Bài giảng của Trưởng lãoHòa thượngThích Trí Quảng
ngày 15-3-2020 tại chùa Huê Nghiêm

Thời kỳPhật giáo Nguyên thủyđánh dấu mốc từ khi Đức Phậtthành đạo đến khi Đức Phật vào Niết-bàn. Và sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Phật giáo được truyền bá theo hai con đường, một con đường truyền xuống phía Nam Ấn Độ gọi là Nam truyền Phật giáo và con đường truyền lên phía Bắc Ấn Độ gọi là Bắc truyền Phật giáo.
Trong Nam truyền Phật giáo, từ thời vua A Dục, người con của nhà vua này xuất gia làm Sa-môn đã truyền báPhật giáo xuống đảo Tích Lan và ở đây đã ghi chép bộ kinh Pali trên lá bối còn lưu giữ đến ngày nay.
Đại là lớn, là đông, là đại chúng. Đại thừa có nghĩa là mở rộng. Vì vậy, tinh thầnPhật giáoĐại thừathể hiện rõ nét rằng Phật giáo đến vùng nào thì nhẹ nhàng kết hợp với nền văn hóa, văn minh của nơi đó làm cho giáo pháp Phật được mở rộng thêm.
Trong khi Nam truyền Phật giáo phát triển ít và còn giữ lại hai hình thức của thời kỳ Phật còn tại thế là vấn y và khất thực. Ngày nay, Phật giáo Nam truyền có mặt ở các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và cũng được truyền bá sang một số nước Âu Mỹ.
Hình thứcphục sức của tu sĩ Nam truyền Phật giáo vấn y theo kiểu Phật còn tại thế, vì y phục này là văn hóa của Ấn Độ. Và khi Phật giáotruyền bá đến các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia thì cách ăn mặc ở các nước này cũng giống với Ấn Độ nên không có sự thay đổi về y phục của tu sĩ Nam truyền.
Thứ hai là các Tỳ-kheo phải đi khất thực, vì Phật tại thế, Ngài cấm Tỳ-kheo tham chính, sản xuất, buôn bán. Vì thế, hình thứckhất thực được coi là pháp căn bản nhất của Phật giáo Nam truyền.
Thật vậy, Tỳ-kheo nghĩa thứ nhất là khất sĩ, lấy khất thực làm hạnh chính. Vì Tỳ-kheo không có vật dụng nào khác ngoài y bátthể hiệný nghĩaxuất gia không được sở hữu bất cứ thứ gì và chỉ lấy ba pháp ấn là không, vô tác và vô nguyện làm chuẩn mực tu hành. Trước nhất, Tỳ-kheo luôn an trụ pháp không, từ tư tưởng là không cho đến mạng sống cũng không và nhìn cuộc đời là biển khổ. Vì vậy, người tu cần ra khỏi biển khổ cuộc đời càng sớm càng tốt gọi là xuất thế tục gia, không dính líu đến cuộc đời.
Đầu tiên bỏ nhàthế tục và tu hànhđể tâm không còn buồn giận lo sợ, đoạn sạch phiền não gọi là xuất phiền não gia, thì tâm hoàn toàn trống không mới trụ được pháp không để cuối cùng ra khỏi ba cõiDục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
Dục giới có 6 cõi trời cũng còn ở trong 6 nẻo luân hồi, đó là cõi Tứ thiên vương thiên, Đao lợi thiên, Dạ ma thiên, Đâu suất đà thiên, Hóa lạc thiên và Tha hóa tự tại thiên.
Trời hay chư thiên có đời sống cao hơn loài người, nhưng họ còn dục, còn ham muốn, còn tình cảm. Chư thiên có nam, nữ nhưng không có dâm dục giống trần tục. Tuy nhiên họ còn có dục tâm nên họ còn hưởng thụ vui chơi, nhưng thân của họ vi tế hơn thân con người. Con người thuộc thai sanh là phải chui vô thai mẹ mới sanh ra được. Trong khi thân chư thiên là Hóa sanh, nên họ không bị khổ như thai sanh. Tùy theo phước tu được mà có Hóa thântương ưng, vì vậy có phước mới làm chư thiên.
Nhưng Phật nói chư thiên hưởng hết phước cũng bị đọa xuống làm người. Quan sátloài người, Phật dạy rằng trong cõi người có ngũ thú tạp cư nghĩa là thế giớiloài người có đủ năm loại người sinh sống là chư thiên, con người và những người thuộc ba đường ác của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh sanh lại.
Nếu là chư thiên bị đọa xuống làm người thì cốt cáchthần tiên còn nên họ là người thông minh, tánh thuần hậu, sức khỏe tốt, ngoại hình đẹp. Nếu chúng sanh của ba đường ác sanh lại làm người thì họ có ngoại hình khó coi, tánh hung dữ, hôi dơ, xấu xí, nghèo khổ, ngu dốt. Còn người sanh lại thì thuộc hạng trung bình.
Trở lạiTam pháp ấn của Tỳ-kheo theo Phật giáo Nam truyền, trụ pháp không thì dứt bỏ thú vui của loài người, của chư thiên và thú vui của 18 cõi trời Sắc cũng bỏ luôn để ra khỏi lục đạo tứ sanh, tức chấm dứtsanh tử luân hồi và chứng quả vị A-la-hán không tái sanh lại. Nam truyền Phật giáo vẫn giữ truyền thống này. Tuy nhiên, cũng có một số cải cách vì không phải ai cũng giữ trọn được pháp này. Thật vậy, giữ hình thức vấn y theo Phật thì được, hoặc giữ hạnh đầu-đà ngày ăn một bữa. Còn những điều khác như không giữ tiền, hay đi khất thực thì có vị cũng không tuân thủ. Thiết nghĩ đó là sự cải cách cho phù hợp để đời sốngtu hành được thuận lợi.
Còn Phật giáo Bắc truyền khi tiến lên phía Bắc đã tiếp nhận những nền văn minh mới truyền sang. Thật vậy, từ thời Alexandre đại đế đã đem quân xâm chiếm Ấn Độ và văn minh của Hy Lạp, Ai Cập là hai nền văn minh lớn của Trung Đông cũng theo đó mà thâm nhập vào đất Ấn. Theo lịch sử, 5.000 năm trước Tây lịch, loài người đã có ba nền văn minh lớn là văn minh của Ai Cập, văn minh của Ấn Độ và văn minh của Trung Hoa.
Phật giáo Bắc truyền lên phía Bắc liền tiếp thuvăn minh Ai Cập, Hy Lạp vì theo tinh thầnĐại thừa hay đại chúng, những gì chúng ta chưa biết thì phải học, không chê bỏ những cái hay khác với mình. Thể hiện rõ nét tinh thầntiếp thu sâu sắc tinh ba của văn minh Ai Cập, nhất là về toán học và thiên văn học, chúng ta thấy kinh Hoa nghiêm thường đề cập đến hai lãnh vực này.
Khi Phật tại thế, những gì không biết thì hỏi Phật, nhưng Ngài ở Niết-bàn, chúng tacăn cứ vàolời Phật dạy. Phật nói rằng những gì Ngài nói ví như nắm lá trong tay, còn giới hạn. Những gì Phật biết như lá trong rừng, mà Phật không thể nói được vì mọi người không có khả năng tiếp thu, không thể sử dụng. Ý này Phật thường ví như người bị mũi tên độc, phải mau rút mũi tên độc và chữa sạch vết thương để cứu mạng sống. Bấy giờ mà nói về vũ trụbao la hình thành như thế nào, con người từ đâu đến đây… quả là vô ích. Bao giờ mọi người có khả năng hiểu, Phật mới nói, ví như người mù được sáng mắt, mới có thể diễn tả màu sắc cho họ.
Vì vậy, trên con đườngtruyền báChánh pháp, căn cứ lời Phật dạy, Bắc truyền Phật giáotrước tiêntiếp thuvăn minh Ai Cập và Hy Lạp tiêu biểu cho tinh ba của kiến thứcnhân loại, sau đó truyền xuống Trung Á, Phật giáo lại tiếp thu luôn văn minh của Trung Hoa.
Nhưng phải khẳng định rằng kinh điển Đại thừa và kinh Nguyên thủy là một, không phải hai. Thật vậy, tuy cùng một việc, nhưng người thông minh hiểu khác, người chỉ hiểu theo ngôn ngữ, hay hiểu bề ngoài, không hiểu chiều sâu thì khác. Vì trình độhiểu biết khác, năng lực khác mà có sự diễn dịchkinh điển khác nhau. Vì vậy, với sự kết hợp ba nền văn minh lớn của loài người lại có thêm tuệ giácvô thượng của Đức Phật và kinh nghiệmtu hành của chư vị Tổ sư đã tạo nên sự ra đời của kinh điển Đại thừa toát lên tính chất sâu sắc hơn, nên được nhiều người tiếp thu và được vua chúa Trung Hoa ủng hộ.
Khi Phật giáoĐại thừa truyền sang Trung Hoa, đến Mông Cổ, Tây Tạng, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam thì có phần khác hơn Phật giáo Nguyên thủy. Đó là Phật giáoĐại thừa chẳng những chấp nhậnvăn minh của nhân loại mà còn chấp nhận cả nền văn hóabản địa ở nơi Phật giáo đặt chân đến. Sự tùy thuận này nhằm giúp cho sự tu hành của tu sĩthích hợp với phong tục tập quán của từng quốc gia, từng vùng miền và tạo nên sự tồn tạivững bền của Phật giáo trong công cuộc hoằng dương Chánh pháp lan rộng khắp mọi nơi.
Thật vậy, khi Phật giáo truyền đến Trung Hoa, văn hóa nước này không chấp nhận thầy tu trẻ tuổi, khỏe mạnh đi khất thực, nên người ta không theo. Vì thế, các vị Tổ nhận thấy nước này có sẵn Khổng giáo chủ trương xây dựngđời sống theo Tam cươngNgũ thường và Lão giáo có thiên văn, địa lý, bói toán mà người dân Trung Hoa và vua chúa cũng tin theo.
Nếu đến đó mà nói theo Nguyên thủy là không có địa lý, thiên văn, bói toán thì ai chịu nghe theo.
Người xưa có câu nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc, vào nhà người ta mà nói và làm trái với họ thì bị đuổi ra ngay, hoặc gặp khúc sông uốn cong, đi thẳng không được phải đi đường vòng thôi.
Truyền báđạo pháp phải tùy người, tùy chỗ mà hành xử cho thích hợp, nhưng Phật giáovẫn cóbản chất riêng. Bước đầu, Phật giáochấp nhậntư tưởng của người, nhưng trí tuệ của tu sĩPhật giáo hơn người và việc làmtốt hơn người thì họ cũng phải đồng thuận theo.
Có thể nói Phật giáoĐại thừa không đặt nặng vấn đềhình thức, nhưng coi trọng trí tuệ. Và Phật giáo Nguyên thủy tất yếu cũng đặt trí tuệ lên hàng đầu. Tỳ-kheo không thể không có trí tuệ, Tỳ-kheo phải có hiểu biết bằng người, thậm chí hiểu biết hơn người là tiêu chuẩn theo Phật giáoĐại thừa. Riêng tôi theo tinh thầnĐại thừa, nên thuở nhỏ tôi mặc áo tu học trường phổ thông và trường đại học với giáo sư người đời, vì phải học những gì mình chưa biết để mở rộngkiến thức hơn người mới làm thầy thiên hạ được.
Tinh thầnPhật giáoĐại thừa chủ trương tu sĩ phát huy hiểu biết càng nhiều càng tốt, cho đếnhiểu biết hơn người, từ đó Phật giáoĐại thừa mới đủ năng lực hội nhập vào xã hội Trung Hoa, cũng như gắn bómật thiết với xã hộiViệt Nam qua thuyết Tam giáo đồng nguyên.
Thật vậy, khi Phật giáo mới du nhập vào Trung Hoa thì để tùy thuận mới nói rằng việc bói toán, cúng sao giải hạn của Lão giáo là nhất và Tam cươngNgũ thường của Khổng giáo cũng nhất. Nhưng lần hồi, người ta thấy các vị cao tănghiểu biết hơn các ông đồ nho, hơn các ông đạo sĩ. Vì hiểu biết của họ có giới hạn trong lãnh vực của họ thôi và họ ôm chặt lấy hiểu biết hạn hẹp như vậy tất nhiên chẳng thể nào hơn nổi tu sĩPhật giáo thông cả Lão giáo, Khổng giáo và Phật giáo. Vì vậy, người ta nhận xét rằng dân chúng bản địa trước sùng Nho, sau họ trọng Thích. Thực tế là các ông vua Trung Hoa, hoặc các vị vua thời Đinh-Lê-Lý-Trần nước ta theo đạo Phật vì thấy Phật giáo hay hơn Nho giáo, Lão giáo. Thể hiệntinh thầnhòa hợp, Phật giáo Việt Namtôn trọng đạo Khổng, đạo Lão, nhưng vị trí của đạo Phật vẫn cao hơn, cao hơn về hiểu biết vì Phật giáo đã tổng hợp được văn minh Ai Cập, Ấn Độ và Trung Hoa. Cho nên các vị cao tăng chú sớ kinh điển Đại thừa mang tính đại chúngphổ cập được nhiều thành phầnxã hội.
Phật giáoĐại thừa với tinh thầnmở rộnggiáo pháp và hài hòa vào sinh hoạt đa dạng của xã hội, thì hình thức nào cũng được, không nhứt định phải là khất thực, vì khất thực chỉ là phương tiện để cảm hóaquần chúng.
Đức Phật là bậc Thầy tối cao của trời người, Ngài thừa phước đức, không cần phải đi xin ăn, rõ ràng Ngài đã vứt bỏ cuộc sống nhung lụa của vua chúa. Sở dĩĐức Phật chọn việc khất thực vì Ngài muốn phá bỏ truyền thốngphân chiagiai cấp cổ hữu sai lầm từ ngàn đời của Ấn Độ, nên Ngài đưa ra thuyết bình đẳng và thể hiệnchân lýbình đẳng bằng cách sống chung với giai cấp Sa-môn thấp nhất. Phật đã chứng minh được rằng dù Ngài mặc áo phấn tảo và đi khất thực, nhưng không ai dám xem thường Phật, vì Phật hơn tất cả mọi người ở trí tuệvô thượng và đạo đứcthánh thiện siêu tuyệt. Với hai khả năng tối ưu này, Phật mới cảm hóamọi người một cách dễ dàng.
Theo dấuchân Phật, Đại thừa Phật giáo lấy trí tuệ và đạo đức là chính yếu, còn tu theo hình thức nào cũng được. Và đạo đức hơn người theo Đại thừa nghĩa là tu sĩ có cuộc sống mang lại lợi ích cho cuộc đời. Chính Đức Phật đã thể hiện yếu lý này, Ngài nói rằng Ngài ra đời vì lợi ích cho chư thiên và loài người, lợi ích cho số đông. Nếu quan sátthực tếxã hội, chúng ta thấy rõ người nghèo ở bất cứ quốc gia nào cũng chiếm số nhiều nhất. Vì vậy, Phật giáoĐại thừa tu theo yếu lý Phật dạy, chủ trương làm lợi ích cho nhiều người chính là mẫu người đạo đức thực sự.
Kinh Pháp hoa dạy rằng Đức Phật ở thế giới vĩnh hằng bất tử và Ngài hiện thân vào thế giớiloài người ở vị trí cao sang nhất, nhưng Ngài từ bỏvinh hoa phú quý mà chọn đời sống Sa-môn đi khất thực để gần gũi và dìu dắt những người nghèo khổyếu thế giúp họ thoát khổ và có được cuộc sống thánh thiện.
Thực hiệntinh thầnđồng sự nhiếp theo Phật, ngài Ma Ha Ca Diếp là đại đệ tử của Phật và xuất thântừ gia đình giàu có, đâu phải thiếu ăn thiếu mặc, nhưng ngài đã mặc áo vải bó thây ma và vào xóm nghèo khất thực để có cơ hội tiếp cận và lần lần cảm hóa những người ăn mày ngu dốt.
Còn ngài Tu Bồ Đề thì trái lại, ăn mặcsang trọng và cầm bình bát bằng vàng do vua cúng dường, chỉ khất thực ở khu giàu có và vào nhà vua chúa để giáo hóa. Cầm bát vàng mà lang thang vô xóm nghèo chắc chắn mất bát, thậm chí mất mạng.
Vì vậy, muốn giáo hóa tầng lớp nào phải ăn mặc và làm giống họ, không cần hình thức cố định. Chỉ cần có hiểu biết hơn người mà tùy theoyêu cầu và khả năng của người để hướng dẫn họ có cuộc sống phát triển. Vì thực hiện yếu nghĩa này, chúng ta thấy đệ tử Phật mỗi người có một hạnh khác nhau.
Khi Phật tại thế, đệ tử Phật còn đa hạnh, thì ngày nay mỗi tu sĩ có việc làm khác nhau là tất yếu, không được chê nhau. Tuy đệ tử Phật, mỗi người làm khác nhau, nhưng đều có mục tiêu giống nhau là làm lợi ích cho số đông. Nếu chưa làm được lợi ích thì cũng không làm hại cuộc đời. Đó là tính cáchmở rộng của Phật giáoĐại thừa.
Sau khi Phật Niết-bàn, kinh điển được kiết tập có khác nhau. Tuy nhiên, dù cho rằng tạng kinh Pali đã ghi nguyên lời Phật dạy, nhưng cũng phải từ khoảng 300 năm đến 500 năm sau mới được ghi chép thành kinh. Còn trước đó, các thầy cố gắnghọc thuộc lònglời Phật dạy để truyền miệng lại cho đệ tử, vì lúc đó chưa có chữ viết.
Nhưng thiết nghĩ một khi đã học, hiểu và áp dụng vào đời sốngtu hành có được sở đắc do tu chứng thì chắc chắn gặt hái được sự hiểu biết cao hơn và đức hạnh cũng thăng tiến hơn. Không phải tu giậm chân tại chỗ.
Vì vậy, theo Phật giáoĐại thừa, phát triển đạo đức là làm lợi ích cho nhiều người và được người quý mến, đó là thiện. Làm những gì người không chấp nhận là ác.
Ngoài ra, sự hiểu biết của chúng ta cũng phát triển theo từng cấp bậc tu chứng. Ban đầu, thầy nói sao thì ta hiểu vậy là hiểu văn tựngữ ngôn. Nhưng tu hành, chúng ta có suy nghĩ để từng bước phát huy trí tuệcho đến có được trí tuệvô thượng là thành tựuPhật quả.
Thí dụHòa thượng Huê Nghiêm dạy tôi tụng kinh Pháp hoa theo Tổ Thiên Thai là chỉ tụng quyển 7 thôi, không tụng trọn bộ. Tôi làm theo lời ngài dạy, nhưng suy nghĩ tại sao Tổ dạy như vậy.
Và tụng quyển 7 kinh Pháp hoa trải qua nhiều năm, tôi thấy hay quá, vì từng việc của Bồ-tát Diệu Âm, Quan Âm, Phổ Hiền ghi trong quyển này hiện rõ trong tâm tôi và tôi thực tập thấy quả đúng như Phật dạy.
Thật vậy, tụng kinh Pháp hoa tôi nhận raDiệu Âm hành Bồ-tát đạo, ngài đã tu nhân hạnh gì để thành tựu tôn danh là Bồ-tát Diệu Âm, đó là điều quan trọng, không phải chỉ tụng kinh suông.
Diệu Âmtu hành bằng cách cúng dườngâm nhạc dâng lên Phật. Thí dụ cho dễ hiểuDiệu Âmtụng kinh vang lên âm thanhvi diệu khiến người nghe mát lòng và phát tâm tu. Triển khai ý này, Phật giáoĐại thừa có những bài kệ, bài sám được tán tụng theo điệu nhạc để khơi dậy cho người nghe cảm nhận an lạc, muốn tu. Còn tụng kinh mà làm người bực bội là sai.
Hành Bồ-tát đạo phải nói sao cho người mát lòng êm tai, nói ngược lại thì ai nghe. Điển hình như Phật thấy người Bà-la-môn lạy sáu phương mỗi ngày để cầu làm ăn phát đạt, nhưng không hiểu tại sao phải lạy như vậy, vì họ chỉ biết lễ lạy theo phong tục tập quán Ấn Độ. Phật không bác bỏ cách lễ lạy này, nhưng Ngài nương theo đó để dạy thêm rằng khi lạy phương Đông phải nghĩ đến công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, tổ tiên để được họ phò hộ thì làm ăn mới khá. Nghe xong, ông này khen Phật dạy hay quá và hứa sẽ làm theo Phật.
Theo Phật, làm gì cũng phải suy nghĩ, có hiểu biết và phải hiểu ý nghĩa sâu xa. Đức Phật đã thực hiện lý này và Phật giáoĐại thừa theo đó mà phát triển chiều sâu mới có Bồ-tát Diệu Âm.
Kinh Pháp hoa nói Diệu Âm nhờ có âm thanhkỳ diệu, nên khi ngài xuất hiện đã làm cho chúng hộicảm thấy mát lòng. Đó là ý mà chúng ta phải học.
Diệu Âm tới Kỳ Xà Quật thì 84.000 hoa sen báu liền hiện ra để đối trị 84.000 phiền nãotrần lao. Vì ở Ta-bà, mỗi người đều có phiền nãotrần lao, cho nên Bồ-tát đến Ta-bà với thân đạo đứcví nhưhoa sen tỏa hương thơm làm dịu mát tâm hồnđại chúng.
Phật giáoĐại thừatriển khai tinh ba này qua kiến giải của Trí Giả đại sư rằng núi Kỳ Xà Quật là Linh Thứu sơn. Linh là chân linh, Thứu là vọng thức và sơn là thân tứ đại. Mang thân tứ đại thì vọng thức tràn đầy, còn chân linh thì sâu kín bên trong. Hành giả tới Ta-bà đối diện với 84.000 phiền nãotrần lao của mọi người, tốt nhất là đừng làm mất lòng người. Mỗi người có hoàn cảnh riêng, phải tùy theo đó mà nói những gì thích hợp với họ để họ dễ chấp nhận, không có một pháp cố định nào. Nói tóm gọn, không gì khác hơn là tới bằng 84.000 hoa sen làm người phát tâm và cũng làm cho hành giả tăng tấn đạo hạnh.
Làm đạo theo Diệu Âm khiến người phát tâm xong, ngài trở về bổn độ. Ở Cực lạc cũng vậy, buổi sáng hành giả lượm hoa để vô đãy, rồi đem hoa đi cúng dườngmười phương làm cho người phát tâm xong, trở vềCực lạc.
Đừng hiểu lượm hoa rơi ở Cực lạc là lượm hoa thật, hoa này là tinh ba của Phật dạy để vô thân tứ đại của mình, không phải cái đãy bên ngoài. Vì đem Phật pháp để vô tâm sẽ hiện hảo tướng và có hành động của Bồ-tát làm cho người phát tâm, đó là Phật sự. Thí dụchúng ta đến vùng dân nghèo tặng quà rồi về khiến họ nhớ lòng tốt của mình, quý mình. Đó là học kinh Đại thừa, hiểu kinh Đại thừa và thực hành theo kinh Đại thừa. Điều này khác với việc cố giữ hình thức mà lại trở thành phản tác dụng. Thật vậy, Pôn Pốt giết tất cả các nhà sư, mà người tu cứ mặc áo sư thì làm cách nào sống được. Lúc đó, người bạn tôi là Hòa thượngPháp sư Um Sum nổi tiếng ở Campuchia đã cởi áo sư, lấy bùn bôi lên mặt, giả làm nông dân nên ngài mới sống sót để sau này phục hồiPhật giáo Campuchia.
Tóm lại, Phật giáoĐại thừa chủ trương thực hànhcốt lõi của Phật pháp là phát huy trí tuệ và làm việc lợi ích cho số đông, để Phật pháp được mở rộng, tạo thành thế giới an vui, hiểu biết, hòa bình, phát triển cho muôn loài mọi giới.
HT. Thích Trí Quảng | Báo Giác Ngộ























