Buddhism – Its Essence and Development Edward Conze (1951)
Chân Pháp Nguyễn Hữu Hiệu dịch (1969)
BAN TU THƯ VIỆN ĐẠI HỌCVẠN HẠNH XUẤT BẢN 1969
LỜI GIỚI THIỆU
của Thượng Tọa Thích Minh Châu

Đa
sốPhật tửViệt Nam thường chỉ học hỏiPhật pháp qua truyền thống Trung
Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ và những khai triển của Trung Hoa. Người Ấn vốn có thái độcoi
thườnglịch sử; “bởi vì chư thiênyêu thương cái gì tăm tối”*,
họ đẩy tất cả những gì xảy ra lui vào bóng tối mịt mù của thần thoại. Riêng Phật tử Ấn cổ thời, với lý tưởngcứu cánh là Niết Bàn, mọi biến cốlịch sử cũng không bận tâm cho lắm. Ngược lại, người Trung Hoa có thái
độlịch sử một cách xác thiết. Nhưng vì sự cách trở địa dư giữa Hoa-Ấn, sử liệu Phật giáo mà họ có chỉ là căn cứ vào sự truyền khẩu của Phạn tăng. Mặc dù người Trung Hoa đã xây dựng được lịch sửtruyền thừa của Phật giáo một cách mạch lạc, nhưng không thoát khỏithiên kiến bởi tính chất phái biệt của từng Phạn tăng. Thái độ khinh miệt khuynh hướng
được mệnh danh Tiểu thừa cho ta thấy rõ điều này.
Khi
những người Tây phươngnghiên cứu về Phật học, nhờ vào các khoa khảo cổ
và ngữ học, họ đã khai quật, khám phá nhiều sử liệu quan trọng. Nhưng những khám phá ấy chưa đủ để làm sáng tỏvấn đề thì vô số mây mù lại kéo
thêm. Một thời trước đây, người ta nghi ngờ cả đến Đức Phật, không biết Ngài là một nhân vật lịch sử hay chỉ là một nhân vật thần thoại. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết là giữa những cực kỳ sai biệt của các
khuynh hướng tư tưởngPhật giáo là gì. Đây là vấn đềcấp thiết nhất cho những ai muốn nghiên cứuPhật học.
Trong
tác phẩm này, ngoài tính chấtbác học của nó nhắm thỏa mãn những vấn đề
như trên, tác giả còn cho ta thấy một khía cạnh sinh động khác. Bằng lối suy nghĩ thâm trầm và chính chắn, tác giảkhông giới thiệu tư tưởngPhật giáo cổ thời như là dẫn ta đi vào một bảo tàng viện. Nhưng, tất cả
những sai biệt trong các khuynh hướng tư tưởng của Phật giáo, từ tinh hoađến sự phát triển của
nó, đều nói lên tất cả khát vọng muôn thủa của con người trước sự thực bi thiết mà luôn luôn con ngườitìm cách lản tránh. Chính trên điểm này, tác giả đã chứng tỏ cho ta thấy những mâu thuẫntrong lịch sửtư tưởng của Phật giáothực ra không mâu thuẫn gì hết. “Tất cả những mâu thuẫn trong lý thuyết đều được hóa giải hết trong chính đời sống.”
Bản
dịch Việt văn này, do Chân Phápthực hiện, nằm trong khuôn khổ Tu Thư Viện Đại HọcVạn Hạnh, với mục đích là xây dựng từ nền tảng một nền văn họcPhật Giáo Việt Nam sau này, với tất cả sự phong phú về phẩm cũng như
về lượng của công việc trước thuật mà mọi người đang mong đợi.
Bản dịch cũng có mục đích nữa là cung cấptài liệu cho sinh viên năm thứ I của Phân Khoa Phật Học ViệnĐại HọcVạn Hạnh.
Chúng
tôigiới thiệu bản dịch này với quí vị muốn nghiên cứuPhật học, và mong rằng nó sẽ thành tựu những điều mà chúng tôi đã nêu lên ở trên.
Tỳ kheo THÍCH MINH CHÂU
Viện Trưởng Viện Đại HọcVạn Hạnh
TỰA
của Arthur Waley
Hiện
nay không có trong Anh ngữ cũng như trong bất cứ một ngôn ngữ nào một bản trần thuyết về Phật giáo vừa hàm súc và đồng thời lại vừa dễ đọc như
bản độc giả sẽ tìm thấy trong tác phẩm của Tiến sĩ Conze.
Chắc
hẳn quý vị đã biết truyện ông vua bắt năm anh mù sờ voi. Anh thứ nhất sờ cái vòi của nó, nói: “giống con đỉa”; anh thứ hai, sờ tai, nói: “giống như cái quạt lúa,” v.v… Ngụ ngôn này có thể áp dụng rất đúng cho những nỗ lực viết về Phật giáo sử của những tác giả Âu châu. Những sử gia không đáng trách bị vì lẽ ấy. Tiền bán thế kỷ thứ 19, những tài liệuduy nhấtchúng ta có được là những tài liệu về Phật giáo trung cổ ở
Népal. Mối cảm kích do việc phát kiến Thánh điểncổ điển hơn ở Tích Lan sau nầy tạo ra lớn lao đến nỗi những Kinh điển văn hệ Pàli (những cuốn tìm thấy ở Tích Lan) được coi như hiện thân của toàn thểPhật giáo cổ thời. Mới gần đây, năm 1932, bà Rhys Davids, trong cuốn Phật giáo yếu luận cho sinh viên Cao đẳng (Manual of Buddhism for Advanced Students)
(một nhan đề khá xa vọng) không dùng tài liệu nào khác hơn kinh điển Pàli. Năm sau, một bài trần thuyết bao quát hơn được E.J.Thomas trình bầy trong cuốn lịch sửTư tưởngPhật giáo (History of Buddhist Thought) nhưng tác phẩm của ông dành cho những nhà chuyên môn hơn là quảng đạiquần chúng. Những cuốn sách khác, như cuốn Triết họcPhật giáo (Buddhist Philosophy)
của Keith, chỉ là bảng kê khai những quan điểmphát biểu bởi những người được coi như hoàn toànxa cách và “thiếu cả hệ thống lẫn sự chín chắn”. Với bác sĩ Conze, vấn đềPhật giáo đặt ra và giải đáp là những vấn đềhiện đại, sống động, và ông luôn luôn đặt chúng vào trong tương quan với lịch sử và đồng thời với dòng thời sự.
Theo
ý tôi, sách vở vô giá trị trừ phi chúng bầy tỏ một quan điểm, và sách vở phải làm như vậy không phải bằng cách bóp méosự kiện, nhưng bằng cách cho độc giả thấy rõ phản ứng tình cảm và tinh thần của tác giả trước những sự kiện này.
Tác
phẩm của Tiến sĩ Conze, hơn bất cứ cuốn sách nào cùng loại mà tôi đã được đọc từ nhiều năm trở lại đây, đã thành công trong việc ấy.
GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ
Ý
định viết cuốn sách này do các bạn thân của tôi dẫn khởi vào năm 1941, khi tôi đang sống ở Godshill trong vùng Hampshire, và đang cố gắng tìm xem những suy tư Phật giáo nào có thể đem áp dụng vào thời hiện đại. Những chương đầu tiên là những bài tôi giảng vài năm trước đây tại giảng
đường Peter ở Oxford, và một vài dấu vết của thể văn nói còn cấu kết trong đó. Năm 1948, bác sĩ William Cohn, đại học Oxford, cho tôi thấy rằng một tác phẩmbao gồmtoàn thểlãnh vựctư tưởngPhật giáo sẽ rất được hoan nghênh, và ông khuyến khích tôi hoàn tất cuốn sách. Bác sĩ Cohn, và, sau này, ông Arthur Waley, và ông Christmas Humphreys, đã sửa cho nhiều khuyết điểm. Ông Claud Sutton và ông Arthur Southgate đã xem lạivăn pháp Anh ngữ. Những thảo luận với nhiều đọc giả đã, tôi hy vọng
vậy, giúp tôi đặt đúng một vài điểm khó khăn và gay go. Tiện đây tôi phải gửi lời cảm ơn G S.F.W.Thomas, Bác-sĩ E.J.Thomas, GS. Murti đại học
Colombo, GS. Lamote đại học Louvain, GS. Demieville Ba-lê, GS. Tucci đại học La-mã, và Bác sĩ Pott đại học Leyden. Đa số những kinh văn tôi căn cứ để viết cuốn trần thuyết này chưa được dịch sang Anh ngữ. Hy vọng một ngày kia có thể cung hiến cho độc giả một cuốn tư tưởngPhật giáo Hợp tuyển biện minh cho nhiều điểm mới chỉ được khẳng định ở đây.
EDWARD CONZE
Saffron Close,
Ewelme.
Tháng giêng, 1951
GHI CHÚ NHỎ CỦA NGƯỜI DỊCH
Tất
cả những danh từ Sanskrit và Pàli dùng trong tác phẩm này đều được viết
và đánh dấu lại cho đúng với nguyên ngữ. Ngoài ra, ở một vài đoạn trích triết học Trung Hoa, chúng tôi ghi chú thêm theo tinh thần người Việt vẫn hiểu theo lối trực dịch từ xưa tới nay, phiên theo Hán âm một vài danh từ riêng và giải thích một vài danh từ và khái niệm quen thuộc trong dòng phát triển trong khi vẫn luôn luôn cố gắng khêu gợi nguồn gốc
khởi nguyên.
Chúng tôitin chắc rằng, tác giả, Tiến sĩ Conze, không phiền trách chúng tôi về điểm này.
CHÂN PHÁP























