Trọn Vẹn Một Niềm Tin

0
151
TRỌN VẸN MỘT NIỀM TIN
(SC. Thích NữHuệ Tĩnh)

lotus flower (3)lotus flower (3)“Ở đây, này Hiền giả, vị Thánh đệ tửthành tựulòng tinbất động đối với Đức Phật… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… đầy đủ các học giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến thiền định. Này Hiền giả, do nhân thành tựu bốn pháp này nên các chúng sanh ở đời này được Thế Tôntuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ” (S,v,346) [1].

Tóm tắt: Trong hàng đệ tửtại giaxuất gia, có rất nhiều tấm gương sáng, tiêu biểutrưởng giảCấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika). Với niềm tinbất hoại đối với Tam bảo cùng với những công hạnhphụng sựnhân sinh, suốt cuộc đời ông đã nỗ lực làm tròn bổn phận của một cư sĩtại gia mẫu mực. Cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời ông vẫn luôn hướng về Tam bảo và nghĩ đến lợi ích cho mọi người. Thông qua việc tìm hiểu Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc (M.143; Anāthapiṇḍikovādasutta) [2], chúng ta sẽ hiểu thêm phần nào về cuộc đời cũng như những công hạnhniềm tin sắc son của ông đối với Tam bảo. Qua đó, bài kinh cũng cho ta thêm một trong những phương phápthực tập để có một tâm thái luôn an nhiêntự tạikhông chấp thủ.

TRƯỞNG GIẢ ANATHAPINDIKA – MỘT VỊ CƯ SĨ MẪU MỰC 
Trưởng giảCấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika; 給孤獨) – một cái tên không quá xa lạ đối với chúng ta. Tên thật của ngài Anāthapiṇḍika là Sudatta, chính bởi tấm lòng tương thân tương ái, luôn sẵn lòng san sẻ tài sảnvật chất của mình đối với tất cả mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổcô độc, do đó Sudatta mới có tên là Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc – Người cung cấpbảo trợ cho những người cô độc kém may mắn) như lời xác nhận của ông với Đức Phật“Con tên là Tu-đạt-đa (Sudatta), vì con thường giúp đỡ những người cô độc khốn khổ nên người đời gọi con là Cấp Cô Độc” [3]. Sự xuất hiện không hề ít của Anāthapiṇḍika trong Kinh tạng Pāli hay A-hàm chứng tỏ tầm mức ảnh hưởng của vị trưởng giả này đối với xã hội và kể cả Tăng đoànPhật giáo thời bấy giờ.

Ngài Anāthapiṇḍika là một người thương nhân nước Kosala, thành Vessali vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Do nhân duyên nhiều kiếp, ông có phước báu được gặp gỡ và được Đức Phậtcảm hóa, nhờ đó ông đã phát tâmdũng mãnhthực hành các việc công ích cho xã hội, cúng dường các nhu yếu phẩm cho Tăng đoàn. Đức Phật đã ngợi khen ông là bậc nhất trong hàng cư sĩ nam và là người đứng đầu về hạnh bố thí (A,i,25) [4]. Ngoài ra, một trong những đóng góp quan trọng của Anāthapiṇḍika cho sự hưng thịnh của Phật giáo thời bấy giờ, đó là cúng dường lên Đức Phậtchư TăngTịnh xá Jetavana tại thành Sāvatthī – một trong những địa điểm quan trọng, được Đức PhậtTăng đoànthường xuyênan cư mùa mưa và nơi đây cũng là địa điểm mà Đức Thế Tôntuyên thuyết rất nhiều bài kinh, nó đã trở thành một trong những trung tâmsinh hoạtPhật giáo bậc nhất thời bấy giờ.

Xoay quanhcuộc đời của Anāthapiṇḍika có nhiều sự kiện được ghi nhận tản mác trong Kinh Nikaya hay Kinh A-hàm liên hệ đến việc xây dựngmột đời sống an vui hạnh phúc của cư sĩtại gia, đề cao vai tròhộ trì Phật pháp của giới thanh tín cư sĩ. Qua đó, chúng tanhận thấy rằng mối quan hệ giữa Tăng đoàncư sĩ có một sự gắn kết chặt chẽ, người xuất gianhiệm vụ hoằng truyền chánh pháp và những người cư sĩtại gia đóng vai trò là những người bảo trợ, cung cấp về tứ vật dụng, cũng như một số nhu yếu phẩm cần thiết cho những vị xuất giaan tâmtu học. Ngược lại, những vị xuất gia là người cung cấp cho các cư sĩ những chất liệu cần thiết để xây dựngmột đời sống tu tậptâm linhhướng thượng: kinh nghiệmtu tậpcon đườngchuyển hóatâm thức.

Đối với cư sĩtại gia, Đức Phật thường giảng dạy về Năm giớicăn bản, Bát quan trai giới, Bố thí,… Bên cạnh đó, Phật cũng dạy về các nghĩa vụ của một người công dân đối với đất nước hoặc cách thức để có đời sống vật chấtsung túcan lạc trong hiện tại. Điển hình như trong Ādiyasutta (A.iii.45), Đức Phật đã giảng dạy cho ngài Anāthapiṇḍika cách thức để có được đời sống vật chấtsung túc theo con đường Chánh mạng – sammā-ājīva [5]. Năm lý do để gây dựngtài sảnbao gồm:
1) Duy trì cuộc sống ổn định, cấp dưỡng cho cha mẹ, vợ con và người giúp việc;
2) Có thể giúp đỡ cho bạn bè thân hữu;
3) Có biện phápgiữ gìnbảo vệtài sản khỏi các mối nguy hiểm;
4) Dùng vào việc hiến tặng cho những người xung quanh, hiến cúng cho các hương linh đã chết, dâng hiến cho nhà vua và chư thiên;
5) Cúng dường cho các Sa-môn, Bà-la-môn có giới đức, có trí tuệ.
Đây là năm lý do để một người cư sĩnỗ lực để có thể thâu hoạch các tài sản một cách hợp pháp, làm giàu chân chính, trở thành công dân có ích cho xã hội [6].

Ngoài việc xây dựngmột đời sống vật chấtsung túc làm lợi ích cho mình và cho mọi người, Đức Phật còn chỉ dạy cốt lõi của đời sốngtâm linh cho gia chủ Anāthapiṇḍika: đó chính là sự phòng hộ tâm. Trong Kinh Nóc Nhọn (Arakkhitasutta), Đức Phật đưa ra một ví dụ về ngôi nhà có nóc nhọn nếu như vụng lợp thì mưa có khả năng xâm nhập làm hư hỏng toàn bộ kết cấu của ngôi nhà. Ngược lại, nếu như ngôi nhà ấy được khéo léo lợp, thì các rui kèo, vách tường, gốc cột,… toàn bộ kết cấu của ngôi nhà được bảo vệan toàn. Lấy ví dụ về ngôi nhà nóc nhọn để ẩn dụ cho tâm, khi tâm được phòng hộ thì thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp cũng được phòng hộ: “Này gia chủ, khi tâm được phòng hộ thì thân nghiệp,… khẩu nghiệp,… ý nghiệp cũng được phòng hộ… Với ai thân nghiệp…, khẩu nghiệp…, ý nghiệp được phòng hộ, thời thân nghiệp…, khẩu nghiệp…, ý nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy… Với ai thân nghiệp… khẩu nghiệp…, ý nghiệp không bị hủ bại thời sự chết được hiền thiện, mệnh chung được hiền thiện” [7]. Đức Phật đã nói lên vai trò chủ đạo của sự phòng hộ tâm, bởi vì tâm  được xem như là nguồn gốc của mọi thiện ác, kiểm soátbảo hộ tâm tức là làm chủ các cảm xúc của thân thể, điều chỉnh những hành vilời nói trong cuộc sống hằng ngày hoặc trong khi kinh doanh. Phòng hộ tâm tức là không để cho những tư tưởnggian tham, lừa gạt, chiếm đoạt của người khác, mà ngược lại cần phải giúp đỡ và san sẻ cho mọi người trong lúc nguy nan. Người cư sĩduy trìthực hiện điều đặn sự phòng hộ tâm trong thường nhật cuộc sống sẽ tạo thành nguồn năng lượngan lànhquả báochắc chắn sẽ an vui, khi lâm chung được nhẹ nhàng tự tại.

Trên đây chỉ là một trong những bài pháp mà Đức Phậtgiảng giải cho đối tượng là những thương giacư sĩ, mà cụ thể ở đây là Anāthapiṇḍika. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận ở vị trưởng giả này không chỉ giới hạn ở việc bố thícông íchxã hội mà hơn thế nữa, trong một số bài kinh đã thể hiệnniềm tinbất hoại của ông đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới, chứng tỏ ông đã được dự vào dòng Thánh (Dự Lưu) (S,v,385): “- Thưa Tôn giả Ānanda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ hãi? Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật: “Đây là Như Lai, bậc A-la-hán…Phật, Thế Tôn.”…đối với Pháp…đối với chúng Tăng…thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sāmīci) tại gia do Thế Tônthuyết giảng, con thấy không có tự mình vi phạm một giới nào.
– Lợi đắc thay cho gia chủ, này gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho gia chủ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả rồi” [8].
Tuy đời sốngtại gia của Anāthapiṇḍika luôn bận rộn với những công việc kinh doanh, tuy nhiên, trong những lúc nhàn rỗi, ông thường đến diện kiếnĐức Phật và các vị đệ tử để lắng nghe tiếp nhậnthực hành những lời dạy cao quý. Mặc dù là một thương gia tầm cỡ, nhưng thái độ khiêm cung cùng đức tintrong sáng đã tạo nên một cốt cách Anāthapiṇḍika với đầy đủ các tố chất của một vị thực hànhBồ tát hạnh trong vai trò của một cư sĩhộ phápthuần thành.

TRỌN VẸN MỘT NIỀM TINTRỌN VẸN MỘT CON ĐƯỜNG
Kể từ khi Anāthapiṇḍika đầy đủ nhân duyên được quy y Tam bảocho đến khi lâm chung, một niềm tin sắc son của ông đối với Phật pháp là không lay chuyển, một niềm tintrọn vẹn.

Lần đầu tiên nghe được danh từ “Phật” (Buddha), trưởng giảvô cùng hoa hỷ, toàn thân sởn gai óc, niềm vui dâng tràn khi một vị Phật đã xuất hiện trên thế gian. Cả đêm ông không thể ngủ và háo hứclên đường đi gặp Đức Phật mặc dù trời vẫn còn chưa sáng. Vào thời điểm đó, Đức Phật đang ở Hàn Lâm, ngoại thành Rājagaha. Vì phải đi xuyên qua một nghĩa địa trong bóng tối, nhiều lần ông chùn bước muốn quay về và được dạ xoa Sivāka khích lệ ông cố gắngvượt qua cơn sợ. Trong cuộc gặp gỡ với Đức Phật, ông đã quy ytrở thànhcư sĩPhật tử và được Phật giảng dạy về Tứ thánh đế sau đó ông đã đắc quảDự lưu [9].

Dành trọn cả cuộc đời để làm an vui lợi ích cho những người nghèo khổ, tình yêu nhân loại cùng với lòng nhiệt thành phụng sựchúng sanh được soi sáng dưới lý tưởng cao đẹp của Phật pháp, những điều này đã tạo nên một nhân vật đặc sắc, đó chính là Anāthapiṇḍika. Những giây phút cuối đời của Anāthapiṇḍika trên giường bệnh được ghi nhận trong Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc (M.143; Anāthapiṇḍikovādasutta) [10]; ngoài ra, một số bản kinh khác cũng có nội dung tương tự [11]. Do giới hạn, phần này chúng ta sẽ tập trung thảo luận về nội dung của bản kinh số 143 thuộc Trung Bộ Kinh để tìm hiểu thêm về ý nghĩa cũng như nội dung mà bài kinh hướng đến.

Câu chuyện được ghi nhận trong M.143 kể về sự kiệnTrưởng giả Anāthapiṇḍika đang lâm trọng bệnh và sau đó được nếm vị ngọt của chánh pháp tự tại hóa sanh vào cõi trời Tusitā. Bên cạnh đó, hình ảnh một vị Tôn túctrưởng lãođứng đầu trong hàng Tăng chúng đang dấn thân vào nơi giường bệnh để thăm hỏi động viên và có những lời khai thị quý giá, những điều đó càng tô đậm thêm những dư vị ngọt ngào của tình Tăng thân thấm đẫm tình người cùng tình đạo.

Với tâm nguyện hoằng truyền chánh pháp, lợi lạcquần sanh, khi nào chúng sanh đang đau khổ thì nơi đó khát khao hướng đến sự cảm hóa của chư vị Thánh đệ tử Phật. Với oai nghi đĩnh đạc, ánh từ dung của một bậc giải thoát, Tôn giả Sāriputta (cùng với ngài Ānanda) ân cần đến bên giường bệnh nhẹ nhàng với những lời thăm hỏi“Này cư sĩ, ta mong rằng ông có thể kham nhẫn, ta mong rằng ông có thể chịu đựng! Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng!” [12].

Cảm động trước những lời hỏi thămân cầnchân tình của ngài Sāriputta, nhưng lúc này Anāthapiṇḍika đang phải chịu những đau đớn mà tấm thân ngũ uẩn này đang dần đi đến tan rã ngay trên thân thể ông một cách mãnh liệt nhất: “Thưa Tôn giả Sāriputta, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Sự thống khổ của con gia tăng không có giảm thiểu, sự gia tăng rõ rệt không có giảm thiểu” [13]. Bởi ông đang đứng bên bờ vực của sự sống và cái chết, những cảm thọ của ông về tấm thân ngũ uẩn này như càng thêm sâu sắc. Tuy nhiên lúc này, Anāthapiṇḍika đã chứng quảDự lưu trước đó rồi, nên có khả năng ông chỉ đau đớn về thể xác nhưng về tinh thần ông vẫn minh mẫn và sẵn sàng tiếp nhận những lời giáo giới từ Tôn giả Sāriputta.

Với trí tuệthiên phú, sau khi lắng nghe những đau khổtrưởng giả này đang chịu đựng, Tôn giả Sāriputta đã tuyên thuyết một pháp thoạithâm sâuthích hợp với hoàn cảnh cũng như đối tượng đang hiện diện. Ngài đã tuyên dạy về sự không chấp thủ vào sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu giới, năm uẩn,…: “Do vậy, này cư sĩ hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt”… Do vậy, này cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào cá pháp [nói trên]”. Này cư sĩ hãy học tập như vậy” [14].

Ngài Sāriputta đã giảng dạy về giáo lýVô ngã hay Tánh không cho Anāthapiṇḍika, một bài pháp sống độngliên hệ ngay thực tế những gì đang diễn ra trên cơ thể của ông (căn, trần, thức, xúc, thọ,…): không chấp thủ vào chúng tức là không đồng hóa những cảm giác, tư tưởng, nhận thức,… là của mình, do không chấp thủ nên không có đau khổ, do không có đau khổ mà được an lạcgiải thoát. Như lời xác nhận của Đức Phật trong M.138: “Này các Tỳ kheo, nếu thức đối với ngoại [trần] không tán loạn, không tản rộng, tâm không trú trước nội [trần], không bị chấp thủquấy rối, sẽ không có tập khởi, sanh khởi của khổ về sanh, già, chết trong tương lai” [15]. Như vậy, có thể nói, đây cũng chính là một trong những biện pháptâm lý có khả năng đưa cá nhân tiến đến một sự giải thoátchấp thủ.

Điều đặc biệt trong bản kinh thuộc Tăng nhất A-hàm, trước khi ngài Sāriputta thuyết giảng về sự vô chấp thủ, thì trước đó, Tôn giả khuyên ông Anāthapiṇḍika hãy nên nhớ tưởng đến Phật, Pháp, Tăng thì chắc chắn sẽ được sanh về cõi lành, cõi trời hoặc trong loài người [16]. Cũng trong bản kinh này, ngài Sāriputta nói rõ về vòng nhân duyên và Ngài xác định rằng: “Đây là pháp tu bậc nhất về nghĩa không” [17]. Sau khi nghe được những lời dạy cao quý từ Tôn giả Sāriputta, Anāthapiṇḍika đã xúc độngrơi lệ bởi vì ông cho rằng đây là bài pháp vi diệu mà từ trước đến giờ mới được nghe Tôn giả thuyết như vậy [18]. Sau đó Tôn giả nói rằng, những giáo lý này chủ yếu được thuyết cho hàng xuất gia, Anāthapiṇḍika khẩn khoản xin Tôn giả hãy phổ biến giáo thuyết này ra đối với hàng cư sĩ bởi “có những thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng nếu được nghe họ có thể biết được [Chánh] pháp” [19].

Ở đây, ta nhận thấy tấm lòng cao cả của Anāthapiṇḍika khi mình đã được pháp lạc và mong muốn cho mọi người cũng hưởng được vị ngọt của Chánh pháp. Điều lưu ýgiáo pháp của Đức Phật mang tính chấttùy duyên, do đó, Đức Phật và các Thánh đệ tử khi thuyết pháp cho một đối tượng nào đó, thì trước hết các Ngài sẽ quán sátcăn cơ của đối tượng đó và có những phương phápgiáo hóathích ứng khác nhau. Do đó, giáo pháptrong sángthuần túy và không có những bí mật bị che giấu, Đức Phậtthuyết pháp với bàn tay rộng mở: “Này Ānanda, Ta đã giảng chánh pháp không có phân biệt trong ngoài [Mật giáo và không phải Mật giáo]… đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay [còn giữ lại một ít Mật giáo chưa giảng dạy]” (D.16) [20]. Qua chi tiết này, ta thấy được tinh thần bình đẳng không phân biệt của Đạo Phậtthể hiệntinh thầntùy duyênhóa độ và tấm lòng tôn trọng pháp với tâm từ mong muốn sự lợi ích cho mọi người của Anāthapiṇḍika.

Sau khi đã được nghe ngài Sāriputta giảng về giáo lýVô ngãTánh không, ông Anāthapiṇḍika đã mạng chung với tâm thái an nhiên tự tại và được hóa sanh vào cõi trời Tusita (Đâu-suất-đà-thiên). Sau khi trở thành một vị trời, Thiên tử Anāthapiṇḍika với dung sắc chói sángthù thắng đã trở lạiTinh xá Jetavana đảnh lễĐức Thế Tôn, rồi dùng bài kệ khen ngợi:
“… Nghiệp, Minh và Chánh pháp,
Giới tối thượng sanh mạng
Chính nhờ các pháp trên
Khiến chúng sanhthanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản,
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chơn chánh,
Được thanh tịnh ở đây…” [21].

Bài kệ đã nói lên những cốt lõi của giáo pháp, qua đó thể hiện sự kiến giảiuyên thâm của vị trưởng giả này, đây là lời ngợi ca cũng là lời tán dương và cảm niệm những ân đứcTam bảo đã đem đến cho ông. Ông là một trong những cư sĩ thuần thànhthấm nhuần lời dạy của Đức Phật và là tấm gương sáng cho lý tưởngphụng sựnhân sinh, tốt đời đẹp đạo.

Ý NGHĨA
Đối với những ai đã được thấm nhuầntinh thầnvô ngã, tùy duyên của Đạo Phật thì cho dù đứng trước mọi nghịch cảnh của cuộc đời thì họ có đầy đủ sự bình thản tự tin để vượt qua, an nhiêntự tạichấp nhậnđối diện với nó. Anāthapiṇḍika là một trong những trường hợp như vậy, kể từ khi quy y Tam bảocho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời kể cả sau khi đã được hóa sanh vào cõi trời, Anāthapiṇḍika vẫn luôn luôn dành trọn hết tâm tư và tình cảm của mình, trước sau một niềm tinchân tịnhchánh tín và đi trọn con đường dẫn đến an vui hạnh phúc, một niềm tintrọn vẹn.

Chú thích:
[1] Kinh Tương Ưng Bộ, TTTĐPGVN, HT. Thích Minh Châu dịch, Nxb. Hồng Đức, 2020, tr.1246.
[2] Kinh Trung Bộ, TTTĐPGVN, HT. Thích Minh Châu dịch, Nxb. Hồng Đức, 2020, tr.1083-1087.
[3] 《雜阿含經》卷22; (CBETA 2023.Q4, T02, no. 99, p. 158b12-14).
[4] Kinh Tăng Chi Bộ, TTTĐPGVN, HT. Thích Minh Châu dịch, Nxb. Hồng Đức, 2021, tr.28.
[5] Chánh mạng: thuộc về Bát chánh đạo; nghĩa là nuôi sống bằng nghề nghiệp chân chánh, không vi phạmpháp luật.
[6] Xem thêm, Kinh Tăng Chi Bộ, Sđd, tr.533-534.
[7] Kinh Tăng Chi Bộ, Sđd, tr.234.
[8] Kinh Tương Ưng Bộ, Sđd, tr.1271.
[9] Xem thêm S,1,210 và Kinh Tạp A-hàm số 592.
[10] Kinh Trung Bộ, TTTĐPGVN, HT. Thích Minh Châu dịch, Nxb. Hồng Đức, 2020, tr.1083-1087.
[11] Xem thêm: PaṭhamaAnāthapiṇḍikasutta (S,v,380); Dutiyaāthapiṇḍikasutta (S,v,385);《中阿含經》教化病經 (CBETA 2023.Q4, T01, no. 26, p. 458b28-29); 《增壹阿含經》卷49〈51 非常品〉:「八」(CBETA 2023.Q4, T02, no. 125, p. 819b11);…
[12] Kinh Trung Bộ, Sđd, tr.1084.
[13] Kinh Trung Bộ, Sđd, tr.1084.
[14] Kinh Trung Bộ, Sđd, tr.1084-1085.
[15] Kinh Trung Bộ, Sđd, tr.1051.
[16]《增壹阿含經》(CBETA 2023.Q4, T02, no. 125, p. 819b21-c4)
[17] 《增壹阿含經》卷49:「是謂,長者!名為空行第一之法。」(CBETA 2023.Q4, T02, no. 125, p. 819c23-24)
[18] Kinh Trung Bộ, Sđd, tr.1085.
[19] Kinh Trung Bộ, Sđd, tr.1086.
[20] Kinh Trung Bộ, TTTĐPGVN, HT. Thích Minh Châu dịch, Nxb. Hồng Đức, 2020, tr.266-267.
[21] Kinh Trung Bộ, Sđd, tr.1086-1087.

Tài liệutham khảo:
1. Kinh Trường Bộ, TTTĐPGVN, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn giáo, 2020.
2. Kinh Trung Bộ, TTTĐPGVN, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn giáo, 2020.
3. Kinh Tương Ưng Bộ, TTTĐPGVN, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Hồng Đức, 2021.
4. Kinh Tăng Chi Bộ, TTTĐPGVN, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Hồng Đức, 2021.
5. Kinh Tạp A-hàm, TTTĐPGVN, Việt dịch Trung tâm dịch thuật Trí Tịnh, Nxb. Tổng hợp TP HCM, 2022.
6. Kinh Tăng nhất A-hàm, TTTĐPGVN, Việt dịch Trung tâm dịch thuật Trí Tịnh, Nxb. Tổng hợp TP HCM, 2022.