GIỮA THIỀN TÔNG VÀ TỊNH ĐỘ
CỦA THIỀN SƯMINH CHÂUHƯƠNG HẢI
Thích Nữ Trí Tuyền
Tinh thần dung hợp Thiền và niệm Phật bắt đầu khá sớm tại Việt Nam cũng như Trung Quốc. Tại Việt Nam, ngay từ những thế kỷ đầu Phật giáo mới du nhập đã manh nha tính dung hợp với văn hóaxã hộiđáp ứng cho việc hoằng pháplợi sanh. Chư vị Tổ sư tuy liễu đạt pháp Thiền, nhưng các Ngài cũng giảng dạy phương phápTịnh độ, như Mâu Tử với tác phẩm Lý hoặc luận, Khương Tăng Hội với Lục Độ tập kinh. Đến thời Lý, tư tưởngTịnh độ cũng đã xuất hiện trong các phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông. Bằng chứng là trong Thiền Uyển Tập Anh, cho biếtThiền sư Tịnh Lực (1112-1175) thuộc thế hệ thứ 10 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông đã chủ trương niệm Phật tam muộikết hợp giữa thiền và niệm Phật. Theo Thiền sư:
“Phương pháp Thiền định bằng cách nhớ nghĩ đến Phật. Sự nhớ nghĩ này hoặc bằng một lòng quán tưởng những nét đẹp của xác thân Phật hay thật tướng của Pháp thân Phật thì gọi là quán tưởng niệm Phật, hoặc bằng một lòng đọc tụng tên Phật thì gọi là xưng danhniệm Phật. Đây là nhân hành của việc niệm Phật. Đến khi vào thiền định mà thấy Phật hiện ra trước mắt hay thấy được pháp thân Phật, thì đấy là kết quả của niệm Phật tam muội”1.
Sang đến thời Trần, trước khi Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tôngsáng lập vào năm 1299 thì đã có Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ là những người có ảnh hưởng trực tiếp và là người đặt nền mống cho sự ra đời của Thiền phái này. Trần Thái Tông bàn về tư tưởngTịnh độ qua tác phẩm “Niệm Phật luận”2. Tuệ Trung Thượng Sĩthể hiệntư tưởng Thiền qua bài Phật Tâm ca, Trần Nhân Tôngthể hiệntư tưởngThiền tịnh qua bài Cư trần lạc đạo: “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương. Di Đà là tánh sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc”3. Đến thế kỷ 17-18, có các vị Thiền sư như Minh ChâuHương Hải, Chân Nguyên cũng đã thể hiệntư tưởng dung hợp qua các tác phẩm của mình.
Trong Giải Kim Cương kinh lý nghĩa, Thiền sưMinh ChâuHương Hải có dẫn “Lời Vĩnh Minh Rằng”4, chứng tỏThiền sư đã từng nghiên cứutư tưởng dung hợp của Ngài Vĩnh Minh và ứng dụng vào trong việc tu tậpsự nghiệpgiáo hóa của mình.
Thiền sưVĩnh Minh Diên Thọ là người đề xướng ra tinh thần dung hợp giữa Thiền tông và Tịnh độ tông tại Trung Quốc. Mặc dù tư tưởng này trước đó đã xuất hiện, nhưng đến đầu triều Tống, tinh thần dung hợp mới trở thành một trào lưu chủ đạo. Người đứng ra chủ xướng và làm cho phát triển, dung hợp tất cả lý thuyết, thực hành. Theo Ngài Vĩnh Minh, những người có lòng tin vào giáo pháp nhưng do lòng tin của họ không đủ, trí tuệ của họ nông cạn, tâm của họ còn dao động, chấp thủ thì họ sẽ tìm cầu việc sinh về Phật quốc; ở đó họ được hỗ trợ bởi môi trường tốt tiếp tụccon đườngtu hành của mình để đạt đếnquả vịgiải thoát.
Sở dĩ Ngài Vĩnh Minh đưa ra tư tưởng dung hợp giữa Thiền tông và Tịnh độ do vào thời của ông có sự đối kháng mạnh mẽ giữa hai tông này. Hành giảThiền tông chê bai những tín đồTịnh độ là tìm cầu cái bên ngoài, không hướng về tự tánhchân thật của mình, trong khi những người theo Tịnh độ phê phán những Thiền sưkiêu mạnvô kỷ luật. Nhìn thấy được mối nguy hại bởi thái độ “cuồng thiền” của một số thiền sư chưa thật sự chứng ngộ, chưa thấy biết bằng trí tuệ mà dùng cái thấy biết cạn cợt của mình để luận bàn. Do đó, Vĩnh Minh dung hòaniệm Phật vào Thiền tông để tránh việc thực hành một chiều đi đến kiến chấpsai lầm.
Tư tưởng dung hợp Thiền tông và Tịnh độ của Ngài xoay quanh những lời chỉ dạy sau:
Có thiền không tịnh độ,
Mười người, chín lạc lộ.
Ấm cảnh khi hiện ra
Chớp mắt đi theo nó.
Không Thiền có Tịnh độ
Muôn tu muôn thoát khổ
Vãng sanh thấy Di Đà
Lo gì chẳng khai ngộ?
Có Thiền có Tịnh độ
Như thêm sừng mãnh hổ.
Hiện đời làm thầy người
Về sau thành Phật, Tổ.
Không Thiền không Tịnh độ
Giường sắt, cột đồng lửa!
Muôn kiếp lại ngàn đời
Chẳng có nơi nương tựa”5.
Ngài đưa ra quan điểm dung hợp giữa Thiền và Tịnh để khẳng định cả hai pháp môn đều là phương pháptu tậpđạt đượcgiác ngộgiải thoát và là pháp mônthích ứng với số đông người tu học. Bản thân Ngài là một thiền sư nhưng lại hoằng dương Tịnh độ, đưa ra phương pháp dung hợp Thiền – Tịnh. Một lý do khác khiến Ngài Vĩnh Minh dung hợp Thiền – Tịnh là tình hìnhxã hội chính trị vào thời ông đang bất ổn, dân chúng đang đau khổ cần sự cứu giúp. Thiền định của Thiền tông quá khó đối với đa số dân chúng, việc áp dụng Thiền kết hợp với niệm Phật giúp cho việc ứng dụng được dễ dàng thích hợp với mọi căn cơ.
Đức Phật dạy có 84.000 pháp môn, tùy theocăn cơ của mỗi người mà chọn pháp tu cho phù hợp để con đường thăng tiến tâm linh được dễ dàng. Trải qua sự thăng trầm của lịch sử, chư Tổ bao đời đã phương tiện uyển chuyển trong việc giáo hóa dùng Thiền tông để hoằng dương tông Tịnh độ, như dung hòa nước với sữa. Tuy mỗi tông phái khác nhau, phương pháphành trì khác nhau, nhưng mục đích nhắm đến đều là quy tâm. Tinh thần dung hợp đó luôn được chư Tổ trao truyền tiếp nối.
Cũng như ở Trung Quốc, tại Việt Nam vào thế kỷ 17 – 18, trong giai đoạn tình hình chính trị của đất nước đang bất ổn, nhân dânlầm than, đau khổ, thất học, việc áp dụngphương pháp Thiền là điều khó khăn đối với quần chúngnhân dân đang phải gánh chịu những đau khổlầm than do cuộc chiến tranh. Thế nên, việc giới thiệu một cảnh giớitốt đẹpthích hợp với căn cơ của họ dễ tiếp nhận hơn là quan sát tâm. Pháp tu Tịnh độ mở ra một cõi A Di Đà với cảnh giới an vui đầy những điều tốt đẹp, xoa dịu cho những tâm hồnước mơhạnh phúc của thanh tịnh và giải thoát, nuôi dưỡngniềm tin và hy vọng về một đời sống tốt đẹp. Cho nên, sự kết hợp Thiền với Tịnh độcần thiết cho giai đoạn lúc bấy giờ, đáp ứng được nhu cầu tâm linh cho số đông. Sự dung hợp giữa Thiền và Tịnh độ sẽ tạo nên được tính linh hoạt, đơn giản, thực dụng, dễ tiếp cận, đem lại sự tu tậpquân bình cho quần chúngtín đồ, không hạn chế ở căn cơ cao thấp mà ai cũng có thể thực hành và được lợi ích. Vì thế Thiền sưMinh ChâuHương Hải đã không ngần ngại đưa ra tư tưởng dung hợp giữa Thiền – Tịnh độgiáo hóađồ chúng. Sự dung hợp này chúng ta dễ dàng nhận thấy qua cách đặt tên nơi mình ở là Thiền Tịnh viện. Trong tác phẩmsự lýdung thông, Ngài cũng đã thể hiệntư tưởng dung hợp của mình rất rõ ràng:
“Chuyển vô minh, bối trần hiệp giác,
Vui về bề diệu dược Liên bang6”7
Thiền sư vui với việc sanh về cõi Cực Lạc (liên bang) và xem như một phương thuốc kỳ diệu. Bởi vậy, Thiền sư đã dịch giải nhiều kinh về Tịnh độ như: Giải Di Đà kinh, Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ cùng với soạn Khoa cúng Cửu phẩm v.v… nhưng theo nghiên cứu của Giáo sư Lê Mạnh Thát hiện tại chỉ tìm thấy Giải Di Đà kinh, các tác phẩm còn lại hiện vẫn chưa tìm thấy.
Để có thể đưa đến sự dung hợp ắt sẽ có sự tương đồng. Vậy phương phápThiền và Tịnh độ có những tương đồng như thế nào? Thiền tông khởi nguồn từ tích đức Phật tại hội Linh Sơn, đưa cành hoa sen lên chỉ dạy, tất cả đại chúng đều ngồi im lặng không hiểu, chỉ có tôn giảMa Ha Ca Diếp chúm chím mỉm cười. Từ đó, tâm tâm tương ấn, truyền ngoài giáo lý. Pháp mônTịnh độ cũng được đức Phật chỉ dạy để phù hợp với căn cơ của chúng sanh. Thiền chủ trương tự lực là pháp hành, xoay lại quan sát chính mình để thanh lọc những tạp niệm ở nơi tâm. Trong kinh Niệm xứ, đức Phật có dạy:
“Nếu Tỳ kheo, Tỳ kheo ni nào lập tâm chánh trú nơi bốn niệm xứ thì trong vòng bảy ngày bảy đêm cũng sẽ nhất định chứng được một trong hai quả: hoặc chứng cứu cánh trí ngay trong hiện tại, hoặc chứng A Na Hàm nếu còn hữu dư.
Không cần phải đến bảy ngày đêm, sáu, năm, bốn, ba, hay hai ngày hai đêm, cũng không cần trong một ngày một đêm, nếu Tỳ kheo, Tỳ kheo ni nào trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh trụ nơi bốn niệm xứ, nếu buổi sáng thực hành như vậy thìnhất định buổi tối liền được thăng tấn, nếu buổi tối thực hành như vậy thìnhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tấn”8.
Trong khi đó Tịnh độ nương vào tha lựctrì danh hiệu Phật đến nhất tâm bất loạn sẽ được Phật A Di Đà đến đón. Trong kinh A Di Đà có nói:
“Nếu có một thiện nam, thiện nữ nào nghe nói đến đức PhậtA Di Đà, trì danh hiệu Ngài từ một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày mà được định chuyên nhất không loạn, thì người ấy lúc lâm chung được thấy đức PhậtA Di Đà cùng các Thánh chúnghiện ratrước mắt. Người ấy lúc chết tâm chánh niệm liền được sanh về thế giới cực lạc của đức PhậtA Di Đà” [Tư tưởngkinh A Di Đà, tr.30]
Chủ đích của pháp mônTịnh độ là dùng câu niệm Phật để dẹp trừ loạn tưởng. Tâm loạn tưởng hết rồi gọi là niệm Phật được nhất tâm, trí sáng suốthiện tiền. Niệm Phậtnhất tâm là tâm được an định từ đó phát sinh trí tuệ. Chỗ nhất tâm của người tu niệm Phật gọi là niệm Phật Tam muội cũng đồng với trạng tháitịch tĩnh của người tu Thiền. Cho nên mục đích của sự tu tập là đưa đến Thiền định và trí tuệ để được giải thoát. Thế thì dù niệm Phật, hay tu Thiền mà tâm chuyên chúan định từ một ngày cho đến bảy ngày thì nhất định người đó đạt đượcđạo quả. Tu Tịnh thì được thấy Phật, còn tu Thiền thì chứng từ sơ quả đến tứ quả.
Niệm Phật đến nhất tâm được đức PhậtA Di Đà đến đón, nhưng muốn được vãng sanhcần phải có đủ Tín, Hạnh, Nguyện. Trong Giải Di Đà kinh, Thiền sưMinh ChâuHương Hải có giải thích rằng:
“Tín, Hạnh, Nguyện, ba sự chẳng khá khuyết một. Tín là tin Di Đà bản nguyện, Thích Cadiễn thuyết, lục phươngtán thán. Hạnh là tinh tấnchuyên cần, trì niệmdanh hiệu, một lòng hằng nhớ, chẳng khi tán loạn. Nguyện là nguyện vãng sinhTịnh Độ chẳng còn thối chuyển, kíp nên vô thượng Bồ Đề. Tín, hạnh, nguyện ba sự chẳng khá khuyết nhất. Ngàn người tin niệm, ngàn người vãng sinh, muôn người tin niệm, muôn người đều được vãng sinh. Hằng tin niệm danh hiệu Phật, lòng hằng ức tưởng Phật, miệng hằng niệm Phật, thân hằng kính Phật, mới gọi là thâm tín tâm, lấy làm thiết yếu vậy”9.
Tín là niềm tin, người thực hànhtin chắc có Phật A Di Đà, cũng tin chắc có cõi Tây phương Cực lạc. Tin như kinh đã nói: “Nếu một người trì danh hiệu A Di Đà từ một ngày cho đến bảy ngày được nhất tâm thì lúc lâm chung thấy Phật A Di Đà và Thánh chúng, được sanh về cõi Cực lạc”. Nên hành giảphát nguyện sanh về cõi Cực lạc, phát nguyện ở đây không phải phát nguyện suông mà phải bằng hành động, khi hành giảtin chắc những điều này hành giả sẽ nỗ lựcthực hành (hạnh). Niềm tin (tín) và sự thực hành (hạnh) cùng song hành với nhau thì sự hành trì không bao giờ gián đoạn, cũng không bao giờ thối chuyển, luôn hướng tâm vào giới, định, tuệ cho đến bảy ngày đạt đượcnhất tâm (chánh định). Nếu tín và hạnh tròn đủ đạt đượcnhất tâm thì nguyện lực mong được sanh về thế giới Cực lạctự nhiên được thành tựu. Đến đây không còn nương tựa tha lực nào từ bên ngoài mà chính mình đã tìm được đường đi (tự lực). Ngược lại, không có niềm tinhành giả không thể thực hành (hạnh), niềm tin và sự thực hành không đủ không thể đưa đến nhất tâm, nguyện lực cũng sẽ không được thành tựu. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của đạo, là mẹ sanh ra các công đức, nuôi lớn tất cả các căn lành. Lòng tin hay tăng trưởngcông đứctrí tuệ. Lòng tin ắt dẫn đến địa vị Như Lai”. Đối với phương pháp Thiền nếu tâm khôngchánh niệm, không chú tâm vào đề mục thì không đạt đếntâm thanh tịnh. Hai pháp môn tuy khác nhau về phương pháphành trì nhưng đều cốt trở về với bản tánhthanh tịnh. Một bên thấy Bồ đềNiết Bàn, một bên thấy đức PhậtA Di Đà tới đón. Vậy Kinh A Di Đà và Kinh Tứniệm xứ trong A Hàm nói không khác.
Người tu Tịnh độ lấy tín, hạnh, làm căn bảnthực hành một cách rốt ráođạt đến chỗ nhất tâm bất loạn sẽ đạt được kết quả như nguyện. Người tu Thiền phải dứt hết các duyên tâm được an định từ đó trí tuệtăng trưởng, tâm thường hằngsáng suốt. Tu Tịnh độ hay tu Thiền cốt đi đến chỗ nhất tâm. Người tu theo pháp mônTịnh độniệm Phật được nhất tâm tức là định, người tu thiềnthực hành đến chỗ không còn tạp niệm, tâm chuyên nhất đó là định. Tuy phương tiện dùng có khác nhưng đích đến là một, tùy theocăn cơchúng sanh mà ứng dụng.
Như vậy, hầu hết các Thiền sư đều đã liễu đạtThiền pháp nhưng lại dung hợp tư tưởngThiền Tịnh làm phương pháp hoằng hóa lợi sanh mang tính phổ cập. Trong Thiền môn của Phật giáo Việt Nam Thiền – Tịnh mang tính hài hòa, tùy theocăn cơ mà dạy hành giảtu Thiền hay niệm Phật để trải nghiệm quá trình tu tậpđạt đến sự chứng ngộ. Điều này chứng tỏ sự vận dụng khéo léo của chư Tổ sư cũng như chính Thiền sưMinh ChâuHương Hải, các Ngài đã Việt hóa các nghi thứctu tập hàng ngày, từ câu niệm Phật đến kinh văn tụng đọc, tùy theocăn cơ cao thấp mà chọn một phương pháptu tậptham thiền hay niệm Phật, hoặc kết hợpvới nhau tất cả đều đưa đến mục đíchgiác ngộgiải thoát.
1. Lê Mạnh Thát (2005), Nghiên cứuThiền Uyển Tập Anh, Nxb Phương Đông, tr. 499.
2. Ủy ban khoa học xã hội – Viện Văn học (1977), Thơ văn Lý Trần tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Cư trần lạc đạo
4. Lê Mạnh Thát, Toàn tập Minh ChâuHương Hải, Nxb Văn học, tr. 188.
5. Liên tôngLục TổVĩnh Minh Diên ThọĐại sư, HT. Thích Thiền Tâm dịch.
6. Cõi Cực Lạc ở phương Tây. Vì chúng sanh ở cõi này từ trong hoa senhóa sinh ra, cho nên gọi là Liên bang.
7. Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập Minh ChâuHương Hải, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 396.
8. Đại Tạng KinhViệt Nam (1992), kinh Trung A Hàm tập 2, VNCPHVN, tr. 577-578.
9. Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập Minh Châu Hương Hải, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.349.


























