Tối Thượng ý Đà-ra-ni Kinh

0
11

Tối thượng ý đà-ra-ni Kinh
Hán dịch: Đại sư Thí Hộ
Việt dịch: Sa-môn Thích Viên Đức

Như thật tôi nghe. Một
thời đức Phật ngự tại Ngưu Đầu Chiên Đàntinh xá thuộc thành Cứu Cáp cùng các vị
đại Tỳ-khưunhóm hội đầy đủ và Thiên long bát bộ cung kính vi nhiễu chiêm ngưỡng
mà an trụ.

Bấy giờ đức Thế Tôn dạy
A-nan-đà và các đại chúng rằng: “Ta quán thấy ở cõi Nam Diêm-phù-đềnày, trong
thời kỳ mạt thế,do sự bạc phước của tất cả chúng sinh,các thứ ác quỷ thần khởi lên
các tai nạn não loạn khiến cho chúng sinh không an ẩn. Có đà-la-niđể diệt trừ
các tai nạntăng trưởng cát tường. Nay ta tuyên nói, các ông hãy lắng nghe!”

Bấy giờ A-nan-đà và các
đại chúngvâng lời dạy dỗ của Phật, lẳng lặng chú ý nghe.

Phật dạy A-nan: “Đời
quá khứ, cõi Diêm-phù-đề này có một vị Tỳ-khưu tên là Truyền Giáo.Ngày 15 tháng
chín đi du hành về phương Bắc, cách nước Chi Na không xa, chừng bốn do-tuần,
bỗng nơi giữa đường thấy một thần nhân đứng ở đàng xa. Thần nhân này thân cao
30 thước, mặt tròn bốn thước. Tỳ-khưu Truyền Giáokia thấy thần nhânthân thể
hùng vĩ, nét mặt sáng rực, mới thẩm xét quán sát, biết đây không phải là người tầm
thường, mà chính thậtDiệu Cát Tường Đồng Tử.

Tỳ-khưu Truyền Giáođến
trước mặt thần nhân, năm vóc sát đất, nép thân lễ kính. Làm lễ xong, chắp tay
chiêm ngưỡng mà bạch thần nhân rằng: “Vì sao Diệu Cát Tường Đồng Tử hiện tướng
như thế? Nay con xét biết, nhất định ngài không phải là ai khác, mà là một vị thánh.”

Bấy giờ,thần nhân bảo Tỳ-khưu
rằng: “Đúng như lời ông nói, ta chính là Diệu Cát Tường vậy.” Tỳ-khưu Truyền
Giáolại bạch thần nhân rằng: “Tại sao nay ngài hiện tướng này?” Bấy giờ thần
nhân
bảo Tỳ-khưu Truyền Giáorằng: “Ông có biết nay cõi Nam Diêm-phù-đề sẽ có
tai nạn chăng?Những chúng sinh bạc phước sẽ mắc các thứ bệnh, chịu các khổ não.”Tỳ-khưu
bạch rằng: “Nay vì lý do gìcõi Nam Diêm-phù-đề bỗng nhiên có những tai nạn
ấy?”

Thần nhân nói: “Nay tại
mặt Nam của núi Diệu Cao có A-tu-la hưng khởi tâm ác, đem các quyến thuộc giao
chiến với chư Thiên. A-tu-la che khuất mặt trời, mặt trăng và làm cho ánh
sáng không còn chiếu hiện nữa. Lại có vô lượng cực ác Dạ-xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la…
vv, ở mặt Nam của núi Diệu Cao, thấy A-tu-la hiện tướng đó rồi cũng cùng nhau
trợ giúp. Bấy giờ chư Thiên thoái bại, A-tu-lađắc thắng.Thời cõi Nam Diêm-phù-đềbỗng
thấy ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các vì sao bị che mất như vậy, các tướng
bất tường xuất hiện nơi nơi, phong vũ phi thời, nắng lụt tranh nhau xuất hiện. Các
ngũ cốc, lúa mạ, không thể đơm hoa kết trái. Giả sử có trái thì ăn cũng không
có mùi vị, nên khiến cho oai quang sắc lực của chúng sinh đều giảm kém, gầy ốm.

Lại có các loài ác quỷ loại
Tỳ-xá-xà biến làm bổn hình, hiện các dị tướng. Hoặc làm sư tử, cọp, beo, hoặc
hình trạng giống chó sói, cũng lại hiện ra những tướng nữ nhơn yêu quái não
loạn
chúng sinh, khiến sinh các thứ bệnh, làm chúng sinh chịu mọi khổ não. Đó
là: bệnh bướu cổ, bệnh phong, bệnh đàm, bệnh thổ tả, bệnh đau mắt, bệnh đau
đầu, bệnh đau bụng cho đến bệnh trĩ, ban trái. Lại có các thứ bệnh rét hoặc
phát bệnh một ngày hoặc cách ngày, hoặc phát giây lát hoặc suốt tháng. Hoặc bị bệnh
ghẻ, ghẻ ngứa ghẻ chùm ghẻ lác, các ác tật bệnh khắp cõi Diêm-phù-đề, khiến các
chúng sinh chịu rất nhiều khổ não. Những người ít phước không thể nào tránh
khỏi
, cho đến người giả cả, kẻ trung niên hoặc thiếu niên hoặc trẻ nhỏ do những
tai chẩnnày, mà phần nhiều bị chết yểu.Này Tỳ-khưu! Do xót thương về những việc
này nên ta bi cảm nói ra, do đó hiện ra các tướng trạng này cảnh cáo cho mọi người
biết.

Này tỳ-khưu! Ta nay bảo
ông: Nếu có chúng sinh tự thân mình và các quyến thuộc cho đến tụ lạc, xóm
làng, cõi nước, muốn tiêu tai họa, tăng ích phước lành, trước tiên thâm sinh
kính trọng ngôi Tam Bảo, bày biện các hoa thơm, trái ngon quả ngọt, thắp hương,rưới
dầu thơm, làm lễ cúng dường các thứ đầy đủ. Cần phải chí tâm một thất không ăn,
ngày bốn thời, đêm bốn thời, dũng mãnh chuyên chú trì tụng Tối Thượng Ý Đà-la-ni
thì tai nạn kia quyết tiêu diệt hẳn, tất cả phước lành sẽ được tăng ích.Tỳ-khưu!
Nếu muốn trì tụng Tối Thượng Ý Đà-la-ni kia, trước cần phải cúi đầu xưng niệm danh
hiệu
: ‘Nam mô Quảng Đại Thậm Thâm Trí Huệ Chấn Hống Vương Như Lai’xong, liền
tụng Đà-la-ni.”

Bấy giờ thần nhânkia vì
Tỳ-khưu Truyền Giáomà tuyên nói Tối Thượng Ý Đà-la-ni rằng:

Đát nễ-dã tha Vĩ bố
la nga lý nhĩ đế, vĩ bố la thấp phạ lị, vĩ bố la dụ nễ thế, a la nga đế, sa hạNẵng
mồtát lị-phạ nễ phạ ra nỉ vĩ sắt kiếm tỳ nõa, đát tha nga đá tả. Đát nễ-dã tha
hế ma, hế ma, hạ ma hế, sa hạ Nẵng mồ ngu nõa ca ra tả, đát tha nga đa tả. Đát
nễ-dã tha Nga nga nẵng ca lị, nga nga nẵng tam bà phệ, nga nga nẵng kiết lị đế,
sa hạ Nẵng mồra đát-nẵng na-nga đaNẵng mồ đát tha nga đa tả Đát nễ-dã tha Ra
đát-nỗ nạp-nga đế, ra đát-nẵng tam bà phệ, sa hạ Nẵng mồ ma hạ a nhĩ đa tát-phạ
di nễ, đát tha nga đa tả. Đát nễ-dã tha A ma ma hế, sa hạ Nẵng mồ ma nẵng
tát-đán bà tả, đát tha nga đa tả Đát nễ-dã tha Ma nẵng ta-đát vãm, thuật đà,
bát nạp-ma sa lị, bát nạp-ma tam bà phệ ca lị hế đa ca lị duệsa hạ Nẵng mồtát
lị-phạ một đà mạo địa tát đát nẫmNẵng mồ A lị dã mạn tố thất-lị dã. Đát nễ-dã
tha Nhạ duệ, nhạ dã la một địa, hế ma hế ma, ma hạ ma hế sa hạNẵng mồ a lị dã
phạ lộ chỉ đế thấp phạ la tả Đát nễ-dã tha Nga nga nẵng trà duệ, nga nga nẵng
vĩ ngật lăng đa, ế hế mi sa ha Nẵng mồa lị dã tam mãn đa bà nại-la tả, đát tha
nga đa tả Đát nễ-dã tha Hế bà nại-lị ma hạ bà nại-lị, a mật-lý đa bà nại-lị, vĩ
nga đa, ra nhạ tế, sa hạ.Nẵng mồa lị dã phạ nhật-ra địa ba đa duệ đa dã Đát
nễ-dã tha Kiết lị đế đa, tát lị-phạ nhĩ nễ tỵ a để kiết lị-đế đa, tát lị-phạ
nhĩ nễ tỵ, phạ nhật-la tam bà phệ, phạ nhật-la tỵ na ca dã, sa hạ. Nẵng mồtát
lị-phạ một đà mạo địa tát đỏa nam. Đát nễdã tha Thấp-phệ đa ca lị tỵ nhập-phạ
la nễ duệ, sa hạ.Tát-đán bà nễ mô hạ nễ, bán nhạ nễ, bôn noa lị ca dạ, sa hạ. Ma
hạ nan đế nan bà, nễ duệ, sa hạ.
Nỗ la vĩ nỗ lị duệ, sa hạ. La vĩ hật-lị đế, sa hạ. Phiến
đế, tất phệ nễ phạ, bá ni duệ, sa hạ. Lãm mô nại lý duệ, ca la bá thế, kiết lị-đế
đa, sa hạ. A nha-noa nẵng, vĩ đà ma nễ duệ, sa hạ. Đà đổ, ca lị duệ, sa hạ. Mi
già, ca lị duệ, sa hạ. Mạt la vãm đế duệ, sa hạ. Mạo địa-dựng nga nan đế duệ,
sa hạ. Yết lị ma ta đà nễ, ca dã, sa hạ. Ê ca la ma dã, sa hạ. A dũ nga tả lị
ni duệ, sa hạ. Một-la hám-mô bá ngu trà dã, sa hạ. Tát lị-phạ ca lị-ma phạ la
noa tỵ tất sử khất đa dã, sa hạ. Tát lị-phạ một đà tỵ tam tắc-hật rị đa dã, sa
hạ. Ê ca tất-lăng nga dã, sa hạ. A tất-lăng nga dã, sa hạ. Bộ đa dã, sa hạ. A
bộ đa dã, sa hạ. Tát lị-phạ noa cụ ba, tam ma dã, sa hạ. Ma ma, tát lị-phạ nẫm
tả, sa hạ.

Lúc bấy giờ thần nhân nói Tối Thượng Ý Đà-la-ninày rồi, liền dạyTỳ-khưu
Truyền Giáorằng: “Ông nay đem Đà-la-ni này vào mười phương cõi Nam Diêm-phù-đề,
truyền nói nơi quốc ấp, tụ lạc, xứ xứ, khiến các chúng sinh đều được nghe biết,
phải khiến cho Đà-la-ni này được rộng tuyên lưu bố. Vì cớ sao thế? Vì muốn cho
chúng sinh tăng trưởng công đức vậy, có thể ban cho chúng sinh trừ các khổ não
vậy, hay ở thế gian trừ các tai nạn vậy, hay khiến cho các ác quỷ thần trừ các ác
tâm
vậy, hay khiến cho quốc ấp, tụ lạc từ vua đến thần dân, hết thảy đều được
an ẩn khoái lạc vậy.

Này Tỳ-khưu! Nếu có kẻ trai lành và người gái tín, muốn dùng Đà-la-ni này
cung kính, cúng dường, thọ trì, đọc tụng để dứt trừ tai nạn, tăng trưởng công đức,
nên phải phát tâm chí thành quy y Tam Bảo, Ở trong một thất, bày biện các hương
hoa
cúng dường nơi Phật tượng, và ngày ấy cúng dường bảy vị Tăng, giữa đêm ở
gia đình của mình thắp đèn đuốc sáng mà trì tụng Đà-la-ni này thì sẽ được giải
thoát
hết thảy tai nạn.

Này Tỳ-khưu! Nếu kẻ trai lành và người gái tín hay tác pháp như thế thì tự
thân mình giải thoát. Tỳ-khưu! Nếu hai thất bày biện hương hoa ẩm thực cúng
dường Phật
, Pháp,Tăng sẽ được bội phần hơn trước, cha mẹ của người đó sẽ được
giải thoát
.

Này Tỳ-khưu! Nếu ba thất bày biện hương hoa cúng dường Phật Pháp Tăng như
trên, thì hết thảy nam nữ quyến thuộc của người đó đồng được giải thoát. Này Tỳ-khưu!
Nếu bốn thất như thế mà tu trì thì bội bội phần hơn trước, tinh tấn tu hành
không giãi đãi, thì người đó ở đâu, tất cả người dân trong tụ lạc ấy đều được
giải thoát
.

Này Tỳ-khưu! Nói tóm lại cho đến bảy thất bội bội tăng thù thắng cúng dường
Phật
Pháp Tăng như trước, thì người ấy thu hoạch công đức, từ trên đến quốc
vương
cho đến nhân dân thảy đều giải thoát.Này Tỳ-khưu nên biết, nay ta nói với
ông rằng, các ông trì Pháp này, hãy mau
chóng truyền khiến cho lưu bố ở địa phương khác. Vì sao thế? Vì pháp này hay giúp
chúng sinh tiêu trừ mọi thứ khổ não, tăng trưởng các công đức vậy.

Này Tỳ-khưu! Nếu lại có người được nghe biết sự lợi ích của pháp này mà lòng
không cung kính, lại không vì người khác mà rộng tuyên nói, lại tự mình không chuyên
đọc tụng,Tỳ-khưu nên biết người đó có cái lỗi giấu Pháp, ngang bằng với tội ngũ
nghịch
. Này Tỳ-khưu! Nếu có chúng sinh được nghe Pháp này, không trái với lời
dạy của ta, cúi đầu tự quy y, thọ trì, đọc tụng, cúng dường, cung kính. Lại vì
người khác y Pháp tu phước,lại hay lưu bố rộng lợi ích chúng sinh, Tỳ-khưu,ta liền
trông biết, trước hết ta vì người này qua đến núi Diệu Cao, thẳng tới chỗ thiên
nhơn, A-tu-la, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, dùng tâm lợi ích hàng phục, khuyến dụ. Ta
sẽ vì họ nói Pháp khiến cho họ được hoan hỉ, khiến nhóm thiên nhơn, A-tu-la…
vv, dứt trừ lòng tranh đấu mà hãy cùng nhau cung kính. Tức là cõi Diêm-phù-đề
liền dứt trừ tai nạn, không còn sinh khởi nữa. Các ác quỷ thần mỗi mỗi đều lẩn
trốn
, tất cả chúng sinh đều được an vui.”

Bấy giờ vị thần nhânkia nói việc đó rồi liền ẩn hình biến mất. Tỳ-khưu
Truyền Giáo tuân phụng truyền nói.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn dạy các đại chúng rằng: “Diệu Cát Tường Đồng Tử kia
nơi đời quá khứ dùng sức phương tiện vì các chúng sinh nói Pháp như thế. Nay ta
vì các ông lại tuyên nói. Các ông nên chuyên tâm thọ trì, đọc tụng. Vào đời vị
lai
, rộng tuyên lưu bố để tiêu trừ tai nạn, tăng ích phước lành.”

Bấy giờ A-nan-đà và các đại chúng nghe Phật nói xong thảy đều vui mừng, chí
tâm
thọ trì, lễ Phậttrở về.

 

Kinh Tối Thượng Ý Đà-ra-ni
(Hết)

Sa-môn Thích Viên Đức dịch từ Hán ra Việt năm 1976
Vi tính: Nguyễn
thị Diệu Minh và Nguyễn minh Hoàng