ ở đây là những lời nói nhu mì, thương yêu, thông cảm, công bằng, hợp lý.  Không che dấutội phạm nhưng không làm bức xúc những người phạm lỗi, cổ vũ ưu điểm hơn là khuyết trương nhược điểm, mục đíchgiúp nhau trên hành trìnhgiác ngộ, giải thoát, giúp nhau trong nhiệm vụ cứu mình, cứu người, là nền tảng âm nhạc trong cảnh Tây Phương Tịnh Độ.

Lợi Hành ở đây là mọi ý nghĩ, lời nói, hành động đều hướng đến phúc lợi cho mình, cho người, làm nền tảng cho Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cự Độ.

Đồng Sự ở đây là không phân biệtngã nhân. Nặng nhọc không từ, hành hoạt trong mọi hình hài, “tố phú quí hành hồ phú quí, tố bần tiện hành hồ bần tiện, tố di địch hành hồ di địch.” “Một là tất cả, tất cả là một” thiên hình vạn trạng, “tùy duyên bất biến, bất biếntùy duyên.”

 

Xuất pháttừ tâmtừ bi, đạo Bồ Tátkiến thiếtTịnh Độ để nâng caolý tưởng Bồ Tát, để hình thành lý tưởngđộ sinh. Tịnh Độcông năngxã hộihóa lý tưởng tự độ, độ tha.  Không có Tịnh Độ thì lý tưởng Bồ Tát không thể thành tựu. Không có Ta Bà thì lý tưởng Bồ Tát không có cơ sở và cơ hội thực hiện.

Sau khi Phật thành đạo, bài thuyết pháp đầu tiên Dhammacakka Pavattana, thường dịch là Kinh Chuyển Pháp Luân, được dịch ra tiếng Anh là Kiến Thiết Vương Quốc Chánh Pháp (The Establishment of the Kingdom od Truth). Cách dịch này khá ý vị. Đức Phật là vị Pháp Vương, muốn xây dựng một Vương Quốc Chánh Pháp. Đưa cái Vương Quốc Chánh Pháp ấy đến cực độphác họa nó thành cụ thể, đó là thuyết Tịnh ĐộTịnh Độ có nhiều đặc tướng, nhưng đặc tướng quan trọng nhất là sự hoàn bị trật tựđạo đức. Nhìn vào nội dung Bản Nguyện, về phương diệntiêu cựcngăn ngừa mọi tội lỗi, về phương diệntích cực là khuyến khích mọi người cùng tiến đến đạo đức và nền tảng của đạo đứcTứ Nhiếp Pháp.

Tịnh Độ ở phương tây có Thế Giới Cực Lạc, ở phương đông có A Sơ Phật Quốc. Giữa hai cảnh Tịnh Độ này có một quan hệ mật thiết:  Nếu ở cõi Phật này xảy ra đại sự (đại thuyết pháp chẳng hạn) thì cõi Phật khác gửi sứ giả đến tùy hỷ, tán thán, nói lên tinh thầnTịnh Độliên kếtmười phương. Hành giảTịnh Độ, người tu Phật không thể bỏ qua yếu tố này, yếu tốyểm trợ lẫn nhau, cùng nhau sách tấn trên đường giải thoát, giác ngộ.

Người tu Tịnh Độ hay người nỗ lực trên hành trìnhgiác ngộ phải đầy đủ 4 tư lươngcần thiết đó là Tín Tâm, Chí Thành Tâm, Thâm Tâm, Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm. Không những người tu Tịnh Độ mà bất kỳ người muốn hành hoạt Phật sự nào cũng phải đầy đủ 4 tư lương ấy.

Trước khi dùng 4 tư lương cho cuộc hành trình, cần phảihành trìSám Hối. Tác dụng của Sám Hối cũng như người ta mỗi buổi sáng thức dậy đánh răng, súc miệng, rửa mặt, tắm gội cho thân thanh tịnh, thì Sám Hối là phương thức làm cho tâm thanh tịnh. Kinh Đại Thừa Bổn Sinh Tâm Địa Quán nói: “Sám hối có thể thiêu đốt củi phiền não, sám hối có thể vãng sanhcõi trời, sám hối có thể được cái vui tứ thiền, sám hối như mưa báu Ma Ni Châu, sám hối có thể ra ngục tam giới, sám hối có thể khai hoa bồ đề, sám hối thấy được Đại Viên Kính của Phật, sám hối có thể đến nơi Bảo Sở.”

Mọi hành hoạt của người con Phật, của Phật Giáo, phải bắt đầu bằng Sám Hối, cho bao nhiêu ân oánthị phi, thương buồn, ghét giận đều rửa sạch, cho lòng thanh thỏa, “hội họp trong hòa thuận, thảo luận trong hòa thuận, chia tay trong hòa thuận,”, thực hiện một cơ cấu, một tổ chức trong đó Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cư Độ.

 

Ở trên tôi có nói đời là cuộc hành trình, đời là chuyến hành hương. Nói đến hành trình, hành hương là nói đến người tham gia, nói đến những đoạn đường đi qua. Người tham gia có kẻ đến trước, có kẻ đến sau, có hàng thanh niên sức khoẻ dồi dào, có bậc phụ lão gần đất xa trời; những đoạn đường đi qua có nơi bằng phẳng, có chỗ gập ghềnh. Không vì thành phầntham gia khác nhau, không vì những đoạn đường khác nhau mà ta thối chuyển, mà không cố gắngvượt qua.

Cuộc sống, Duy Thức gọi là Hằng Chuyển Như Bộc Lưu, như giòng nước chảy, biến chuyển không ngừng. Chuyển biến nên không có tự ngã, không có gì để bám chặt vào. Đợt nước này qua đợt nước khác nối nhau chảy, biến thành giòng nước, nói lên sự liên tục và tương liên của nó. Hiện hữu nhưng không có tự ngã.  Trong cái hiện hữu ấy, chúng ta khổ, chúng ta bức xúc, nhưng cũng trong cái hiện hữu ấy chúng ta có dịp hoàn thànhtâm nguyện, có dịp tiến tu. Trong cái thế giớicạnh tranh có những hùng tâm muốn kiến tạo một xã hộilý tưởng trên lập trườngLân MẫnHữu Tình. Phật Giáo có giúp cho họ nơi nương tựa ấy? Có giúp họ triển khaitinh thầnđại từ bi, tinh thần “Ngũ Trược Ác Thế Thệ Tiên Nhập, Như Nhất Chúng Sinh Vị Thành Phật, Chung Bất Ư Thử Thủ Nê Hoàn?”

Trí Không Trần Quang Thuận
Thư Viện Hoa Sen