Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải

0
214

TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI
Tác Giả: Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực

LỜI
DỊCH GIẢ

Tin_Tam_minhTin_Tam_minhPhật Thích Ca nói : “Mọi chúng
sanh
đều có Phật tánh”, tất cả Phật tử đều tin được.
Lại tin Phật tánh chẳng thể giảm bớt, cũng chẳng thể
gián đoạn, vì giảm bớtgián đoạnsanh diệtluân hồi,
nếu Phật tánh còn phải luân hồi, thì kiến tánh thành Phật
cũng vô ích.

Phật tánh tức là tự tâm,
nếu người tin mình có Phật tánh, tức là tin tự tâm. Phật
tánh không
thể giảm bớt, thì tất cả thần thôngtrí huệnăng lực saün đầy đủ bằng chư Phật. Phật tánh không
thể gián đoạn, thì mọi chúng sanh hiện đang làm Phật.

Vậy, Phật tánh tức là tự
tâm
, thì tự tâm của mọi người đã saün đầy đủ tất
cả năng lực, bằng như chư Phật, thế thì việc lý giải
đều là thêm bớt cho tự tâm. Nên Tổ Trung Phong làm bài TÍN
TÂM MINH
TỊCH NGHĨA GIẢI này, cố tẩy sạch lý giải để
hiển bày chánh ngộ, cho bổn lai diện mục (tự tâm) trọn
vẹn
hiện khắp không gianthời gian.

Quyển TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA
GIẢI
này trích từ Quảng Lục gồm 30 quyển của ngài Trung
Phong, in trong tập số 499 của Tích Sa Đại Tạng Kinh.

Vì có người chỉ đem phần
nghĩa giải trong MINH này in ra phổ biến, mà lược bỏ những
phần khai thị và phủ nhận của ngài Trung Phong, thành điên
đảo
Phật pháp, liên lụy Tổ Sư, nên chúng tôi dịch hết
toàn bộ (gồm 4 phần : khai thị, nghĩa giải, tịch nghĩa giải
và kệ kết thúc), để hiển bày ý chính của Tổ, mong độc
giả
xem xét cho kỹ!

 
 

 

 

THIÊN MỤC
TRUNG PHONG HÒA THƯỢNG 

QUẢNG
LỤC

TÍN TÂM
MINH
TỊCH NGHĨA GIẢI

BÀI
TỰA CỦA NGÀI TRUNG PHONG

Từng nghe Sơ TổĐạt Ma nói
đạo trực chỉ bất lập văn tự, nhưng vừa truyền qua hai
đời đến đời thứ ba là tổ Tăng Xán, thì lại làm ra bài
TÍN TÂM MINH gồm 584 chữ. Vậy có phải là biến gia phong của
chư tổ trở lạikiến lậpvăn tự chăng? Hoặc nói chẳng
phải, ấy chỉ là muốn hiển bày cái đạo trực chỉ cho
hành giảđời sau được đầy đủ chánh tín, phá tà chấp
mà thôi.

TÍN là gì? Là tin bản thểtự tâm rộng lớn như chư Phật, cùng khắp không gianthời
gian
, khiến cho được tự tin mà ngộ nhập, chẳng nhờ tu
chứng
; nghĩa là hễ bước vào cửa tin, quyết chẳng lui sụt,
nên bài TÍN TÂM MINH nầy với thuyết BẤT LẬP VĂN TỰ của
tổ sưtrải qua bao đời chẳng trái nhau. Như thế, sự lập
ngôn của Tam Tổ thực là chí thành để gánh vác pháp thiền
trực tiếp này. Nhưng tiếc rằng những học giả đời nay
thường kẹt nơi nghĩa giải, chẳng thể hoát nhiên tự ngộdiệu tâm, thấu rõ nguồn gốc, hợp với chánh tín, lại đem
bài TÍN TÂM MINH này làm dẫn chứngđàm luận, giống như
mạt vàng rơi vào mắt, thành ra nghịch lại ý Tổ mà chẳng
tự biết. Do đó, tôi soạn ra bài này, mỗi đoạn 2 câu, dùng
lời và kệ để sáng tỏ bản ý của Tổ, không dám khoe khoang
kiến văn cho là thù thắng. Thực ra chỉ muốn quét sạchnghĩa
giải
, hiển bày chánh ngộ, nhắc nhở người đồng tham, khích
lệ chính mình mà thôi. Nếu có người cảm thấy không vừa
ý
, thì tội của tôi làm sao tẩy sạch, cho nên đặt tên bài
này là “TÍN TÂM MINH TỊCH NGHĨA GIẢI”.

 
 

CHÁNH VĂN

l. CHÍ ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM
GIẢN TRẠCH

DỊCH

Đạo cùng tột chẳng có gì
khó, chỉ vì phân biệt mới thành khó.

LỜI KHAI THỊ

Thể dụng của tự tánh cùng
khắp hư không, trí tuệ của con người chẳng thể suy lường.
Mở cửa nhà lớn nhiệm mầu vô biên, vượt trên vạn trượng
chiều sâu mà không đáy. Cơ xảo của chư Tổ như : Tiếng
hét Kim Cang Vương của Lâm Tếsấm sét oanh liệt, muốn nhìn
bóng cũng còn khó, huống là thấy hình; Uy thế cây gậy của
Đức Sơn như gió bão điện chớp, đuổi theo không kịp. Đào
tạo
ra chư Tổ chẳng cho mình có công lao, gánh biển vác núi
chẳng cần ra sức. Ông già Thích Cathuyết pháp 49 năm, bàn
tay chỉ có thể nắm bắt hư không, 1700 Bạch-niêm-tặc (ám
chỉ
Tổ Sư đã kiến tánhtriệt để) có miệng chỉ có thể
treo trên vách tường. Rất saün sàng mà khó hiểu biết, muốn
ngay trước mặtchỉ bảo họ, thì gai gốc đã nổi đầy
trước cửa.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “CHÍ ĐẠO VÔ NAN,
DUY HIỀM GIẢN TRẠCH”. Người nghĩa giải rằng : 2 câu nầy
cương yếu, cũng là bản chỉ của bài MINH. Nhưng một
chữ TIN bao gồm ngộ chứng, chẳng phải chữ tin của tín
hạnh
. Cũng như các vị trong hội Pháp Hoa, lãnh hộiquyền
trí
nhập vào thật trí, lập ra Phẩm Tín Giải để tỏ bày
nguyện vọng. Chư Tổ thấy đó gọi là Chí-đạo, Chư Phật
chứng đó gọi là Bồ-đề, chúng sanh mê đó gọi là Vô-minh,
giáo mônhiển bày đó gọi là Biển-giác, đều là tên gọi
khác biệt của một tâm, cho đếnbao gồmdanh tướng, thấu
nhập sắc không, muôn ngàn đề mục, đường lối dù khác
nhau, đâu có sai trái tốt xấu, cũng không có ngăn cách
ngộ
, tất cả đều do đây mà hiển bày. Như cây bách của
Triệu Châu, vòng kim cang của Dương Kỳ, cái chậu đất bể
của Mật Am, bánh sắt có nhân của Đông Sơn, giống như dị
đoan
cùng tà pháp sôi nổi, vậy thì biết lời nói “CHÍ ĐẠO”
đã hiện hành rồi. Do đó, thông suốtlý sự, dung thấu cổ
kim
, cho là “VÔ NAN” đã thành lời thừa. Nhưng thánh phàm nhiễm
tịnh
, trước mắt toàn chân, nếu sanh ra tình thức phân biệt
thì trái hẳn với chí-thể (tự tánh), nên mới nói “DUY HIỀM
GIẢN TRẠCH” vậy. Lời văn sau này dù khác, thảy đều không
ngoài ý này.

TỊCH NGHĨA GIẢI (tịch
là phủ nhận), RẰNG

Hình như giống nhau, giống
mà chẳng đồng. Lại, hai chữ CHÍ ĐẠO, dẫu cho ông dùng
hết ý thức để giải thích, đối với tông chỉ của
NAN
, cần phảitương ưng mới được. Nếu chẳng phải tự
tâm
khai ngộ, âm thầm khế hợp bất khả tư nghì, dứt hẳn
tri kiến, siêu việtngữ ngôndanh tướng, muốn trông thấy
tông chỉ của VÔ NAN, chẳng những xa cách như trời với đất,
ở nơi căn và cảnh tương đối, đủ thứ sai biệt, nếu
không
thể ngay đó giải thoát, mà muốn đem cái đạo lý
nan
không giản trạch đó tồn chứa trong lòng, thì đâu chỉ
nhận giặc làm con mà thôi! Nên ở đây chẳng thể quên lời.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Chí đạo không nên chê lựa
chọn
,

Chớ nói lựa chọn đọa phàm
tình
.

Cần phải đâm mù mắt mẹ
đẻ.

Ban ngày đốt đèn đọc “MINH”
này.

2. ĐẢN MẠC TẮNG ÁI,
ĐỒNG NHIÊN MINH BẠCH

 
 

DỊCH

Chỉ đừng yêu ghét thì
ràng
minh bạch.

LỜI KHAI THỊ

Thẳng chẳng phải tùng, co
chẳng phải gai, thông chẳng phải hư không, nghẽn chẳng phải
vách tường, là đầu búa không lỗ ném ngay mặt. Trái lại,
thẳng vẫn là tùng, co vẫn là gai, thông vẫn là hư không,
nghẽn vẫn là vách tường, vậy trời xanh nước rộng dính
liền như cũ. Đêm qua người Ba Tư bắt được tên chánh tặc
Tây Thiên trong Nam Hải, đợi trời sáng đốt đèn xem, thì
ra Bác Hai Vương ở làng Đông.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ sư nói “ĐẢN MẠC TẮNG
ÁI, ĐỒNG NHIÊN MINH BẠCH”, người nghĩa giải cho rằng : Chán
sanh tử, ham niết bàn là yêu ghét; bỏ phiền não, lấy bồ
đề
là yêu ghét, hễ ở nơi pháp thánh phàm chẳng còn mảy
may
cảm tình yêu ghét, thì tâm này tự nhiênminh bạch rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Thôi thôi! Dẫu cho ông tất
cả đều chẳng yêu ghét, không màng luôn đến cái TA, nhưng
đâu biết cái chẳng yêu ghét đó đã thành yêu ghét rồi!
Nếu chẳng phải đích thân thấy chỗ đứng của Tổ Sư (kiến
tánh
), cứ chú giải như thế, có đúng ý Tổ Sư từ Tây Trúc
đến chăng?

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Trời che, đất chở khắp mọi
nơi
,

Mặt trời chiếu soi chẳng
thiếu sót.

Lại muốn ngồi trong nghĩa
minh bạch,

Chẳng biết hai chân dính nước
sình.

3. HÀO LY HỮU SAI, THIÊN
ĐỊA HUYỀN CÁCH

 
 

DỊCH

Xê xíchmảy may, cách xa trời
đất.

LỜI KHAI THỊ

Có căn cứ nhất định, lại
không tiêu chuẩn phép tắc, đem hư không lấp hư không, dùng
mục đích phá mục đích, mua đá được ngọc, dẫu cho Lục
Tổ
nói “Chẳng hội”; Đạt Ma nói “Chẳng biết”, đều là
dời hoa rủ bướm, chỉ hai đường dây dưa này, đã dẫn
khởi gai gốc đầy trời. Bỏ gai gốc, Hải thần chẳng quí
Dạ-Minh-Châu, nguyên nắm ném thẳng vào mặt họ.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “HÀO LY HỮU SAI,
THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH”, người nghĩa giải cho rằng : Pháp
môn
rộng lớn nầy, dù nói ngộ mê chẳng khác, nếu ngươi
còn mảy may tình cảm yêu ghét phân biệt chưa dứt sạch,
thì như trời với đất cách nhau quá xa rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Giải nghĩa như thế giống
thì giống, phải thì chưa phải. Tại sao? Vì còn thiếu một
tiếng “Ổ” (ngộ), dẫu cho ông mỗi mỗi không sai, lý hợp
với đạo, vẫn còn không khỏi cách xa như trời với đất.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Nói chi có sai và không sai,

Đều thành dụi mắt thấy
hoa đốm.

Muốn lìa mảy may việc càng
nhiều,

Trời đất xưa nay vẫn cách
xa.

4. DỤC ĐẮC HIỆN TIỀN,
MẠC TỔN THUẬN NGHỊCH

 
 

DỊCH

Muốn được tự tánhhiện
tiền
, chớ còn tập khíthuận nghịch.

LỜI KHAI THỊ

Hai không là đôi, một không
là chiếc, buông chẳng lìa, nắm chẳng hợp. Dương Kỳ 10
năm đúc thành vòng kim cương, Đạt Ma 9 năm nhìn vỡ vách
tường sắt. Lúc cổ Phật chưa sanh, bóng trăng hiện khắp
ngàn sông; khi vũ trụ đã thành, gió mát sung mãnmười phương.

Nói thuận chẳng thuận, nói
nghịch đâu nghịch,

Quải-giác-linh-dương ăn gậy
sắt, trái cân bóp ra nước vàng ròng (Con linh dương lúc ngủ
treo sừng trên cây, dưới đất không có dấu tích, thở không
ra tiếng, thợ săn khó tìm, dụ cho tự tánh khônghình tướng
số lượng. Trái cân bóp ra nước là việc vô lý, tự tánh
ăn gậy sắt cũng là việc vô lý; hai không là đôi, một không
là chiếc…, đều là việc vô lý, pháp nào có thể lý giải
thì chẳng phải tự tánh).

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “DỤC ĐẮC HIỆN
TIỀN
, MẠC TỔN THUẬN NGHỊCH”. Người nghĩa giải cho rằng
: Tổ Sư nói đến đây thành có mâu thuẫn, tại sao? Việc
này vốn đã hiện tiền, còn muốn đắc cái gì nữa? Kinh
nói “Chánh tánh vô bất thông, thuận nghịch giai phương tiện
” (tự tánh khắp hư không chẳng có tương đối, nói thuận
nói nghịch đều là phương tiện). Ở đây nếu bảo “MẠC
TỔN” thì lại thành đoạn diệt rồi, thật ra ý Tổ Sư chẳng
phải vậy, chỉ dùng phương tiện khai thị cho hàng sơ học,
cũng như người no (đã ngộ) thì không thèm đồ ăn ngon vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Im đi, im đi! Tổ Sư ở dưới
gót chân ngươi, dẫu cho đạp một cái tan nát, vẫn còn phải
tham 30 năm nữa.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Muốn được hiện tiền đuổi
theo vọng,

Chẳng còn thuận nghịch trái
vơi chơn.

Sung sướng, đau khổ quên phân
biệt
,

Cũng là con mắt dính bụi trần.

5. VI THUẬN TƯƠNG TRANH,
THỊ VI TÂM BỆNH

 
 

DỊCH

Thuận nghịch tranh nhau, ấy
là tâm bệnh.

LỜI KHAI THỊ

Bệnh chẳng phải tâm, tâm
chẳng phải bệnh, chớ đem cái cây hàng rào hữu lậu, cho
là cán gáo múc nước sông. Tâm chẳng lìa thân, cũng chẳng
phải tức là thân, cho là khác nhau thì bệnh càng nặng. Giải
thích
công án ” Nhựt diện Phật” của Mã Tổ thì bệnh nặng
càng nặng thêm. Chỗ tình chấp chưa dứt sạch thì dùng cam
lồ
cũng có thể giết người; khi cơ phong khế hợp thì dùng
thuốc độc Tỳ Sương cũng cứu được mạng.

Từ khi phương thuốc đua nhau
truyền,

Đầu búa không lỗ sanh nhiều
bệnh.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “VI THUẬN TƯƠNG
TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH”, người nghĩa giải cho rằng : sanh
tử
vô thường là tâm bệnh, kiến văn giác tri là tâm bệnh,
tham thiềnhọc đạo là tâm bệnh, thành Phật làm Tổ là
tâm bệnh; cần phải quên cả thuận nghịch, bặt cả thánh
phàm, muôn niệm đều bỏ, một lối không tịch, chẳng nhờ
thuốc thần diệu quí báu, thì cái gọi là “tâm bệnh” đó,
tự nhiên không có chỗ đặt để rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Than ôi!Phật phápsuy đồi,
Tổ đình hoang vu, người bị mắc tâm bệnh cùng khắp thế
gian
, đều là kẻ tri giải nhập tâm, chấp thuốc thành bệnh,
đó không phải là việc lạ, dẫu cho Kỳ Bà (thần y đời
xưa
) tái thế cũng không cứu được bọn này.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Thuận nghịch tranh nhau tâm
sanh bệnh,

Thuận nghịch đều quên bệnh
sanh tâm.

Xưa nay tâm bệnh chết liên
tiếp
,

Lại khoe phương thuốc hay như
Thần.

6. BẤT THỨC HUYỀN CHÆ,
ĐỔ LAO NIỆM TỊNH

DỊCH

Chẳng biết huyền chỉ, uổng
công
niệm tịnh.

LỜI KHAI THỊ

Cả đại địa là bánh xe sắt
lửa hồng, cả đại địađại viên cảnh trí, con chồn
con trâu nay vốn chẳng mê. Di Lặc, Thích Ca xưa cũng đâu chứng.
Mây trắng lững lờ chẳng nắm chẳng buông, mặt trăng qua
lại đâu động đâu tịnh; gom trần satrong vòngpháp giới,
nhốt pháp giới trong hang Thái hư. Lúc một người phát chơn
quy nguyên (kiến tánh) thì mười phươnghư không thảy đều
tiêu mất là thế nào?

Con tò vò nuốt mất núi Tu
Di
,

Con khỉ giật mình xuất đại
định
.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “BẤT THỨC HUYỀN
CHÆ, ĐỔ LAO NIỆM TỊNH”. Người nghĩa giải cho rằng : HUYỀN
CHÆ tức chí đạo, thể đồng tên khác, nếu chẳng biết
được, dẫu cho niệm tịnh trải qua hằng sa kiếptu chứng
đủ loại, cũng là ngoài tâm cầu pháp, chỉ tự thêm lao nhọc,
Tổ Sư cũng không chấp nhận.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Huyền Chỉ như kiếm bén Kim
Cang
, kẻ chẳng biết cố nhiên là tán thân mất mạng, biết
được cũng không khỏi chạm nhằm bị thương. Vậy có phương
tiện
nào tránh khỏi được hai lỗi này?

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Huyền chỉ có ai tự biết
được?

Thích Ca, Di Lặc còn đang mơ.

Đáng thương cho kẻ chìm không
tịch
,

Cô đơn ở núi lạnh nhiều
năm.

7. VIÊN ĐỔNG THÁI HƯ,
VÔ KHIẾM VÔ DƯ

DỊCH

Tròn đồng thái hư, không thiếu
không dư.

LỜI KHAI THỊ

Vốn chẳng dư thiếu, lại
có tính toán. Trang Chu gọi “vạn vật là con ngựa”, Long Môn
cho “mười phương là con lừa”. Giống như chung một đường,
lại là chẳng cùng lối. Có nước mới được bóng trăng
hiện, vô tâm khó đắc Dạ-Minh-Châu.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “VIÊN ĐỔNG THÁI
, VÔ KHIẾM VÔ DƯ”. Tòng lâm bàn nhau rằng : Tâm này nơi
Thánh chẳng thêm, nơi phàm chẳng bớt, tròn như hư không,
mỗi mỗi đầy đủ.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Nói như thế, khác chi người
đi tham học các nơi, ngồi chưa ấm chiếu, đem những lời
nầy chứa đầy bụng, chỉ có thể dùng để đàm luận
thôi, hễ gặp một việc nào có dính chút lợi ích của mình,
thì cái niệm so sánhđắc thất nổi dậy ùn ùn, muốn khiến
cho “VIÊN ĐỔNG THÁI HƯ” đâu có thể được! Đối với việc
này cần phải diệu ngộ, ngộ rồi đâu còn cảnh thứ hai
để làm đối đãi ư!

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Tò vò làm ổ trên mi muỗi,

Muốn cùng đại bàng nối cánh
bay.

Nếu cho hư không chẳng thiếu
kém,

Mở mắt bị nhốt trong chiêm
bao
.

8. LƯƠNG DO THỦ XẢ, SỞ
BẤT NHƯ

DỊCH

Bởi do thủ xả, cho nên bất
như (như là đúng như tự tánh).

LỜI KHAI THỊ

Tiến Phước nói “Mạc” (đừng),
Triệu Châu nói “Vô” (không), Tuyết Phong phóng ra con ba baNam
Sơn
, Vân Môn đánh chết cá Lý Ngư Đông Hải. Hưng Hóa đi
dự trai tăng thôn làng, vào trong cổ miếu tránh gió bão; Đơn
Hà thiêu Phật gỗ, làm cho viện chủ rụng lông mày… Những
việc kể trên, đã nghi chết biết bao đại trượng phu.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “LƯƠNG DO THỦ
XẢ, SỞ DĨ BẤT NHƯ”. Người nghĩa giải cho rằng : Tâm này
đã tròn như thái hư, không thiếu tướng nào, tất cả đều
“NHƯ”. Nếu ngươi ở trong pháp nhiễm tịnh vừa sanh tâm thủ
xả, thì “BẤT NHƯ” rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Nếu là bậc tu sĩtham học
chơn chánh, thấy người nói những lời này, liền phun nước
miếng vào mặt họ mà chẳng phải tánh nóng, vì tượng rồng
chẳng thể làm mưa được.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Hai việc thủ xả đã bất
như,

Con trâu ai dám gọi con lừa.

Bản thểkim cang khắp pháp
giới
,

Cũng là dưới hàm trồng lại
râu.

9. MẠC TRỤC
HỮU DUYÊN, VẬT TRỤ KHÔNG NHẪN

DỊCH

Đừng theo nơi có, chớ trụ
nơi không.

LỜI KHAI THỊ

Vạn vậtlăng xăng, con ngườingu độn, lìa tướng lìa danh, có ai không hiểu. Vì sao Đạt
Ma
phân da phân tủy, Lâm Tế lập chủ lập tân (khách), làm
cho con cháu lăn lộn tìm. (Sơ TổĐạt Ma khám xét môn đồ,
có kẻ được da, có kẻ được thịt, có kẻ được xương,
cuối cùngHuệ Khả được tủy, kế làm Nhị tổ).

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “MẠC TRỤC HỮU
DUYÊN
, VẬT TRỤ KHÔNG NHẪN”, Người nghĩa giải cho rằng :
Cả 2 đều hư huyễn, khởi tâmchấp trước thì thủ xả
tranh nhau, một niệm chẳng sanh, thường ở trung đạo, tức
đạo nhângiải thoát.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Sai lầm! Đợi ngươi biết
giải thoát, đã lọt vào ngoan không rồi. Nếu là bậc
ngộ tâm chân thật thì hữu duyênkhông nhẫn há ở bên
ngoài giải thoát ư!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Đừng theo nơi có, còn là dễ,

Chớ trụ nơi không, mới thực
khó.

Hai đầu khó dễ đều chấm
dứt
,

Tổ đình y xưa chẳng dính
dáng
.

10. NHẤT CHỦNG
BÌNH HOÀI, DÂN NHIÊN TỰ TẬN

DỊCH

Trọn một bình đẳng, tuyệt
nhiên
tự sạch.

LỜI KHAI THỊ

Đạo tràng chẳng động, pháp
vốn vô sanh. Trăng sáng thấu song cửa, gió mát đầy bình
phong, chỗ có Phật chẳng được trụ, dùng sắt gói tim đèn.
Chỗ không Phật chạy mau qua, bông đẹp trải gấm lụa. Ngoài
ba ngàn dặm tìm bông hái, mười phươnghư không đều tiêu
mất. Dễ thương lượng, khó định chuẩn, trâu đất đáy
biển ăn roi sắt, bên đầu trăm cỏ gió lạnh lùng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “NHẤT CHỦNG BÌNH
HOÀI, DÂN NHIÊN TỰ TẬN”, Người nghĩa giải cho rằng : Tình
chấp thủ xả đã sạch, tri kiến thánh phàm không nơi nương
tựa
, tự nhiên tất cả chỗ đều bình thường, tất cả
chỗ tịch diệt.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Ban ngày không ngủ, đừng có
nói mớ. Như nay mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, gọi cái gì
bình thường hay không bình thường?

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Tuyệt nhiên sạch hết chẳng
ngằn mé,

Bên đầu trăm cỏ mở chánh
nhãn.

Sanh tửNiết bàn đều bóp
nát,

Chẳng biết bình thường đặt
nơi nào.

11. CHÆ ĐỘNG
QUY CHÆ, CHÆ CÁNH DI ĐỘNG

DỊCH

Ngăn động trở về tịnh,
tịnh ấy càng thêm động.

LỜI KHAI THỊ

Nói quanh lao nhọc danh tướng,
nói thẳng chẳng có dài dòng. Nói quanh tạm gác một bên,
thế nào là nói thẳng? Trương Tam, ăn gậy sắt, Lý Tứ chịu
đớn đau; người sống vào quan tài, người chết đi đưa
đám. Quan Âm mất hết thần thông, lại bị con nít chọc ghẹo.
Nói thẳng tạm gác một bên, nói quanh lại là thế nào?

Hoa giác ngộ phải trồng nơi
tự tánh,

Hạt giống Phật nên gieo trên
tâm địa.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “CHÆ ĐỘNG QUY CHÆ,
CHÆ CÁNH DI ĐỘNG”. Người nghĩa giải cho rằng : Chân tâmtrạm nhiên luôn luôn bất động, xưa naylưu chuyển đều
do vọng kiến, vậy động đã là vọng, tịnh cũng là vọng,
dùng vọng để ngăn vọng, giống như ôm củi chữa lửa, chỉ
thêm cháy mạnh. Lấy lời Pháp SưTăng Triệudẫn chứng rằng
: “Muốn tìm chỗ bất động, đâu phải buông động để cầu
tịnh, ắt phải cầu tịnh ở nơi động. Vì cầu tịnh ở
nơi động, dù động mà thường tịnh; chẳng buông động
để cầu tịnh, dù tịnh mà chẳng lìa động”. Thế thì, động
chẳng tướng động, tịnh chẳng tướng tịnh, như trong Kinh
nói “Hai tướng động tịnh rõ ràng không sanh”, bởi vì rõ
biết động tịnh đều là cảnh vọng, các vọng đã tiêu
thì hai tướng đâu còn!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Thôi thôi! Động là núi bạc,
tịnh là vách sắt. Nếu chưa từng đập nát, mà muốn hai
tướng kia không sanh thì còn cách xa quá.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Ngọn lửa đâu cho ruồi muỗi
đậu,

Lưỡi kiếm chẳng cho thân
trần đụng.

Nhà kín Đạt Ma không cửa
nẻo,

Nắm tay lôi kéo chẳng ai vào.

12. DUY TRỆ LƯỠNG
BIÊN, NINH TRI NHẤT CHỦNG

DỊCH

Hễ kẹt hai bên, đâu biết
vốn một.

LỜI KHAI THỊ

Nhìn phải nhìn trái, Đông
nổi Tây lặn, ló ra đầu búa không lỗ, đập lũng đáy thùng
sơn đen
. Chân nhânĐịa Vị, bạt tai Núi Tu Di một cái,
khiến cho Bồ TátHư Không Tạng đứng giữa ngã tư đường
chấp tay nói rằng : “Cúi xin trân trọng”. Tại sao có những
việc trên như thế?

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “DUY TRỆ LƯỠNG
BIÊN, NINH TRI NHẤT CHỦNG”, Người nghĩa giải cho rằng : LƯỠNG
BIÊN là 2 tướng động tịnh, NHẤT CHỦNG là toàn thể không
khác. Đây là lời giải thích 2 câu trên, phải biết động
tịnh nhị biên, vọng thì cùng vọng, chân thì cùng chân, đâu
có hai thứ.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Im đi, im đi! Đừng đem kiến
giải
vô dụng đã học được, để chôn vùi chân tâm của
Tổ Sư.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Thị nhất chủng hay phi nhất
chủng,

Thị phi hết chấp có ai biết.

Chớ đem đá rêu xanh trong tuyết,

Cho là cò trắng đứng dưới
sông
.

13. NHẤT CHỦNG
BẤT THÔNG, LƯỠNG XỨ THẤT CÔNG

DỊCH

Vốn một chẳng thông, thì
đặt ra hai chỗ là uổng công.

LỜI KHAI THỊ

Nhận nai là ngựa, gọi lu là
chuông, xưa nay đem sai chiều theo sai, chẳng khác đem hư không
lấp hư không, ngồi rách năm, ba cái bồ đoàn, vỗ tay cười
to; đi gãy bảy, tám cây tích trượng, mặt mày hớn hở, quét
sạch
bệnh chấp Phật Tổ, diệt mất Thiếu Lâm Tông (Thiền
Tông
), lò rèn lâu năm lửa vẫn hồng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “NHẤT CHỦNG BẤT
THÔNG, LƯỠNG XỨ THẤT CÔNG”, một số thiền giả bày đặt
rằng : Hai câu này là lời kết trước dẫn sau, nói KẾT TRƯỚC
hiển bày chơn lý vốn một; Nói DẪN SAU là trách cái vọng
của có và không vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Nếu là nạp tăng chơn thật,
dù nói một nói hai, câu nào cũng quy về tự tông (bản thể),
lời nào cũng là ứng dụng. Nếu chẳng như thế, thì nói
một đã lọt vào hang ổ rồi, huống là hai ư!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Nói một xưa nay không chỗ
để,

Nói hai đâu có chỗ lập công?

Chỉ vì Bà mẹ dặn quá kỹ,

Liên lụy vợ tôi chấp thấy
nghe.

14. KHIỂN HỮU
MỘT HỮU, TÙNG KHÔNG BỘI KHÔNG

DỊCH

Trừ bỏ Có thì kẹt nơi Có,
đuổi theo KHÔNG lại trái với KHÔNG.

LỜI KHAI THỊ

Đầu chánh đuôi chánh, tâm
không
mắt không, gặp nhau trong đường hẹp, nói bậy cũng
trúng. Cây bách của Triệu Châu, cắt đứt một dòng suối
thế gian. Cái bánh sắt có nhân của Đông Sơn, bóng nước
bầu trời hiện cây tùng. Voi lớn không đi đường con thỏ,
sư tử đâu chịu giẫm dấu chồn.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “KHIỂN HỮU MỘT
HỮU, TÙNG KHÔNG BỘI KHÔNG”. Những người đuổi theo lời
nói
giải rằng CÓ là vọng có, vì trừ nó mà bị kẹt;

KHÔNG vốn tự không, do muốn
đuổi theo nên trái. CÓ là cái có của nhà không; KHÔNG là
cái không của nhà có, KHÔNG nhờ có mới hiển, CÓ nhờ không
mà bày; vì hiển nên toàn không là có, vì bày nên toàn có
là không, dung nhiếp với nhau mà chẳng sai, tương đối lẫn
nhau mà chẳng khác. Do đó được biết, trừ nó hay theo nó
đều là vọng.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Sư tử cắn người, đâu chịu
đuổi theo cục xương, y văn giải nghĩa, còn không bằng con
chó đuổi theo cục xương nữa, mà còn muốn nó rống lên
chụp người ném cục xương ấy, thì đâu có thể được!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Chỉ vì lá bùa dán quá cao,

Giữ cửa vẫn bị quỷ thần
vào.

Đâu bằng ở dưới thềm nhà
lá,

Suối, mây, trăng, núi làm bạn
nhau.

15. ĐA NGÔN ĐA
LỰ, CHUYỂN BẤT TƯƠNG ƯNG

DỊCH

Nói nhiều lo nhiều, càng chẳng
tương ưng.

LỜI KHAI THỊ

Như nước vào nước, như gương
soi gương, tẩy được pháp trần lại kết thành kiến bệnh,
làm cho tam thế chư Phật không nhà để về, lịch đạitổ
chẳng có đạo để chứng. Vì thương xót quan tuần mù
mắt phải xem số mạng cho KHÔNG VƯƠNG, đêm khuya lật bàn
quẻ ra xem, hư minh lạnh lẽo tự soi nhau. Cho nên nói “ĐA NGÔN
ĐA LỰ, CHUYỂN BẤT TƯƠNG ƯNG”.

LỜI NGHĨA GIẢI

Người nghĩa giải cho rằng
: Nói nhiều cách đạo càng xa. Lại nói “diệu tâm rỗng nhiên
chiếu soi, lấy tịch lặng của bậc Thánh làm tông. Còn dẫn
chứng
Tổ Đạt Ma dạy “Ngoài tuyệt các duyên, trong tâm không
nghĩ tưởng”. Ngoài tuyệt các duyên thì quên lời nói, trong
không nghĩ tưởng thì hết niệm lo.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Ngươi dẫn chứng như thế
rồi, vậy có tương ưng với tự tánh hay chưa? Nếu chưa,
thì nói chi ngôn ngữ này nọ!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Do lời hiển đạo, đạo quên
lời,

Quên đến không lời cũng vọng
truyền.

Thị phi thoát ra ngoài lời
nói
,

Hư không chẳng miệng biết
nói Thiền.

16. TUYỆT NGÔN
TUYỆT LỰ, VÔ XỨ BẤT THÔNG

DỊCH

Bặt nói bặt lo, chỗ nào cũng
thông.

LỜI KHAI THỊ

Đạo Ngô múa hốt (cây hốt
của quan triều đình), Thạch Củng giương cung, Tây Hà
tử
, Trường Sa mãnh hổ, chẳng những bấy giờ tiếng tămlừng lẫy, cho tới ngày nay gia phong vẫn còn lưu truyền, đến
dưới cửa Tổ Sư phải khiến dấu chuột diệt mất. Tại
sao như thế? Há chẳng thấy nói “Dùng nia đong gạo khác với
cái lít, bàn ủi nấu trà không giống cái ấm”. Cho nên nói
“TUYỆT NGÔN TUYỆT LỰ, VÔ XỨ BẤT THÔNG”.

LỜI NGHĨA GIẢI

Hoặc có người y văn giải
nghĩa
rằng : Bặt nói thì đường ngôn ngữ dứt, bặt lo thì
chỗ tâm hành diệt; đường ngôn ngữ dứt thì tịch mà chiếu,
chỗ tâm hành diệt thì chiếu mà tịch. Đến đây, Như Lai
Thiền
Tổ Sư Thiền có thể xỏ chung một xâu, cũng có
cổ nhân bảo họ thôi đi nghỉ đi, khoé miệng lên meo, trên
lưỡi mọc cỏ v.v… đều không ngoài lý này.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Lãnh hội như thế, giống như
để nước đá trên ngọn lửa hồng, thật là không biết
mắc cở. Nếu quả như lời nói ấy, thì đâu cần Tổ Sư
từ Tây Trúc sang!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Bặt nói bặt lo đồng người
gỗ
,

“Khi nào thành Phật”, Vĩnh Gia
chê.

Chưa ngộ trước lời thông
huyền
chỉ,

Đem một mảy lông ngăn thiết
vi
.

17. QUY CĂN ĐẮC
CHÆ, TÙY CHIẾU THẤT TÔNG

DỊCH

Trở về cội gốc thì được
ý chỉ, đuổi theo chiếu soi lại mất bản tông.

LỜI KHAI THỊ

Như thế, như thế, cho Tây
làm Đông; chẳng như thế, chẳng như thế, nhận có là không.
Chẳng như thế ở nơi như thế, giống như dùng lưới bắt
gió, như thế, ở nơi chẳng như thế, như dùng giấy ướt
để nhốt cọp. Tại sao? Há chẳng nghe nói “QUY CĂN ĐẮC CHÆ,
TÙY CHIẾU THẤT TÔNG” ư!

LỜI NGHĨA GIẢI

Một số người khéo suy lường
rằng : “Bặt nói bặt lo” là trở về cội, “nơi nào cũng thông”
là đắc tông chỉ. Nếu ngươi lãnh hội theo nghĩa “về cội
đắc chỉ” đó, thì lại đuổi theo chiếu soi làm lạc mất
tông chỉ rồi. Nhưng CỘI vốn không chỗ về, CHÆ cũng chẳng
thể đắc, chẳng rõ nghĩa này, tự sanh vọng chấp, nói là
TUỲ CHIẾU, nếu còn dấu tích chữ CHIẾU, thì tâm tông của
chư Phật chư Tổ đã lạc mất quá lâu rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Quả có lời nói này ư? Nếu
thật như thế, thì cũng như kêu những Phật Tổ từ xưa đên
đây ăn gậy sắt của Diêm La Vương. Tại sao? Vì họ QUY CĂN
ĐẮC CHÆ vậy!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

TÙY CHIẾU, QUY CĂN đồng một
việc

Chẳng cần đặc biệthiển
gia
phong.

Tâm trộm chưa chết trước
cơ xảo,

“ĐẮC CHÆ” đâu khác sự “THẤT
TÔNG”.

18. TU DUPHẢN
CHIẾU
, THẮNG KHƯỚC TIỀN KHÔNG

DỊCH

Phản chiếu chốc lát, hơn
cả KHÔNG kia.

LỜI KHAI THỊ

Thấy đến, hành đến, Tông
thông thuyết thông
, hiển lộ con mắt trời người, mổ ra
tấm lòng Phật Tổ. Ngược với vật, đuổi theo vật, giống
như khác chẳng phải khác, giết người cứu người, nói đồng
chẳng đồng, đều cho đè ngang xuống một lượt, nửa đêm
cửa biển mặt trời hồng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “TU DU PHẢN CHIẾU,
THẮNG KHƯỚC TIỀN KHÔNG”, hạng người gượng nói đạo lý
rằng : Đem sáng, tối, sắc, không, dẫn nghĩa quy về tự kỷ
gọi là PHẢN CHIẾU. Phải biết không chẳng tự không bởi
tâm nên không; có chẳng tự có, bởi tâm nên có, chúng sanh
xa trái tự tâm, vọng thấy Không và Có, mà muốn theo nó hay
bỏ nó, đều gọi là điên đảo.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Lời nóiđoán sai. Dưới cửa
Thiền
Tông, tìm tâm trọn chẳng thể được, ai là người
điên đảo?

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Vốn chẳng phải chiếu đâu
cần chiếu,

Nói chi chốc lát với lâu dài.

Hễ được kiến tánh siêu
danh tướng,

Hai việc lâu mau nghĩa đều
sai.

19. TIỀN KHÔNG
CHUYỂN BIẾN, GIAI DO VỌNG KIẾN

DỊCH

Không kia chuyển biến, đều
do vọng kiến.

LỜI KHAI THỊ

Lư hương chùa cổ, lụa trắng
một sợi, ngay đó siêu việtsanh tử, đều là rơi vào phương
tiện
. Xưa nay chẳng tin tâm tự mê, lại nói Phật pháp không
linh nghiệm. Dù có linh nghiệm, ngay đó liền thành Phật, thì
vào địa ngục mau như tên bắn.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “TIỀN KHÔNG CHUYỂN
BIẾN
, GIAI DO VỌNG KIẾN”, người nghĩa giải cho rằng : Có
là vọng, Không cũng là vọng. Không và Có theo duyên thay đổi
chẳng nhất định, muốn được lìa vọng, phải bài trừ
cả hai.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Thôi thôi! Trừ thì mặc tình
cho y trừ, nhưng chẳng biết cái vọng sở trừ và cái tâm
năng trừ đều chẳng lìa vọng. Nếu chẳng thể luôn cả
cái “trừ” đều trừ sạch, muốn thoát khỏicảnh duyên vọng,
khó mong có ngày. Vậy có phương tiện nào để trừ luôn cái
“Trừ”?

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

KHÔNG đâu có biến, biến phi
KHÔNG
,

Trong mắt đừng có chứa núi
sông.

Ba Tư đáy nước thổi đá
lửa,

Mặt trời bay lên cửa biển
đông.

20. BẤT DỤNG
CẦU CHƠN DUY TU TỨC KIẾN

DỊCH

Chẳng cần cầu chơn, chỉ
cần dứt kiến (tri kiến)

LỜI KHAI THỊ

Dựng đứng xương sống như
sắt, cầm ngang cây kiếm dài như trời, trong lúc động tịnh
nhàn rộn, tất cả nhồi thành một khối. Đã tinh chuyên,
lại dũng mãnh, đối với sự thành Phật làm Tổ, chẳng cách
một hạt bụi, đụng nhằm Tam Tổ nói nhỏ với Ngài rằng
“Khéo léo xem phương tiện, chẳng cần cầu chơn, chỉ cần
dứt kiến”.

LỜI NGHĨA GIẢI

Người học giáo lý cho rằng
: Kiến chấp có 62 thứ, pháp số nêu ra đủ thứ, chẳng ra
ngoài 2 kiến : Đoạn và thường. Cầu chơn rơi vào đoạn
kiến
, theo vọng rơi vào thường kiến. Kinh Lăng Nghiêm nói
“Nói vọng để hiển chơn, Vọng, Chơn là hai vọng, Phi chơn
phi chẳng chơn, nói chi kiến sở kiến”. Hễ lìa được tất
cả kiến thì toàn thể tức chơn, chẳng cần cầu vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Phải thì cố nhiên là phải,
nhưng Tổ Sư nói “CHÆ CẦN DỨT KIẾN”, vậy kiến làm sao dứt?
Nếu như có cái lý của dứt kiến, thì cái lý đó cũng trở
thành
kiến rồi!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Tác ý cầu chơn, chơn liền
ẩn,

Tận tình dứt kiến, kiến
càng sanh.

Ngay cửa dù chẳng trồng gai
gốc,

Nhưng đã không ai có lối đi.

21. NHỊ KIẾN
BẤT TRỤ, THẬN VẬT TRUY TẦM

DỊCH

Nhị kiếnđối đãi chẳng
trụ, chớ nên đuổi theo để tìm.

LỜI KHAI THỊ

Dùng mũi kim gọt sắt, nơi
mặt Phật cạo vàng, nói KHÔNG thì mảy may chẳng cách, nói
CÓ thì bậc Thánh khó tìm. Ban ngày không thấy đường, nửa
đêm lại sáng tỏ. Tuyệt đối đãi, lìa cổ kim, người đời
đều biết Hồ Hải rộng, xuất ngoại mới thấy nước bùn
sâu.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “NHỊ KIẾN BẤT
TRỤ, THẬN VẬT TRUY TẦM, người nghĩa giải cho rằng : Đã
chẳng trụ vọng, cũng chẳng trụ chơn, luôn cái chẳng trụ
cũng không trụ, chính ngay khi ấy đủ thứ đại dụng, tất
cả toàn chơn, đâu cần lìa cái này để tìm cái khác!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Ỷ! Như những lời nóitương
tự
này, có ai không chứa một bụng hay nửa bụng, nhưng muốn
gần bên cạnh Tổ Sư thì chưa được.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Các pháp bổn lai vô sở trụ,

Nơi vô sở trụ bặt truy tầm.

Đêm qua Tây Đỉnh mặt trời
lặn,

Sáng nay y cũ chiếu rừng sâu.

22. TÀI HỮU THỊ
PHI
, PHÂN NHIÊN THẤT TÂM

DỊCH

Vừa có thị phi, thì lăng xăng
lạc mất bản tâm.

LỜI KHAI THỊ

Căn chẳng lợi độn, đạo
chẳng cạn sâu, Thiền tông có một câu :

“Phi cổ phi kim”, mò không đụng
đáy. Tỉnh tọa nơi Đại-viên-cảnh-trí, dù được đụng
đáy lại sâu vào rừng rậm tà kiến, Di Lặc, Thích Ca tự
biết chẳng có phần, con chồn, con trâu ráng nín sự tức
cười.

Đêm cưỡi ngựa sắt chìm
đáy biển,

Mò được mũi kim hồi năm
xưa.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “TÀI HỮU THỊ PHI,
PHÂN NHIÊN THẤT TÂM”, người ở tòng lâm thường nói : Khắp
mười phươngthế giớisa môn tự kỷ, khắp mười phươngthế giớicổ Phậtpháp thân. Cho nên nói : lăng xăng chẳng
phải vật khác, tung hoành đâu phải bụi trần, chẳng thị
cũng chẳng phi, mỗi mỗi đều từ trong tâm diệu minh chảy
ra.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Những lời nói này, tòng lâm
gọi là việc thương lượngbình thường, cũng gọi là câu
nói chuyển thân (vô trụ), ai cũng dùng 2 câu này để dẫn
chứng
, xưa nay không biết đã làm ô nhiễm bao nhiêu tâm địatrong sạch, nên bậc đạo nhân chơn thật, quở nó là tạp
độc
, mắng nó là nước miếng con chồn, có người nào không
chịu sự ma mị ấy chăng! Cần phải mửa hết cho mau.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Nói có thị phi, không thị
phi
,

Nhà lớn cửa mở đợi ai vào.

Gai gốc đầy trời ngang đường
cái,

Đi qua ai chẳng bị vướng
y.

23. NHỊ DO NHẤT
HỮU, NHẤT DIỆC MẠC THỦ

DỊCH

Hai do một mà có, một cũng
đừng nên giữ.

LỜI KHAI THỊ

Mặt trời mọc, mặt trăng
lặn, trời đất lâu dài, chỉ có Châu Kim Cang (Đức Sơn)
không việc làm. Cầm ngang cây gậy đi dọc đường, có ai
hỏi ý Tổ Sư từ Tây Trúc sang, nếu chẳng đánh vào sống
lưng thì chụp ngay ngực, rồi nói “Ngậm miệng chó lại”,
làm cho sum la vạn tượng híp mắt cười ha hả. Muốn đến
nơi phải đợi ba mươi năm sau.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “NHỊ DO NHẤT HỮU,
NHẤT DIỆC MẠC THỦ”, người nghĩa giải cho rằng : Vừa theo
hai, liền mê một, vừa giữ một, liền sanh hai. Nên biết
: Hai là chơn vọng, một là tự tâm, cái “HAI” của chơn vọng
đã trừ, cái “MỘT” của tự tâm chẳng trụ, gọi là giải
thoát
trên đường đạo lớn vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Những lời nói này, ghi nhớ
trong lòng cho là tham học, chẳng những chưa đủ tư cách để
ăn gậy của Đức Sơn, mà gậy sắt của Diêm La Vương lại
không thể thiếu phần cho ông.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Bảo y một pháp cũng đừng
giữ,

Chẳng biết “đừng giữ” chưa
thật nghèo.

Đâu bằng say rượu nằm trên
thảm,

Rải ném vàng ròng cho mọi
người
.

24. NHẤT TÂMBẤT SANH, VẠN PHÁP VÔ CỬU

DỊCH

Một tâm chẳng sanh khởi, muôn
pháp chẳng đúng sai.

LỜI KHAI THỊ

Tô Châu có, Thường Châu có,
sáu lần sáu = ba mươi sáu, bảy lần bảy = bốn mươi chín.
Am chủ dựng lên nắm tay, Bá Trượng mở ra hai bàn (tay), sản
xuất túi cơm (ám chỉTổ Sư) một ngàn bảy, hiện ra đầu
thần mặt quỷ. Con tôm đâu từng ra khỏi lưới.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “NHẤT TÂM BẤT
SANH
, VẠN PHÁP VÔ CỬU”, người nghĩa giảidẫn chứngkinh
luận
rằng : “Tâm sanh mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt mỗi mỗi
pháp diệt. Các pháp chẳng tự sanh, các pháp chẳng tự diệt,
đều do một tâm biến hiện, một tâm không sanh, các pháp
thường
trụ”. Cho nên người xưa có lời nói : “Trâu sắt
không sợ sư tử rống, giống như người gỗ thấy chim, hoa”,
chính là nghĩa này vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Đúng thì đúng rồi! Nhưng
Ngài Vĩnh Gia lại nói : “Ai vô niệm, ai vô sanh? Nếu thật
vô sanh thì vô bất sanh, kêu người gỗ-máy đến hỏi thử,
dụng công cầu Phật lúc nào thành? Vậy lời nghĩa giải trên
dường như trái ngược; xin hỏi : Bất sanh là phải, hay
bất
sanh là phải? Thử xác định xem!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Vạn phápxưa nay chẳng đúng
sai,

Một tâm đâu có sanh, bất
sanh
.

Lòng từ dặn dò dù tha thiết,

Tiếng sáo chăn trâu khó hợp
đàn
.

25. VÔ CỬU
PHÁP
, BẤT SANH BẤT TÂM

DỊCH

Chẳng đúng sai thì chẳng phải
pháp, cũng chẳng sanh cái tâm chấp “chẳng phải tâm”.

LỜI KHAI THỊ

Núi Thái Hoa không hiểm, Biển
mênh mông không sâu, bài thơ “Nguyệt thực” của Lư Đồng
đâu có khó đọc, Khúc “Thái Cổ” của Bá Nha thật có tri
âm, chỉ có “Ám Hiệu Tử” của Đông Sơn nắm thì không kẽ
hở, buông thì rất khó tìm, làm phiền bao nhiêu người lanh
lợi
, chen lấn tranh giành đến ngày nay.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “VÔ CỬU VÔ PHÁP,
BẤT SANH BẤT TÂM”, người nghĩa giải cho rằng : hai câu này
là ngược lại hai câu trên. Nói “KHÔNG ĐÚNG SAI” thì muôn
pháp tự tiêu, “KHÔNG SANH” thì một tâm tự tịch, Pháp tiêu
tâm tịch, bản thể của chí đạo rõ ràng, chẳng đợi đắc
mà đắc rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Xưa kia tăng hỏi Triệu Châu
: “Học nhân mới vào tòng lâm, xin thầy chỉ dạy” Châu hỏi
“ăn cháo rồi chưa?” Tăng nói : “Ăn rồi”. Châu nói : “Rửa
chén bát đi!” Tăng ấy ngộ liền. Vậy tăng ấy lúc bấy giờ
ngộ chẳng đúng sai ư? Ngộ chẳng phải pháp ư ? Ngộ không
sanh ư? Ngộ chẳng phải tâm ư? Xin xác định xem!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Chỉ vì lỗi chấp chẳng đúng
sai,

Sanh tâm đều bởi chấp “không
sanh”.

Đêm lạnh vượn khóc trăng
đỉnh núi,

Khác đường xưa nay không thể
hành.

26. NĂNG TÙY CẢNH
DIỆT, CẢNH TRỤC NĂNG TRẦM

DỊCH

Năng theo cảnh diệt, cảnh
theo năng mất.

LỜI KHAI THỊ

Đem một lớp khử bỏ một
lớp, đường xa mới biết sức ngựa; chẳng đem một lớp
khử bỏ một lớp, lâu ngày mới thấy lòng người. Công án
2 lớp; chân đã duỗi thì không rút, ngoài 3000 dặm ai là tri
âm?

Từ khi mùa đông người đã
về,

Mấy đám mây xuân bọc núi
xanh.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “NĂNG TÙY CẢNH
DIỆT, CẢNH TRỤC NĂNG TRẦM”, người nghĩa giảidẫn chứng
lời Vĩnh Gia rằng : “Cảnh không trí thì chẳng rõ, trí không
cảnh thì chẳng sanh; trí sanh do rõ cảnh mà sanh, cảnh rõ
do trí sanh mà rõ”. Nên biết NĂNG là một tâm, CẢNH là các
pháp, năng tức tên khác của trí, cảnh tức biệt hiệu của
pháp, cảnh diệt thì tâm năng rõ cũng diệt, tâm không thì
cảnh sở hiện cũng mất. Năng và cảnh giúp nhautồn tại,
nhiếp nhau dung thông, vốn không ngăn cách, người không rõ
nghĩa này nên gọi là mê.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Theo lời nói như vậy, gọi
liễu ngộ được chăng? Chẳng những không liễu ngộ,
lại như người đói khát ăn muối, càng thêm đói khát
thôi.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Đồng biết ánh sáng do đèn
hiện,

Cùng nói làn sóng nhờ nước
sanh.

Nước cạn, đèn tắt, sóng,
ảnh hết,

Mới đáng ngoài cửa ăn roi
Tổ.

27. CẢNH DO NĂNG
CẢNH, NĂNG DO CẢNH NĂNG

DỊCH

Cảnh do năng thành cảnh, năng
do cảnh thành năng.

LỜI KHAI THỊ

Đại Tạng kinh điển là giấy
vụn năm xưa, ngàn bảy công án là dây

dưa mục nát, cũng như lá vàng
gạt con nít nín khóc, khác chi

đốt ngọn đèn dưới ánh
sáng mặt trời! Dẹp qua lớp này rồi lại có

một lớp nữa, có mấy ông
tăng được thoát khỏi những sự lừa gạt nầy

?

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “CẢNH DO NĂNG
CẢNH, NĂNG DO CẢNH NĂNG”. Có người y văn giải nghĩa rằng
: Cảnh chẳng tự cảnh, vì năng nên cảnh; năng chẳng tự
năng, vì cảnh nên năng, năng nhờ cảnh mà sanh, cảnh nhờ
năng mà khởi. Phải biết ngoài tâm chẳng pháp, sanh mà bất
sanh
; ngoài pháp chẳng tâm, khởi mà phi khởi. Tổ Sư đến
đây, đem nhất tâmvạn pháp vò thành viên kẹo, chỉ muốn
y vui vẻ nuốt vào.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Hỏi ngược lại họ : “Ông
đã từng nuốt được hay chưa? Nếu như chưa, vậy cả thế
giới
có ai nuốt được chăng? E rằng sau này viên sắt lửa
hồng chắc có phần cho ông!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Vì năng sanh sở, sở sanh năng,

Năng sở đều quên, sanh “Bất
Sanh”.

Ốc Trai hút cạn nước biển
cả,

Trên nhánh san hô nửa đêm
trăng.

28. DỤC TRI LƯỠNG
ĐOẠN, NGUYÊN THỊ NHẤT KHÔNG

DỊCH

Muốn biết “hai đoạn”, vốn
là “một-không”.

LỜI KHAI THỊ

Không mà chẳng không, cây gậy
sừng thỏ chống bể núi bạc vách sắt ; chẳng không mà không.
Phất trần lông rùa mở ra gió mát trăng thanh. Động Sơn “ba
cân mè”, dính da dính xương; Vân Môn “cục cứt khô”, kẹt
vỏ kẹt ruột. Trước mặt nạp tăng thả qua không được,
dưới cửa Tổ Sưtái phạm khó tha. Thường khiến trong bụng
như kim chích, quăng xuống trong biển rộng sóng to.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “DỤC TRI LƯỠNG
ĐOẠN, NGUYÊN THỊ NHẤT KHÔNG”. Người nghĩa giải cho rằng
: Nói “HAI ĐOẠN� là chỉ tâm pháp của đoạn trên. Nói “MỘT
KHÔNG” chẳng phải là cái ngoan không của Thái hư, cũng chẳng
phải là cái “không” đoạn diệt của Tiểu-thừa, là cái chơn
không vô tướng của linh giác. KHÔNG này là nguồn gốc của
chư Phật, là mẹ của vạn linh. Chẳng tiếng chẳng mùi,
ràng
ở trước các vật. Chẳng hữu chẳng vô, hiển bày bên
ngoài lục trần.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Đã là KHÔNG thì chẳng nên
có biết, đã có biết thì chẳng nên gọi là không. Nếu chưa
từng nắm tay với Tổ Sư, đích thân đến Biển Giác của
Chơn Không, thì nói chi ngôn ngữ này nọ!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Đào được kho tàng trong chiêm
bao
,

Lại cưỡi loan phụng lên Bảo
Đài
.

Suốt đêm vui mừng không kể
xiết,

Sáng ngày tỉnh dậy dạ ngẩn
ngơ.

29. NHẤT KHÔNG
ĐỔNG LƯỠNG, TỀ HÀM VẠN TƯỢNG

DỊCH

Nói một cái KHÔNG đã đồng
với hai, một và hai cùng bao hàm vạn tượng.

LỜI KHAI THỊ

Một câu khôngích kỷ, muôn
người đồng ngưỡng mộ. So bằng vai tổ. Cơ xảo qua bàn
tay, Đại Điên đánh thủ tọa; gom tuyết để chôn vàng, Hưng
Hóa phạt Duy Na, ra tiếng để ngưng âm thanh. Duy có Thạch-Cảm-Đương,
quanh năm suốt tháng, ló đầu ra trước trăm ngàn chúng, xưa
nay
chẳng ai biết tán thưởng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “NHẤT KHÔNG ĐỔNG
LƯỠNG, TỀ HÀM VẠN TƯỢNG”. Người nghĩa giải cho rằng
: Tâm chẳng khác với pháp. Là một KHÔNG đồng hai; pháp chẳng
khác với tâm, là cùng hàm vạn tượng. Sở dĩ người xưa
nói “Thấy sắc liền thấy tâm, chẳng sắc, tâm chẳng hiện”,
lại trong kinh nói “Sum la và vạn tượng, do một pháp ấn định”,
nên Tổ Sưsáng tỏ nơi đây.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Giảng kinh thì cho ngươi giảng,
nhưng muốn thấy ý chỉ Tổ Sư, khác gì đi Trịnh Châu ra
cửa Tào Châu.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Một chẳng phải chiếc, hai
chẳng đôi,

Trăng lạnh đêm khuya, bóng
in sông.

Ánh sáng nuốt hết cả
trụ
,

Còn dời bóng mai lên cửa song.

30. BẤT KIẾN
TINH THÔ, NINH HỮU THIÊN ĐẢNG

DỊCH

Chẳng thấy tinh tế thô sơ,
đâu có thiên lệch một bên.

LỜI KHAI THỊ

Thiền gọi quan ải, giáo gọi
cương yếu, cứu vớt chúng sanh trong tam giới, thi đậu “TÂM
KHÔNG” là tiêu biểu, đụng nhằm thằng không ý chí (tự tánh),
móc xiềng xích, mở thắt kết, muôn mắt nhìn thẳng, muốn
mở mà chẳng mở; trăm người giơ tay, muốn tát mà chẳng
tát, đạo giảvô tâm vốn nên như thế, đâu phải khoe tài
trước mặtmọi người. Cho nên nói : “BẤT KIẾN TINH THÔ,
NINH HỮU THIÊN ĐẢNG”.

LỜI NGHĨA GIẢI

Người nghĩa giải cho rằng
: Tâm và pháp đã không, năng và sở đều bặt, thì chúng
sanh
, chư Phật đồng bản thể, mê ngộ chẳng khác, nên dẫn
chứng
lời “tức tâm minh” nói : “Đâu quí đâu tiện, đâu
nhục đâu vinh, đâu đắc đâu thất, đâu trọng đâu khinh,
một đạo hư tịch, vạn vật bình đẳng”.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Nói chứng cũng giống như được
chứng, nhưng vì sự chứng quá giống nhau đi, lại trở thành
không giống nhau rồi. Vậy thế nào là chỗ không giống nhau?
Thử xác định xem!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Hét ra tiếng sét khó bịt tai,

Tò vò vác biển vào mi muỗi.

Heo bùn, chó ghẻ cùng mở mắt,

Tam thế Như Lai trọn chẳng
hay.

31. ĐẠI ĐẠO
THỂ KHOAN, VÔ DỊ VÔ NAN

DỊCH

Bản thểđại đạo rộng
khắp hư không, chẳng có khó dễ đối đãi.

LỜI KHAI THỊ

Trộm được y bát vào tay,
biết nói “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động”,
ngoài y-kim-lan ra còn có vật gì khác? Xô ngã cây nêu trước
cửa, hai ông này vô sự sanh sự, dối người dối mình. Bổn
lai không kẽ hở, xuyên tạc chẳng dính dáng. Có hiểu được
chăng?

Một lầngặp nhaumột lần
già,

Một lần gió thổi một lần
lạnh.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “ĐẠI ĐẠO THỂ
KHOAN, VÔ DỊ VÔ NAN”, người nghĩa giải cho rằng : Việc này
vốn bao trùm nhựt nguyệt hư không, Phật Tổ chẳng biết
tên, đại địa chở không nổi, như trời che khắp, như đất
nâng khắp, mỗi mỗi viên mãn, người người đầy đủ, đâu
còn khó dễ gì để nói! Đây nói KHÓ DỄ là tại người
chẳng tại pháp, hễ tin tự tâm là Phật thì dễ, chẳng tin
tự tâm là Phật thì khó.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Theo sự thấy nghe của tôi
lại khác; Hễ tin tự tâm là Phật thì khó, chẳng tin tự
tâm
là Phật thì dễ, vậy cái lý cao tột ở chỗ nào? Lời
này hãy gác lại, cũng như Bàng Cư Sĩ nói : “Khó, khó, mười
giạ hạt mè bày ra trên cây”, Bà Bàng nói : “Dễ, dễ, ý Tổ
trên đầu trăm cỏ”. Linh Chiếu nói : “Chẳng khó cũng chẳng
dễ, đói thì ăn cơm, mệt thì ngủ”. Chỗ này nếu phân biệt
được 3 cái lưỡi hay dỡ của họ, thì sự khó dễ có thể
ngay đó lãnh hội. Nếu không, dẫu cho ngươi hiểu theo lời
nói
, nói “chẳng dễ chẳng khó”, đâu khác gì con lừa mù muốn
đuổi kịp theo bầy, vừa bước chân đã không có đường
để đi rồi.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Bày mè trên cây, mệt thì ngủ,

Nói “đầu trăm cỏ” của ý
Tổ.

Ba người đều là không có
mắt,

Mò rào mò vách lúc nào thôi.

32. TIỂU KIẾN
HỔ NGHI, CHUYỂN CẤP CHUYỂN TRÌ

DỊCH

Sự thấy nhỏ hẹp có chút
hồ nghi, muốn gấp lại càng trễ.

LỜI KHAI THỊ

Chuyển tự kỷ vào sơn hà,
trâu sắt chìm đầm to; chuyển sơn hà vào tự kỷ, voi già
lún bùn sâu. Tự kỷ sơn hà ném bỏ một lượt, lò rèn các
nơi không thể thiết lập. Có thiết lập, chẳng khác nắm
tay dọa trẻ con.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “TIỂU KIẾN HỔ
NGHI, CHUYỂN CẤP CHUYỂN TRÌ”, người nghĩa giải cho rằng
: Tất cả chúng sanh, từ trước khi kiếp-không (chưa có trời
đất) đã cùng tam thế chư Phật đồng thành chánh giác, vốn
chẳng thiếu kém, vì tâm này không rõ, tự rơi vào ngu mê
mà chẳng biết. Thế nên, chư Phật chư Tổ dùng trăm ngàn
phương tiện dẫn dắt khích lệ, khiến họ ngộ nhập. Sở
nói : “Vì một đại sự nhân duyênxuất hiện trên đời”,
là việc này vậy. Bởi do người chẳng tin tự tâm là Phật
mà muốn tìm cầu ở ngoài tâm, cho nên bị quở là TIỂU KIẾN.
Phải biết tâm này vốn sẳn đầy đủ, nói là “mau được
thành Bồ Đề” đã thành lời thừa, thật ra đâu có sự mau
hay trễ ư!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Thế thì, hiện nay gọi cái
gì là Phật? Nếu chỉ bày không ra, bệnh ở chỗ nào?

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Trời há cho ngồi đáy giếng
dòm,

Tận cùng sức thấy cũng thành
nghi.

Trở mình nhảy ra ngoài
không
,

Nhướng mày mở mắt đã trễ
rồi.

33. CHẤP CHI THẤT
ĐỘ, TẤT NHẬP TÀ LỘ

DỊCH

Chấp thật thì lạc mất tông
chỉ
, ắt phải rơi vào đường tà.

LỜI KHAI THỊ

Núi vô trùng số (bất nhị),
nước vô trùng số, Thiện Tài ở trong tiếng khảy móng tay
thấy lầu các của Ngài Di Lặc cũng vô trùng số, Chơn nhân
Vô-Địa-Vị giữa đường gặp thấy việc bất bình, dùng
cây gậy gạch một gạch trên không, mười vạn tám ngàn đường
lối nắm gom một lượt, rồi quày đầu lại hét to rằng
: “Tình xuyên lịch lịch hán dương thọ, phương thảo thê
thê Anh-Võ-Châu”.

(Cỏ non biêng biếc đảo Anh-Võ,

Nắng dọi Trường Giang cây
Hán Dương).

Vì sao như thế? há chẳng thấy
Tổ Sư nói: “CHẤP CHI THẤT ĐỘ, TẤT NHẬP TÀ LỘ”.

LỜI NGHĨA GIẢI

Gần đây có một số người
ở vào địa vị làm thầy, thấy người nói “Khán thoại đầu
của cổ nhân, làm công phu miên mật, chẳng uổng phí thời
gian
để tham cứu việc mình”, liền dẫn chứng hai câu này
để bài xích, đối với “CHẤP CHI THẤT ĐỘ”, cho là Phật
Pháp
đâu có việc này, bởi tất cả sẳn sàng, sao chẳng
tự nhận lấy? Lại cố làm bộ điệu của người chết làm
chi!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Nói thế cũng đúng, nhưng không
xét đến nguồn gốc, chẳng biết ý Tổ Sư là trách cái chấp
sau khi ngộ. Há chẳng thấy Phật Nhãn nói : “Có một hạng
người cỡi lừa tìm lừa, lại có hạng người biết được
là lừa rồi mà cứ cỡi mãi không chịu xuống”, chính là
nói hạng người này chấp lý đã ngộ mà chưa thể quên.
Bên ngoài chấp pháp sở ngộ, bên trong chấp tâm năng ngộ,
cổ nhân quở là pháp trần, cũng là gai gốc tri kiến. Cho
nên Dược Sơn nói vừa có sở trọng, liền thành hang ổ,
đều là chấp lý đã ngộ, khiến cho lý ngộ chẳng quên,
cho là thật có việc này. Do thấy pháp chẳng viên thông, thành
sở chấp của ngoại đạo. Đang mê mà cầu ngộ thì dễ,
đã ngộ muốn quên lý thì khó, nếu không gặp bậc đạo
chơn chánh thẳng tay gông cùm tay chân, đánh đập thống
thiết
, thì rốt cuộc không thể đến chỗ tự thôi nghỉ.
Đối với thuyết này, ông có vừa lòng chăng?

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Chấp tâm chưa hết hoa thường
rụng,

Thắt kết đã trừ, quả không
xa.

Cứ theo đường tà đi khi trước,

Quày đầu mới thấy mình trần
truồng.

34. PHÓNG CHI TỰ
NHIÊN
, THỂ VÔ KHỨ TRỤ

 
 

DỊCH

Buông thì bản thểtự nhiên,
vốn chẳng có đi và ở. (Buông : vô trụ).

LỜI KHAI THỊ

Cơ xảo hướng thượng, câu
chuyển ngữcuối cùng, cửa đã mở sẳn. Lòng từ của chư
Tổ luôn luôn nhắc nhở hành giảtham thiền ngay đó liền
ngộ. Trăng nửa đêm chiếu trên cành hoa mai; ngộ được cứ
ngộ, rạng đông say rượu cỡi chim loan. Không cho là Phật
pháp
cao siêu, cũng không cho là phổ biếnviệc đời, vậy
rốt cuộc như thế nào? Chẳng thấy Tổ Sư nói : “PHÓNG CHI
TỰ NHIÊN, THỂ VÔ KHỨ TRỤ” hay sao!

LỜI NGHĨA GIẢI

Người nghĩa giải cho rằng
: Tâm chấp đã trừ, tự nhiêntự dotự tại, chẳng chướng
chẳng ngại mà động như mây bay, tịnh như cốc thần, đã
vô tâm đối với này nọ, thì đâu có phân biệt đi ở? Kinh
Viên Giác nói : “Bất cứ lúc nào, chẳng khởi vọng niệm,
đối với vọng tâm, cũng chẳng ngưng nghỉ, trụ nơi cảnh
vọng, không cần hiểu biết, nơi không hiểu biết cũng chẳng
cho là chơn thật không hiểu biết”. Được như thế thì gần
với đạo rồi, nghĩa là tình chấp thánh phàm đều sạch,
thì bản thể chơn thường hiển lộ, tuyệt hẳn cảnh duyênhư vọng, tức là như nhưchơn Phật.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Chửi nhau cho ngươi tạt nước
cũng được, nếu đối với ý Tổ Sư, dẫu cho ngươi đem
tất cả Đại Tạng kinh điển đều mửa ra, cũng chỉ thành
nghiệp thứcmênh mông mà thôi.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Kiến văn giác tri đều bỏ
hết,

Vốn chẳng tự nhiên lại tự
nhiên
.

Ông đi nước Tần, ta nước
Lỗ,

Đỉnh đầu ai chẳng đội
trời xanh.

35. NHẬM TÁNH HỢP ĐẠO,
TIÊU DAO TUYỆT NÃO

DỊCH

Tự tánh là đạo, vốn chẳng
phiền não.

LỜI KHAI THỊ

Bùi Tướng Quốc (Bùi Hưu)
ôm Phật đến xin đặt tên, Đường Trang Tông đắc được
một báu vật ở Trung Quốc, vua chẳng bị địa vị cao cả
dời đổi, Thần chẳng bị việc khắp nước nhiễu loạn.
Nạp tăng tham thiền giẫm bước khắp mười phương, hình
thể chẳng bị vật gì trói buộc, lâu ngày chày tháng ngồi
tại chỗ vô sự, vì sao lại chẳng thể đúng như tự tánh?
Do cái gì làm chướng ngại?

Năm năm khô héo rừng Bát Nhã,

Năm năm tăng trưởng cỏ
minh
.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “NHẬM TÁNH HỢP
ĐẠO, TIÊU DAO TUYỆT NÃO”, người nghĩa giải cho rằng : Người
Tâm-Không thi đậu tánh chẳng cần nhậm (mặc kệ) mà tự
nhậm, đạo chẳng cần hợp mà tự hợp, tự do như mây ra
trên núi, tự tại như trăng đi trên không, trong Đại-Viên-Cảnh
(tự tánh) có ai chẳng phải vậy?

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Phật Ấn Nguyên Hòa Thượng
nói : “Cái cảnh đã ngộ khó nói cho người chưa ngộ hiểu,
như với người mù bẩm sinh, nói cho biếtmặt trờisáng
tỏ
, họ dù nghe mà chẳng thể biết được”. Hay người chưa
từng buông tay nhào xuống vực thẳm (chưa từng ngộ), mà
lại dùng lời “NHẬM TÁNH HỢP ĐẠO” để dẫn chứng, thì
cũng như người đói nói ăn mà không ăn, lại tự nói “đã
no”, há chẳng phải là dối người ư?

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Mặc cho pháp tánh tự hợp
đạo,

Bệnh của Tâm Vương càng khó
lành.

Lại muốn cầu cho tuyệt phiền
não
,

Ba trăm roi sắt chưa phải nhiều.

36. HỆ NIỆM QUAI CHƠN, HÔN
TRẦM
BẤT HẢO

DỊCH

Nổi niệm thì bị niệm buộc,
thành trái với chơn không niệm thì hôn trầm chẳng tốt.

LỜI KHAI THỊ

Đại Tạnggiáo điển là sợi
dây xích chân, thân vàng trượng sáu (Thân Phật) là một cọng
cỏ. Một tiếng hét điếc tai ba ngày của Bá Trượng, một
giỏ trầu trút ra của Ngưỡng Sơn. Những lời nói này là
miểng ngói hay là châu báu? Nếu ông nói “câu PHẢI cũng quét,
câu CHẲNG PHẢI cũng quét; chính là ăn táo mà nuốt hột.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “HỆ NIỆM QUAI CHƠN,
HÔN TRẦM BẤT HẢO”, người nghĩa giảidẫn chứng trong kinh
nói “Tâm chẳng bị đạo trói, cũng chẳng gây nghiệp, ấy
là người đắc đạo”. Hoặc dẫn chứng lời Đức Sơn nói
“Mảy may hệ niệmnghiệp nhân tam đồ”, còn nói : “Hành
giả tham cứu, vừa có mảy may tình chấp mê ngộ, thánh, phàm,
thì bị tri kiếnmê ngộ thánh, phàm làm mù”, cần phải một
vật chẳng dính mắc muôn duyên đều tẩy sạch, mới có thể
hợp với chỗ thấy của Cổ nhân.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Đừng phỉ bángcổ nhân nhé!
Cổ nhân nói với ông : “HỆ NIỆM QUAI CHƠN”, nhưng chính cái
“một vật chẳng dính mắc” đã là QUAI CHƠN, tức là bị niệm
trói rồi.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Hệ niệm trái chơn, chơn chẳng
trái,

Hôn trầm chẳng tốt, tốt
nơi nào?

Thùng sơn cứng chắc không
lủng đáy (Chưa ngộ),

Thai trâu bụng ngựa đợi ông
vào.

37. BẤT HẢO LAO THẦN, HÀ DỤNG
SƠ THÂN

DỊCH

Tốt xấu không nên nhọc tinh
thần
, đâu cần phân biệt sơ hay thân.

LỜI KHAI THỊ

Triệu Châukhám phá rồi, thủy
ngân không giả, Vân Mônlỡ lời rồi, A ngùy (phẩn người)
chẳng chơn. Tham thiền không linh nghiệm, đụng đâu mê đó,
sự thấy là cái gai góc trong mắt, việc nghe là cái bệnh
của lỗ tai. Ủa! có việc như thế ư? Chỉ cần nói với
họ : Ngẩng mặt ngó ngoài trời, xem ai ló đầu ra?

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “BẤT HẢO LAO
THẦN, HÀ DỤNG SƠ THÂN, người nghĩa giải cho rằng : Do HỆ
NIỆM
thì trái với Chơn, đã trái với Chơn thì lao nhọc tinh
thần
, vì nhọc tinh thần ắt phân biệt sơ thân. Phải biết,
HỆ NIỆM là cái nhân của sơ thân, SƠ THÂN là cái quả của
hệ niệm. Tổ Sư nói hai chữ “KHÔNG CẦN” cũng như việc tự
cắn rốn vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Lời nói này như theo hình mèo
mà vẽ con mèo, đại khái vẽ ra cũng giống, nhưng chuột chết
còn chẳng thể bắt được, huống là chuột sống ư? Nếu
chẳng đích thân một dao cắt dứt mạng căn (chơn tham thật
ngộ), thì những lời trên chỉ giúp cho việc luận đàm
thôi.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Tốt xấu chẳng nên nhọc tinh
thần
,

Dùng hết tinh thần càng chẳng
thân.

Đâu bằng kẻ ngốc nơi thôn
dã,

Ăn no nằm dài hợp thiên chơn.

38. DỤC THỦNHẤT THỪA, VẬT
LỤC TRẦN

DỊCH

Muốn chứng lấy Nhất Phật
Thừa
, chớ nên chán ghétlục trần.

LỜI KHAI THỊ

Mắt là quang minhpháp thân,
tai là âm thanhpháp thân, mũi là trang nghiêm hương pháp thân,
lưỡi là thanh tịnh vị pháp thân, thân là phổ giácpháp
thân
, ý là liễu tripháp thân, đầy đủ sáu nghìn công đức,
thành tựu Nhất-thiết-chủng-trí. Nhưng lúc tứ đại phân
tán, xương thịt tan rã, lục căn đều biến diệt, vậy pháp
thân
đặt ở chỗ nào?

Việc buồn chớ kể với người
buồn,

Kể với người buồn, buồn
chết đi!

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “DỤC THỦ NHẤT
THỪA, VẬT Ố LỤC TRẦN”, người nghĩa giải cho rằng : NHẤT
THỪA
là biệt danh của tự tâm, lục trần, lục thức, lục
căn
biệt hiệu của tự tâm, đâu có thể chứng nhất
thừa
mà ghét lục trần! Thế thì giống như yêu tay chân mà
bỏ vai lưng vậy. Phải biết, Ngộ tâm này thì lục trần
tức là nhất thừa, mê tâm này thì nhất thừa tức là lục
trần
. Bùi Tướng Quốc nói : “Nghịch nó tức phàm, thuận
nó tức thánh”. Kinh Lăng Nghiêm nói : “A Nan, ngươi muốn biết
cái câu sinhvô minh, là gốc thắt kết khiến ngươi luân hồi
trong sanh tử ấy, chính là lục căn của ngươi chứ chẳng
phải vật khác. Ngươi lại muốn biết đạo vô thượng Bồ
Đề
khiến ngươi mau chứng quảtự tạigiải thoát, tịch
lặng thường trụ ấy, cũng chính là lục căn của ngươi
chứ chẳng phải vật khác”.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Lý giải cũng giống như rất
đúng, nhưng cần phải biết : Nhất thừahư vọng, lục
trần
phỉ báng, ngoài hai lỗi này, còn tránh khỏi được
vọng và báng hay không?

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Sắc, thanh, hương, vị và xúc
pháp,

Lục trầnxưa nay hợp nhất
thừa
.

Tình chấp lấy bỏ còn chưa
dứt,

Lại nơi đất bằng nỗi sóng
to.

39. LỤC TRẦN BẤT Ố, HOÀN
ĐỔNG CHÁNH GIÁC

DỊCH

Chẳng cho lục trần là tốt
hay xấu, thì đồng như chánh giác.

LỜI KHAI THỊ

“Ông Chủ!”, Dạ, dạ, dạ!.
Có đường chẳng đi, không dây tự trói. Nói “Lục trần là
phải thì trái với chơn, nói lục trần là chẳng phải lại
thành lỗi lầm lớn”. Lầm thì lầm, một cọng cỏ hiện thânvàng ròng, đảo ngược cỡi hạc bay lên trời.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “LỤC TRẦN BẤT
Ố, HOÀN ĐỔNG CHÁNH GIÁC”, người nghĩa giải cho rằng : Chẳng
lục trần, cũng chẳng có chánh giác, đều chỉ là diệu
tâm
sáng tỏ. Gọi là lục trần cũng được, gọi là chánh
giác
cũng được. Ông nếu ở nơi diệu tâmsáng tỏ này có
chỗ không rõ, thì gọi là chánh giác cũng không rõ, đâu có
việc gì khác? Chỉ cái rõ và không rõ này, khiến Phật Tổ
nhọc lưỡi mỏi miệng phân ra những điều hơn kém, đều
do chẳng tin tự tâm mà ra.

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Xưa có một tú tài, thi cử
nhiều lần không đậu, bèn đốt bỏ bút mực, làm l bài thơ
“Trở về quê”, chê bai công danh như đàm dãi. Nhưng đến kỳ
thi năm tới, vẫn đi vào trường thi như cũ. Người nói lời
này cũng chẳng khác như vậy.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Chẳng ghét lục trần đồng
chánh giác,

Đường vào cửa thiền vẫn
xa xôi.

Cần phải ra tay bắt hư không,

Phật cùng chúng sanh chôn một
hầm.

40. TRÍ GIẢVÔ VI, NGU NHÂN
TỰ PHƯỢC

DỊCH

Người trí tự tạivô tác,
kẻ ngu dụng tâm tự trói.

LỜI KHAI THỊ

“Dời chỗ gồ để lấp chỗ
trũng, cắt cái dài để nối cái ngắn”, Trang Tử nói lời
này tự cho là rất đúng, nhưng kiểm điểm lại, chỉ là
tự sanh tính toán, so đo phân biệt. Duy có Mộc thượng tọa
(tích trượng) chẳng tốt xấu, cũng chẳng đúng sai, toàn
thân
chỉ là đen thùi lùi, suốt năm dựa bên gốc thiền sàng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “TRÍ GIẢ VÔ VI,
NGU NHÂN TỰ PHƯỢC”, người nghĩa giải cho rằng : Trí chẳng
tự trí, do ngộ mà trí : ngu chẳng tự ngu, do mê mà ngu. Người
trí ngộ tự tâm, tâm ngộ vốn vô tác, kẻ ngu mê tự tâm,
tâm mê còn tự trói. Phải biết, cái vô tác của người ngộ,
Quỷ thần trời đất cũng chẳng thể khiến cho họ tác;
cái tự trói của kẻ mê, dù muôn hiền ngàn thánh cũng chẳng
thể mở trói cho họ. Vậy trí và ngu đều do tâm tạo, đâu
phải vật bên ngoài mà làm được!

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Chỉ thấy đầu dùi nhọn,
chẳng thấy đầu đục vuông. Tại sao? Phải biết vô tác
tức tự trói, tự trói tức vô tác. Nếu cho quả thật
hai lối, thì cách Tổ Sư quá xa rồi.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Kẻ ngu tự trói cần phải
mở,

Người trí vô tác trói chặt
thêm.

Chẳng dùng dao kiếm đã cắt
dứt,

Vì thương đồng tử mất thiên
chơn.

41. PHÁP VÔ DỊ PHÁP, VỌNG
TỰ ÁI TRƯỚC

DỊCH

Pháp chẳng là pháp, vọng tự
chấp trước cho là pháp.

LỜI KHAI THỊ

Toàn thân là bệnh, toàn thân
là thuốc, suy nghĩ chẳng đến, thoáng qua trước mặt. Thuốc
tức là bệnh, bệnh tức là thuốc, trong hư không dễ nhào
lộn, áo vải Thanh Châu khó mặc. Cũng chẳng bệnh, cũng chẳng
thuốc, vạn tượng sum la một cục sắt, con lừa Dương Kỳ
ba cái chân.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “PHÁP VÔ DỊ PHÁP,
VỌNG TỰ ÁI TRƯỚC”, người nghĩa giải cho rằng : Trúc xanh
biêng biếc đều là Chơn-như, Hoa vàng ngào ngạt đều là
Bát Nhã, tất cả thanh, sắc trong hư khôngpháp giới, tìm
một tướng đồng bất khả đắc, tìm một tướng dị cũng
bất khả đắc, lìa 2 lối đồng dị này cũng bất khả đắc.
Than ôi! Người chẳng rõ lý này, chấp Phật thì bị Phật
ngại, chấp pháp thì bị pháp ngại, vậy chấp Phật pháp
còn bị chướng ngại, huống là chấp những thứ khác ư!

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Pháp nếu có khác thì chấp
trước
mới có khác, Pháp đã chẳng khác thì chấp trước
cũng chẳng khác, vì sao lại nói VỌNG TỰ CHẤP TRƯỚC ? Chỗ
này nhìn Tổ Sư không ra, thì những lời trước đều là
luận
.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Pháp chẳng có khác, thể vốn
đồng,

Thể đồng đâu có pháp hoằng
dương?

Đạt Ma chín năm chỉ hướng
vách,

Chẳng biết lấy gì truyền
gia phong.

42. TƯƠNG TÂM DỤNG TÂM,
KHỞI PHI ĐẠI THỐ

DỊCH

Đem tâm dụng tâm, há chẳng
phải lầm lớn.

LỜI KHAI THỊ

Tâm, tâm, tâm, khó mò nắm.
Ông già Thích Ca, 49 năm nói vuông nói tròn, hoặc tiểu hoặc
đại, chú giải chẳng được, sau cùng niêm hoathị chúng,
chính là đem tâm dụng tâm, cũng khó tránh khỏi cái “Há chẳng
lầm lớn” này. Đến đây việc đã là bất đắc dĩ, tạm
đem cái chánh pháp nhãn tạng, Niết bàndiệu tâm để che
lấp
lỗi lầm.

LỜI NGHĨA GIẢI

Người nghĩa giải cho rằng
: Ông muốn thành Phật là đem tâm dụng tâm, muốn làm Tổ
là đem tâm dụng tâm, cho đến muốn thoát sanh tử, trụ Niết
Bàn
, chứng Bồ Đề, dứt phiền não v.v… đều chẳng ra ngoài
“ĐEM TÂM DỤNG TÂM”.

TỊCH NGHĨA GIẢI

Tuy vậy, cũng chỉ nói được
một nửa. Phải biết, tâm thể rộng lớn, chẳng thể hạn
lượng, ngay đó như đống lửa lớn, đụng vào liền đốt,
chạm nhằm liền cháy. Dẫu cho ông chẳng muốn thành Phật
làm Tổ v.v… cũng ra khỏi cái “ĐEM TÂM DỤNG TÂM” chẳng được.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Tức Phật là tâm, tâm là Phật,

Ngay chỗ thừa nhận đã trái
xa.

Ca Diếp mĩm cười trước niêm
hoa
,

Vô sự khi không bày đặt ra.

43. MÊ SANH TỊCH LOẠN, NGỘ
VÔ HẢO Ố

DỊCH

Mê sanh tịch lặng và tán loạn,
ngộ chẳng tốt, xấu, yêu, ghét.

LỜI KHAI THỊ

Lúc mê là mê cái ngộ, lúc
ngộ là ngộ cái mê, mê ngộ cả hai đều quên, đập vỡ
cái vỏ vô minh. Vô minh đã tan, mê ngộ cũng hết, vậy hai
lối này còn đặt ở chỗ nào? Gỏ cửa dùng ngói, gạch,
mặc cho y suy lường.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “MÊ SANH TỊCH LOẠN,
NGỘ VÔ HẢO Ố”, người nghĩa giải cho rằng : Bản thể chơn
tịch, tất cả chẳng còn. Kinh Lăng Nghiêm nói : “Vô lậu chơn
tịnh, tại sao trong đó lại có thể dung nạp vật khác? Người
chưa ngộ lý này, trước mắt chẳng thấy tịch thì thấy
loạn, chẳng thấy động thì thấy tịnh, chẳng biết động
cũng là mê, loạn cũng là mê, tịch cũng là mê, cho đến thấy
mình ngay đó thành Phật cũng là mê. Hễ thấu rõ được cái
tâm mê này thì ngay đó giải thoát, mỗi mỗi thiên chơn, mỗi
mỗi minh diệu. đã chẳng thấy loạn, cũng chẳng biết tịch
nhị biên đều lìa, trung đạo chẳng lập, thì đâu còn tình
chấp tốt xấu để làm chướng ngại ư!

TỊCH NGHĨA GIẢI,
RẰNG

Nói lời nầy rất gần rồi,
nhưng mê từ đâu đến, ngộ do đâu khởi? Nếu biết được
chỗ đến chỗ khởi, chẳng cần trừ mê, cả cái ngộ kia
cũng không chỗ đặt để, nếu không, cứ đem cái mê cái
ngộ theo tánh phân biệt, rốt cuộc chỉ tăng thêm bệnh kiến
chấp
mà thôi.

KỆ KẾT THÚC,
RẰNG

Xưa naythiên hạ ai từng ngộ?

Không ngộ làm sao nói có mê?

Bỗng nhớ Ôn Châu ngài Vĩnh
Gia
,

Cớ gì một đêm ngủ Tào Khê.

44. NHẤT THIẾTNHỊ BIÊN, LƯƠNG DO CHÂM CHƯỚC

DỊCH

Tất cả nhị biênđối đãi
đều do đo lường suy toán.

LỜI KHAI THỊ

Mở miệng nói nhằm, cất bước
đạp phải, tất cả đều sẳn sàng, chẳng tin hãy hành cước.
Đợi y đi tới đường cùng, chẳng chỗ ở đậu, áo rách
giày lủng, khi ấy xỏ mũi kéo quày đầu (ngộ), mới tin xưa
nay
uổng công tìm.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “NHẤT THIẾT NHỊ
BIÊN
, LƯƠNG DO CHÂM CHƯỚC”. Có người bày đặt chú giải
rằng : Vừa thấy có loạn liền thấy có tịch. Phải biết
loạn chẳng tự loạn, vì tịch nên loạn; tịch chẳng tự
tịch, vì loạn nên tịch, do đó các pháp lăng xăng, mới có
sự đối đãi nhau sanh khởi. Nói 2 chữ “CHÂM CHƯỚC” nghĩa
cũng giống như 2 chữ “GIẢN TRẠCH” ở đầu bài MINH, vì tình
thức “GIẢN TRẠCH” chưa tiêu, thì đối với nhị biên tịch
loạn v.v…, kết thành cái niệm “CHÂM CHƯỚC”. Nếu chưa trừ
được niệm này thì tất cả chẳng được bất nhị vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Thế thì cái niệm “CHÂM CHƯỚC”
phương tiện nào để trừ? Nếu chẳng biết phương tiện
gì, thì lời ông nói ở trên cũng là do CHÂM CHƯỚC sanh khởi.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Nhị biên vốn chẳng cần châm
chước,

Một đạo bình đẳng cũng
vọng truyền.

Gặp việc chưa thoát ngoài
ngôn ngữ,

Kiến đồng Phật Tổ cũng
xót thương.

45. MỘNG HUYỄNKHÔNG HOA, HÀ LAO BẢ TRÓC

DỊCH

Việc mộng huyễn như hoa đốm
trên không, đâu cần nắm bắt cho mệt nhọc!

LỜI KHAI THỊ

Mai rùa đen (vô minh), bụng
trống
rổng, trái cân sắt (tự tánh), thật cứng chắc. Chỉ
có Mộc thượng tọa, chẳng bị người xuyên tạc, sáng cưỡi
trâu Thiểm Phủ, chiều cưỡi hạc Dương Châu.

Có khi ban ngày chạy về nhà,

Khi gõ hư không tự vấn đáp.

Khúc hát “Về Quê” tiếng chưa
dứt,

Mây bay chân trời lặn ngôi
sao.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “MỘNG HUYỄN KHÔNG
HOA
, HÀ LAO BẢ TRÓC”, người nghĩa giảidẫn chứng trong kinh
nói : “Tất cả Pháp hữu vi, như mộng huyễn, bọt, bóng, như
sương lộ, điện chớp, nên tác quán như thế”. Còn dẫn chứng
Ngài Vĩnh Gia nói : “Buông tứ đại, chớ nắm bắt, trong tánh
tịch diệt cứ ăn uống, các hạnh vô thường tất cả không,
tức là Như Lai Đại Viên Giác”, bèn mặc tình phan duyên, tùy
ý
tạo tác cho đến hủy phạm giới cấm, phá hoạiluật
nghi
, đều lấy 2 lời này để dẫn chứng.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Nhưng chẳng biết ngay lúc buông
lung
tình ý, quả thật thấy những cảnh sở duyên như mộng
huyễn
không hoa hay không? Nếu thấy là không hoa thì chẳng
nên đeo đuổi. Nếu trong lòng còn giữ một mảy mayphan duyên
đeo đuổi thì chẳng thể cho là mộng huyễnkhông hoa rồi.
Phải biết, thành Phật làm Tổ cũng là mộng huyễnkhông
hoa
. Ngoài ra đâu còn cái gì chẳng phải mộng huyễn! Lại
càng nên biết, ngay cái thuyết “HÀ LAO BẢ TRÓC” đã là rơi
vào mộng huyễn rồi. Việc này nếu chẳng đích thân chứng
ngộ, mà chỉ muốn tùy theongữ ngôn lý giải, thì chẳng
phải ngu là gì?

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Thích Ca nửa đêm thấy ngôi
sao,

Cùng hiện bóng nghiệp trước
Gương Đài.

Làm thành một thứ mộng điên
đảo
,

Chẳng biết ai là đắc tiện
nghi
.

46. ĐẮC THẤTTHỊ PHI, NHẤT THỜI PHÓNG KHƯỚC

DỊCH

Đắc, thất, thị, phi, đồng
thời
buông bỏ.

LỜI KHAI THỊ

Tuyết Phong ném banh gỗ, Phổ
Hóa
rung chuông sắt, dù nói là đại cơ đại dụng, rốt cuộctrở thành tạo tác, đâu bằng Vương Thái Phó ở trong quốc
độ
vô sanh, cũng chẳng thiện, cũng chẳng ác, mặc tình ăn
no nằm dài ngủ, tùy ýtự tạian lạc, có người đến hỏi
Tổ Sư Thiền, bảo y cứ xem cây phướn vàng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói “ĐẮC THẤT THỊ
PHI
, NHẤT THỜI PHÓNG KHƯỚC”, người nghĩa giải cho rằng
: Trong Nhất Pháp giới chẳng đắc cũng chẳng thất, chẳng
thị cũng chẳng phi, chỉ vì vọng tình chợt khởi, dị kiến
liền sanh, ở nơi chẳng đắc thất bừng khởi đắc thất,
ở nơi chẳng thị phi nổi đủ thứ thị phi. Do đó, Tổ Sư
bảo y “đồng thời buông bỏ”, đã là tự chạm dao bén làm
cho đứt tay, đất bằng dậy sóng rồi. Đã biết xưa nay vốn
không, thì buông bỏ cái gì? Nếu nói có cái lý “có thể buông
bỏ
, thì đắc, thất, thị phi đặt để ở chỗ nào?

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Ủa! nói “có thể buông bỏ”
cũng đáng ăn gậy, nói “không thể buông bỏ” cũng đáng ăn
gậy. Tại sao? Vì ông chưa thoát khỏi được đắc thấtthị
phi
vậy.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Hai tay xòe ra chẳng một việc,

Thị phiđắc thất thảy đều
quăng.

Muốn đem cái này thoát sanh
tử
,

Con rắn siết chặt đôi chân
ông.

47. NHÃN NHƯỢC
BẤT THÙY, CHƯ MỘNG TỰ TRỪ

DỊCH

Mắt nếu chẳng ngủ, chiêm
bao
tự dứt.

LỜI KHAI THỊ

Quanh nămngồi kiết già, suốt
ngày miệng như câm, hai mắt ngó trên vách, chẳng biết mong
muốn gì. Tham cứu tự kỷ, nửa nghi nửa tin, xem lời cổ
nhân
, tợ có tợ không. Đến lúc năm cùng tháng tận, trở
thành
leo cây bắt cá.

Đâu bằng quét sạch cả
không
,

Trong lòng ló ra dạ Minh Châu.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “NHÃN NHƯỢC BẤT
THÙY, CHƯ MỘNG TỰ TRỪ”, người nghĩa giải cho rằng : Hai
câu này là dụ trước hợp sau. Như người mở to đôi mắt,
rõ ràngtỉnh táo, thì hôn trầm tự trừ; đã chẳng hôn trầm
thì đâu có chiêm bao!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Nếu làm thí dụ thì được.
Nếu chẳng làm thí dụ, thì Tổ Sư cũng đáng ăn gậy. Tại
sao? Nay mở mắt đâu từng chẳng phải là chiêm bao!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Kim Cang chánh nhãn chưa từng
ngủ,

Chẳng biết mộng lớn bao giờ
thức.

Gởi lời thiền khách cửa
Tổ Sư,

Chớ cho Hạc hót là Oanh ca.

48. TÂM NHƯỢC
BẤT DỊ, VẠN PHÁP NHẤT NHƯ

DỊCH

Nếu tâm chẳng cho là có khác,
thì muôn pháp chỉ là một “NHƯ”.

LỜI KHAI THỊ

Chỗ hành của đạo nhân như
lửa tan băng, trước mặt của nạp tăng như băng dập lửa.
Ném bỏ hai thứ băng lửa, mặc cho thánh phàm cùng lối. Đạo
không tay vẽ bùa quỷ, Xà Lê mù mắt đọc kinh Phật. Lại
còn một chỗ đáng tin cậy : Tò vò nuốt cả Hồ Động Đình.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “TÂM NHƯỢC BẤT
DỊ, VẠN PHÁP NHẤT NHƯ”, người nghĩa giải cho rằng : Vạn
pháp
vốn như, do tâm mới thành khác. Ví như núi chẳng tự
cao, tâm cho là cao, nước chẳng tự sâu, tâm cho là sâu. Tâm
này cho là khác thì muôn ngàn sự vật đều thành khác. Cổ
và lưng vốn cùng một thân mà xem nó như 2 nước Sở và Việt,
anh em cùng giống nòi mà coi nhau như trời với đất. Vì sự
khác nên tình chí thân còn phải khác, huống là phàm với
thánh, người với vật. Muốn dung hợp thành một, chẳng sanh
yêu ghét này nọ, đâu có thể được!

Kinh nói : “Chưa đạt cảnh
duy tâm, khởi đủ thứ phân biệt”, như bọn mù mò voi, như
thấy bóng cung trong nước nghi là rắn… Ở nơi chẳng đồng
dị bừng khởi đồng dị. Cần phải trị hết bệnh nhặm,
chẳng thấy hoa đốm trên không, dung pháp giới về tâm này,
như gương soi gương; Chuyển núi sông vào tự kỷ, tợ không
hợp không. Đến đây các duyên tịch lặng, tâm niệm im lìm,
nhị kiến chẳng sanh, nhất pháp ấn định, mới có thể gọi
phù hợp ý Tổ, khế hội tâm Phật vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Lời này tạm gác qua một bên.
Nay trước mắt sáng, tối, thông, nghẽn, thành, trụ, hoại,
không, cảnh tượnglăng xăng, gọi cái gì là tâm bất dị?
Ngay đó chỉ bày không ra. Hoặc có người nói : “Mặc cho các
pháp hiển bày trước mắt, ta chỉ dùng cái lý “Bất dị”
để chiếu soi, tức là chẳng khác”. Ôi, nếu nói như thế,
lại càng thêm nhiều khác biệt nữa!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Tâm chẳng khác biệt đồng
vạn pháp,

Nắm tay chỉ thể dọa trẻ
con.

Cứ theo hình vẽ đồ cho giống,

Lừa gạt người đời khi nào
thôi.

49. NHẤT NHƯ
THỂ HUYỀN, NGỘT NHĨ VONG DUYÊN

DỊCH

Một chữ “NHƯ” thể tánhhuyền
diệu
, cùng tột bình đẳng, bặt nhân duyênđối đãi.

LỜI KHAI THỊ

Thiền, thiền, thiền, lìa lý
giải, Thích Ca chưa được một nửa, Đạt Ma còn thiếu tám
ngàn. Lâm Tế hét tới mỏi miệng, Đức Sơn đánh tới phồng
tay, mỗi mỗi kiểm điểm từ đầu, vẫn cách trời đất
xa xôi. Tiến tới như vạch sóng tìm nước, thối lui như đào
đất tìm trời, chẳng tiến chẳng lui cầu tương ưng, cần
phải
tham thêm ba mươi năm.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “NHẤT NHƯ THỂ
HUYỀN, NGỘT NHĨ VONG DUYÊN”, người nghĩa giải cho rằng :
Thể tánh của chữ “NHƯ” huyền diệu lại thêm huyền diệu,
chẳng vì nhân duyên mà có, chẳng do tự nhiên mà thành. Lìa
tứ cú, tuyệt bách phi, Phật nhãn chẳng thể thấy, thánh
tâm
cũng khó lường. Quăng đại thiên thế giới ra ngoài mười
phương
, cuốn chặt pháp giới thành một mảy lông. Một không
thì tất cả không, chẳng cần mổ xẻ; một có thì tất cả
có, đâu cần đào tạo. Trần sa chẳng thể dụ số nhiều,
hào ly chẳng thể dụ số ít. Nói “Bặt nhân duyên, tuyệt
đối
đãi”, tức là thể tánhhuyền diệu của một chữ NHƯ
vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Nói thì nói gần đúng, ngươi
nếu chứa lời nầy trong lòng, muốn tương ứng với thể
tánh
huyền diệu của chữ NHƯ, chẳng khác gì ôm lửa trong
lòng mà cầu cho đừng cháy.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Nói NHƯ ngoài NHƯ đâu còn
NHƯ?

Núi khe trùng điệp ẩn nhà
xưa.

Mặt trời lên cao ngủ mới
thức,

Nhàn thấy mục đồng cưỡi
ngược lừa.

5O. VẠN PHÁP TỀ QUÁN, QUI
PHỤC TỰ NHIÊN

DỊCH

Muôn pháp cùng quán một lượt,
tất cả trở vềtự nhiên.

LỜI KHAI THỊ

Phật pháp chẳng ở ngoài tâm,
thiền đạo đâu lìa trung đạonhị biên, ngươi nếu khởi
tâm
tìm cầu, lại xa thập vạn bát thiên. Có gì tam yếutam
huyền
, toàn thân chẳng hình bóng, ngay đó lìa ngữ ngôn.

Đạo nhân đâu cần cầutương
ưng
,

Xưa nay chưa từng chẳng hiện
tiền
.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “VẠN PHÁP TỀ
QUÁN, QUI PHỤC TỰ NHIÊN”, người nghĩa giảidẫn chứnggiáo
môn
nói : “Tùy duyên nên chơn nhưvạn pháp, bất biến
nên vạn pháp là chơn như”. Còn nói : “Ngoài tâm chẳng có
pháp để làm duyên với tâm vốn là tự tâm sanh, lại làm
tướng cho tâm”. Lời này so với cái lý “VẠN PHÁP TỀ QUÁN”
của Tổ Sư, cũng chẳng cách xa vậy. Hoặc nói : “TỀ QUÁN”
cũng là cái bóng của “chẳng lựa chọn”, nếu còn lựa chọn
thì chẳng thể TỀ QUÁN rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Dẫn chứng thì chẳng phải
không đúng. Như mặt trời mọc, mặt trăng lặn, ban đêm tối,
ban ngày sáng, rõ ràng chẳng thể lẫn lộn. Vậy thìđạo
gì để nói TỀ QUÁN? Lìa khỏi lời này, xin cho một tin
tức
tốt hơn thử xem!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Vạn Pháp làm sao khiến cho
bằng?

Đâu thể trở về lúc tự
nhiên
.

Xưa nay tri âm rất khó gặp,

Bá Nha, Tử kỳ đi đâu tìm.

51. DẪN KỲ SỞ
, BẤT KHẢ PHƯƠNG TỶ

DỊCH

Bặt hết lý giải, chẳng thể
thí dụ.

LỜI KHAI THỊ

“Cái trong điện, cái ngoài
tường” của Triệu Châu “Đánh xe đánh bò” của Mã Tổ, “Giơ
nắm tay, giơ ngón tay” của Câu Chi, “Ném ba trái banh gỗ” của
Tuyết Phong. “Gởi ba tờ giấy trắng” của Huyền Sa. Nói tánh
nói tâm nơi Linh Sơn, Nói da nói tủy nơi Thiếu Thất. Tào
Động
lập ngũ vị quân thần, Qui Ngưỡng lập cửa ThiềnCha Con, “Đầy mắt núi xanh” của Đức Thiều (Quốc Sư), “Nước
hồ trước cửa” của Vĩnh Minh… thả đi thì sáng khắp bầu
trời, chặn lại thì gió bay muôn dặm, trước lời không ngưng
cơ xảo, tiếng nói đâu cho chõ mỏ. Hứ! Tất cả đều là
mở mắt đái dầm, đốt nhang dẫn quỷ, tại sao vậy?

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “DẪN KỲ SỞ DĨ,
BẤT KHẢ PHƯƠNG TỶ”, người nghĩa giải cho rằng : Kinh Bát
Nhã
dùng 100 dụ để dụ Bát Nhã, có kinh khác cũng dùng 100
dụ để dụ giải thoát; còn có người dùng 100 dụ để dụ
tâm Bồ Đề, ghi đủ trong kinh sách, đâu có cái lý “Chẳng
thể thí dụ”? Phải biết, Bát Nhã, giải thoát, Bồ Đề thì
có thể thí dụ, giả sử bỏ hết tất cả danh tướng, thì
nhất tâm đều bặt. Ngay khi ấy, còn lập được thí dụ
gì chăng? Hoặc theo người xưa nói : “Cò trắng với tuyết
chẳng đồng sắc, ánh trăng hoa lau chẳng giống nhau”, lời
này há chẳng phải thí dụ ư?

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Ông muốn ở nơi tuyết trắng
hoa lau tìm đạo lý, chẳng khác gì nhận màu đỏ của vỏ
quít cho là lửa!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Diễn tảsừng thỏ dài 3 thước,

So với lông rùa ngắn l phân.

Lại có hạng người tánh hàm
hồ
,

Tai mắt dường như chẳng thấy
nghe.

52. CHE ĐỘNG
VÔ ĐỘNG, ĐỘNG CHE VÔ CHE

DỊCH

Ngưng động chẳng phải tịnh,
động ngưng cũng chẳng phải ngưng.

LỜI KHAI THỊ

Muôn toa xe đồng ray, muôn sự
việc đồng lý. Muôn dụng cụ đồng kim loại, muôn làn sóng
đồng chất nước. Vạn tượng sum la, thảy đều là ông.
Ông nếu không tin, hãy vào bụng của Thích Ca, Đạt Mađi
hành cước
trăm ngàn vòng, mới biết tất cả vẫn y như cũ.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “CHÆ ĐỘNG
ĐỘNG
, ĐỘNG CHÆ VÔ CHÆ”, người nghĩa giải cho rằng : Lòng
từ
bi thống thiết của Tổ Sư, đem hai bên động tịnh vò
thành một khối, nói trắng cho nghe, đại kháiđồng ý chỉ
của Pháp sưTăng Triệu nói “Tức tịnh mà động, tức động
mà tịnh”, cũng là ý chỉ “VẠN PHÁP TỀ QUÁN”. Chẳng những
động tịnh như thế, mà tất cả cảnh duyên cũng đều như
thế. Tức tịnh là động. Hoa rụng là do gió xuân đưa; tức
động là tịnh, băng tan cũng do mặt trời soi.

Người trí quán pháp chẳng
sai biệt,

Kẻ mê do đây khởi điên đảo.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Lời này tạm gác một bên!
Nếu như chẳng động chẳng tịnh, ngay khi ấy, còn có lý
lẽ gì để thảo luận hay không? Nói mau, nói mau!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Động tịnh mống khởi bệnh
liền sanh,

Nắm tay kéo nhau vào lửa hồng.

Con voi xưa nay vẫn như cũ,

Bọn mù mò mẫm thảy đều
sai.

53. “LƯỠNG KÝ
BẤT THÀNH, NHẤT HÀ HỮU NHĨ”

DỊCH

Hai đã chẳng thành, một làm
sao có.

LỜI KHAI THỊ

Biển Phật không bờ, sông
Thiền không đáy. Nước một thước, sóng một trượng, mãi
mãi
không thôi. Mã Tổ bảo Bàng Uẩn “một hớp hết nước
Tây Giang”; “Tào Nguyên một giọt nước” của Pháp Nhãn, “Câu
hết làn sóng” của Thuyền Tử, tất cả thị phi trước kia,
chỉ liên lụy cho Hứa Do phải rửa lỗ tai mà thôi. Nước
lớn đầy trời, ngập khắp muôn dặm.

Lúc xưa chẳng biết bít nguồn
suối,

Đến nay đất bằng nổi làn
sóng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “LƯỠNG KÝ BẤT
THÀNH, NHẤT HÀ HỮU NHĨ”, người nghĩa giải cho rằng : THỊ
chẳng phi không thị, PHI chẳng thị không phi, vừa thấy có
thị, trước đã có phi, vừa thấy có phi, trước đã có thị.
Cho nên THỊ chẳng tự lập, PHI chẳng độc tồn, PHI là cội
của THỊ, THỊ là gốc của PHI. Cho đến chơn, vọng, ngộ,
mê, v.v… Tất cả đều vậy. Thế thì, cái hai của thị phi
đã trừ, cái nhất của trung đạo đâu còn! Tổ Sư đến
đây thật là mổ bụng thấy tâm, từ biquá lố rồi!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Nếu hai đã chẳng thành, một
cũng không có. Vậy còn có kẻ biết “chẳng thành” “không có”
chăng? Nếu nói “KHÔNG”, thì ai biết sự chẳng thành, không
có? Nếu nói “Có”, lại gọi là “KHÔNG CÓ” được chăng? Tổ
đến chỗ này, chỉ có phần đớ lưỡi.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Chẳng thả xuân về, xuân tự
về,

Vườn cây mỗi mỗi hiện xanh
tươi.

Bông tím hoa hồng biết đâu
kể,

Bươm bướm từng đôi bay khắp
nơi.

54. CỨU CÁNH
CÙNG CỰC, BẤT TỔN QUỶ TẮC

DỊCH

Cùng tột cứu cánh, chẳng
còn qui tắc.

LỜI KHAI THỊ

Mười tấc là thước, mười
thước là trượng. Bên Đông mặt trời mọc, bên Tây mặt
trời
lặn, hỏi khắp mọi người trong vô sốquốc độ,
có ai chẳng biết? Tại sao nói đến Tổ Sư Thiền, mỗi mỗi
ngơ ngác như vách sắt? Còn có câu “Mạc hậu lao quan” rất
khó hiểu, chẳng ai che dấu cùng đưa ra một lượt. Ấy là
cái gì? Thật là oan uổng!

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “CỨU CÁNH CÙNG
CỰC, BẤT TỔN QUỶ TẮC”, người nghĩa giải cho rằng :
không
, sắc tướng, lớn nhỏ, dài ngắn trong mười phươngpháp giới, tất cả đều là tự kỷ. Tùy chân bước, chẳng
rời điền địa của Tổ tông; tùy miệng nói, đều là chơn
lý của Cổ Phật. Cho đến ôm vợ mắng Thích Ca, say rượu
đánh Di Lặc, đều thành nhất hạnh tam muội, còn nói chi
khai, giá, trì, phạm v.v…? Nên Vĩnh Gia cũng nói: “Đại ngộ
chẳng kẹt nơi tiểu tiết”.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Thôi, thôi! Nói cũng nói được
quá rõ ràng, nhưng Diêm La Vương chỉ muốn bắt bọn nói những
lời này đến cho ăn gậy sắt. Việc này lợi hại ở chỗ
nào? Mọi người về nhà tự kiểm điểm xem.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Tùy tay đem ra tùy miệng bàn,

Phóng túngtung hoành kim chỉ
nam,

“CHẲNG CÒN QUI TẮC” lại giữ
niệm,

Tụ tánh bất nhị thành hai
ba.

55. KHẾ TÂM BÌNH
ĐẲNG, SỞ TÁC CÂU TỨC

DỊCH

Khế hợp bản tâm thì tất
cả bình đẳng, năng tác sở tác đều tự dứt.

LỜI KHAI THỊ

Voi chúa quày đầu nhìn,
tử
chụp ngược lại, Chơn chẳng che ngụy, khúc (co) chẳng
dấu trực (thẳng). Chỉ có tôn giả Kiều Trần Như suốt
năm tỉnh tọa, tỉnh tỉnh tịch tịch, cũng chẳng màng đến
tháng thiếu là 29, tháng đủ là 30, đêm khuya thi đậu tâm
không
, thấu qua gai gốc khắp trời.

Nhàn dạo ngoài đồng mở mắt
xem,

Hàn mai hoa nở tự tịch mịch.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “KHẾ TÂM BÌNH
ĐẲNG, SỞ TÁC CÂU TỨC”, người nghĩa giảidẫn chứng trong
kinh nói : “Pháp ấy bình đẳng, chẳng có cao thấp, ví như
thủy ngân rơi xuống đất, giọt lớn viên tròn lớn, giọt
nhỏ
viên tròn nhỏ, cả đại địa không có pháp nào chẳng tương
ưng
với tự tâm”. Lúc Như Laithành đạo, quán lại hạnh
nghiệp tu hành từ nhiều kiếp đều như mộng huyễn, chẳng
có kẻ làm, cũng chẳng có kẻ không làm. Cho nên nói : “Tu
tập phạn hạnh như hoa đốm trên không; tọa nơi đạo tràng
như bóng trăng dưới nước, hàng phục quân ma trong gương,
thành tựuPhật sự trong mộng”. Bởi do tâm này chưa thấu
rõ, ở nơi bình đẳng thấy bất bình đẳng, vì bất bình
đẳng
nên tất cả sở tác do đó sanh khởi vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Kinh Viên Giác nói : “Tánh vốn
bình đẳng, người bất bình đẳng nói là bình đẳng, đã
đáng ăn 30 gậy, còn dẫn chứng bao nhiêu tri giải, lại càng
thêm bất bình đẳng.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Đã đến quê nhà còn về đâu?

Nằm dài trong am nắng giọi
cao.

Trăm ngàn huyền diệu đều
quên mất,

Suốt ngày cửa mở chẳng ai
vào.

56. HỔ NGHI TỊNH
TẬN, CHÁNH TÍN ĐIỀU TRỰC

DỊCH

Hồ nghi dứt sạch, chánh tínvững chắc.

LỜI KHAI THỊ

Trâu cày cấy, chó giữ nhà,
mèo bắt chuột, ngựa kéo xe, thấy lửa biết cháy, thấy nước
biết ướt, tại sao đối với tự tâm, mỗi mỗi tối như
dầu hắc? Nơi nghi lại thêm nghi, nơi chấp chồng thêm chấp.
Chẳng cần nghi, cũng đừng chấp, ai biết muôn ngàn sai biệt
này, tất cả thánh hiền từ đây nhập.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “HỔ NGHI TỊNH
TẬN, CHÁNH TÍN ĐIỀU TRỰC”, người nghĩa giải cho rằng :
TIN có 2 thứ : Chánh tín và tà tín. Tin tự tâm là Phật, chẳng
cầu bên ngoài là chánh tín; chẳng tin tự tâm là Phật, khởi
tâm
tìm cầu bên ngoài, dù có làm việc lớn, đều gọi là
tà tín.

Phải biết, chánh tín cũng
có nghi : vì chưa chứng đắc nên phát nghi. Niệm nghi từ cạn
vào sâu, lâu ngày không lui sụt, bỗng nhiên niệm nghi bùng
nổ
, tất cả thấu rõ, gọi là đại ngộ. Nên biết ngộ
là quả của tín, tín là nhân của ngộ. Pháp sưTăng Triệu
nói:

“Quả chẳng gồm nhân, vì nhân
thành quả”. Thế thì, lúc TIN tức là lúc ngộ, lúc ngộ chẳng
khác lúc tin. Bài MINH gọi là TÍN TÂM, chính là ý này vậy.

Phải biết, người đại căn
khí
vừa nghe đề khởi, như gặp vật cũ, thấu rõ nơi tâm.
Quần áo có thể quên mặc, tánh mạng có thể xả bỏ, mà
muốn bảo người ấy bỏ chánh tín, dù chốc lát cũng chẳng
thể được. Nên cổ nhân nói : “Giả sử bánh xe lửa, xoay
chuyển đỉnh đầu tôi, cũng chẳng vì khổ này, làm mất
tâm Bồ Đề. “Cái niệm chánh tín nếu thật vững chắc như
thế, thì đâu có lẽ nào chẳng được thân chứng!

Ngoài ra, nếu do tà tín mà
sanh nghi, nghi mãi không thôi thì phải sanh khởikiến chấpđiên đảo, đuổi theo cảnh duyênhư vọng, ắt đọa địa
ngục vô gián
.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Phải thì phải, nếu như TIN
tức
là ngộ, thì ngộ phải lộn vào Nguồn Linh (tự tánh),
đã lộn vào Nguồn Linh, thì cái chữ TIN này, còn đặt để
ở chỗ nào? Nếu nói có chỗ để đặt thì xin chỉ ra xem!
Nếu không chỗ đặt, thì lời Tổ Sư cũng thành lời thừa
rồi.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Gốc tin chẳng chánh khởi hồ
nghi
,

Niệm nghi tan rã Chánh tín khởi.

Lời nóirõ ràng được tương
tự
,

Cách xa Tổ Đình như chân trời.

57. NHẤT THIẾT
BẤT LƯU, VÔ KHẢ KÝ ỨC

DỊCH

Tất cả chẳng lưu giữ thì
không thể ghi nhớ.

LỜI KHAI THỊ

Đại tâm rộng như hư không,
đại trí sáng như mặt trời, đại nghi như đống lửa hồng,
đại pháp như vách tường sắt. Bị Lâm Tế tận sức hét
cũng chẳng thối lui, bị Đức Sơn thẳng tay đánh cũng chẳng
chịu ngừng. Cây cột dây dưa dựng sâu chắc, leo quấn nhánh
dây không thôi dứt. Ở trong đó có một kẻ ló đầu ra nói
: “Đêm qua bị tôi nhổ tận gốc rồi”. Vậy, cây cột dây
dưa
đã nắm trong tay, tính đặt để ở chỗ nào?

Trước lời ngoài câu chẳng
biết chỗ,

Càng khiến đất bằng thêm
lồi lõm.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “NHẤT THIẾT BẤT
LƯU, VÔ KHẢ KÝ ỨC”, người nghĩa giải cho rằng : Chỗ tâm
hành
diệt là “tất cả chẳng lưu”, đường ngôn ngữ dứt
là “không thể ghi nhớ”; Ngoài không có pháp để bỏ là tất
cả chẳng lưu, trong không có tâm để giữ là không thể ghi
nhớ. “Liễu liễu kiến, không một vật, chẳng phải người,
chẳng phải Phật, hằng sathế giới như bọt biển, tất
cả thánh hiền như điện chớp” cũng là tất cả chẳng lưu;
“Đốt hương tỉnh tọa ở Nam đài, suốt ngày tỉnh lặng
muôn niệm quên, chẳng phải dứt tâm trừ vọng tưởng, chỉ
vì chẳng việc để suy lường” cũng là không thể ghi nhớ.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Vậy, dẫn chứng cũng được
tương tự, dẫu cho ông đem hết ngôn giáo của Phật Tổdẫn
chứng
đến cái thúng đựng nước không chảy, chỉ là càng
ghi nhớ thêm nhiều mà thôi. Muốn tất cả chẳng giữ, há
có thể được ư?

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Tất cả chẳng giữ, càng sanh
kiến (giải),

Trọn không ghi nhớ, vẫn còn
tri.

Nếu chẳng đích thân về quê
nhà
,

Bệnh đói, bánh vẽ làm sao
trị!

58. HƯ MINH TỰ
CHIẾU, BẤT LAO TÂM LỰC

DỊCH

Rổng sáng tự chiếu soi, chẳng
lao nhọc tâm lực.

LỜI KHAI THỊ

Đạo cần mỗi ngày một bớt,
học cần mỗi ngày một thêm. Bớt đến kiến chấp tiêu mất,
thêm đến đầy bụng tức ngực, bỗng nhiên thêm bớt thảy
đều quên, tay không về chùa ngồi hướng vách, trong thành
Trì Dương Vương-lão-sư, lạnh lẽo khiến người tưởng nhớ
mãi. Đừng tưởng nhớ, rổng sáng tự chiếu soi, chẳng phải
do tâm lực.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói như thế, người
nghĩa giải cho rằng : Trong sạch đã đầy tròn, chẳng dung
nạp
vật khác gọi là HƯ, hạt châu tự sáng tỏ, ánh trăng
tự chiếu soi gọi là MINH. Đã hư mà minh, vật đến liền
hiện, là công dụng của tự chiếu, chẳng cho lộn lời nói.
Ở đây, nếu thêm một mảy maytâm lực, thì chẳng thể cho
là hư minh tự chiếu rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Dẫn dụ rất là đúng lý,
vậy ông thấy hư không phải là chẳng tướng mạo chăng?
Xưa nay chưa từng nghe hư không tự nói : “Ta chẳng tướng
mạo”. Nếu hư không có thể nói được thì chẳng thể gọi
hư không, giả sửTổ Sư đã biết có thí dụ này, thì
cái lỗi lỡ lời cũng khó tránh khỏi vậy.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Con dấuvàng ròngtâm ấn tâm,

Cần phải chư Tổ truyền thọ
nhau.

Lén lút lượm được cũng
vô dụng,

Đâu thể bắt chước nói diệu
huyền!

59. PHI TƯ LƯỢNG
XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC

DỊCH

Chỗ lìa suy nghĩ, tình thức
khó lường.

LỜI KHAI THỊ

Bột trắng trong tuyết dễ
phân ra, thức tức duy tâm; Mực đen trong than khó biện biệt,
duy tâm tức thức. Thức chẳng phải tâm, tâm chẳng phải
thức. Dưới ánh mặt trời xem trắng đen, trước đài gương
sáng
hiện xấu đẹp. Lời nói thế này, giống như lời giảng
Duy Thức Luận của Pháp sư, trước mặt nạp tăng, làm sao
hiển lộtin tức thiệt?

Chẳng phải tâm, chẳng phải
thức, ban đêm chó sủa thôn hoa, mùa xuân oanh hót bờ liễu.
Cá kình hút cạn sóng đáy biển, con rồng chạy vào vô-sanh-quốc,
khiến Đại Phạm Vương giựt mìnhthức dậy, thẳng lên đỉnh
trời Sắc Cứu Cánh, tát cho hư không một bạt tai, rải xuống
long châu trăm ngàn hột, tia sáng lấp lánh rọi áo đẹp.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “PHI TƯ LƯỢNG
XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC”, người nghĩa giải cho rằng : Thức
là thức của nhà tâm, tâm là tâm của nhà thức, hai thứ
này như nước với sữa rất khó phân biệt. Phải biết, thức
là nước, tâm là sữa trong nước, nên giáo môn nói : “Vua
ngỗng chọn sữa, đâu đồng loài vịt!”. Trong nước đều
có sữa, chỉ có vua ngỗng mới biết phân biệt, ngoài ra các
thứ thủy tộc đều chẳng biết. Việc này dụ cho trong tất
cả thức đều có chơn tâm, chỉ có Phật Tổ mới rõ.

Cái giác chiếu soi của linh
tri gọi là tâm, những suy tư, ghi, nhớ, thủ, xả, phân biệt
v.v… gọi là thức. Thức có 8 thứ : Lục căn mỗi căn một
thức, thứ 7 gọi Mạt Na, thứ 8 gọi A Lại Da cũng gọi là
Như Lai Tạng, bảy thức trước là nhánh lá, thức thứ 8 là
căn bản. Trong Kinh nói : “Lúc đầu thai thì đến trước, lúc
chết thì đi sau, ngộ là Như Lai Tạng, mê là A Lại Da”. Thức
này nơi mê thì gìn giữ tất cả nghiệp thiện ácvô ký,
xả thân thọ thân từ vô lượng kiếp; nơi ngộ thì giữ
gìn
tất cả hạt giốngBồ Đề, giải thoát, trí huệ từ
lúc vô thỉ. Thức này từ mê vào ngộ, chuyển thành Đại
Viên Cảnh Trí
, đổi tên mà chẳng đổi thể. Hiện nay ở
trong tứ đại, ngũ uẩn, các pháp thánh phàm, ghi nhớ rõ ràng,
tác dụngphân biệt, cho đếnkiến văn giác tri, tam giới
rộn ràng, vạn phápthăng trầm, mỗi niệm khởi diệt, đều
nương nơi thức này mà sanh. Cho nên nói “Vạn pháp duy thức”.
Khuê Phong nói : “Pháp sanh vốn không, tất cả duy thức”.

Học giả ngày nay, chẳng thể
đem mạng căn một dao cắt đứt, đi khắp tòng lâm, chỉ biết
đem cái thông minh của mình dùng để dẫn khởi tình thức,
ôm những huyền giải ghi nhớ trong lòng, gặp duyên mống khởi,
chẳng biết huyền giải này là thuộc về “tình thức y-thông”,
lại chấp cho là khai ngộ. Hoặc lầm nhận cái cảm giáclinh
động
rõ ràngtrước mắt này, biện luận thao thao cho là
tự kỷ. Giống như Kinh Lăng Nghiêm nói : “Bỏ trăm ngàn biển
lớn, chỉ nhận một bọt cho là nước cả biển”. Kinh Viên
Giác
nói : “Đều là tập khívọng tưởngphan duyênlục trần,
chẳng phải tâm thể chơn thật”. Hòa Thượng Trường Sa nói
: “Những người học đạo chẳng biết chơn, chỉ vì xưa nay
nhận thức-thần”, Vĩnh Gia nói :

“Tổn pháp tài, diệt công đức,
tất cả đều do tâm ý thức” v.v… Chư Phật chư Tổ đã
có chỉ bày rõ ràng, mà trong mạt pháp, bệnh này ngày càng
nhiều thêm! Nhưng kẻ mắc bệnh này là do lập chíhọc đạo
chẳng chơn chánh mà ra, nếu là quyết chí muốn rời khỏi
biển sanh tử thì không chịu dấu mình trong tình thức. Chỉ
do ban sơ một niệm muốn hiểu Thiền, hiểu Đạo, hiểu Phật,
hiểu Pháp mới thành bệnh này.

Thức này như núi Thiết vi
rộng lớn, bao vây họ từ vô thỉ, cũng như thiên binh vạn
mã ngày đêm ở trước cửa lục căn, rình sơ hở của họ.
Nếu không đủ chí quyết định liễu sanh tử, thì đi đâu
cũng phải vào đó.

Tổ Sư làm bài TÍN TÂM MINH
này, là mở rộngcửa Thiền cho kẻ hậu

học thoát bỏ tình thức, chỉ
tin tự tâm, cất bước liền vào. Nếu

tình thức của học giả còn
một mảy may chưa sạch, đọc bài MINH này

trở thành thuốc độc. Sự
lợi hại như thế, nên 2 câu đầu nói “CHÍ

ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM GIẢN
TRẠCH”. Chỉ 2 câu này, đem tâm với

thức phân giảirõ ràng. Tại
sao? Nói “CHÍ ĐẠO VÔ NAN” tức là chỉ

chơn tâm; “DUY HIỀM GIẢN TRẠCH”
tức là phá tình thức, kẻ tình

thức chưa quên, thấy người
nói lời này, bèn nói : “Tôi chỉ chẳng

lựa chọn”. Đâu biết chỉ
cái “chẳng lựa chọn” này đã là hiểu theo

tình thức rồi, huống là kẻ
mỗi mỗi chấp có, gặp cảnh sanh tình ư

!

Nên ý bài MINH này từ đầu
đến cuối, nói đi nói lại, chẳng rời bản tâm, chẳng qua
vì giúp người học biện rõ tâm với thức mà thôi. Cho nên
nói “PHI TƯ LƯỢNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC”.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Theo lời nói “DUY HIỀM GIẢN
TRẠCH”, nay lại ở trong pháp một tâm, chỉ ra tình và thức,
ấy là lựa chọn hay chẳng lựa chọn? Nhưng tình và thức,
với một tâm quả là khác hay là đồng ư? Người chơn thật
học đạo, ở đây nếu chẳng thể xác định, mà muốn thấy
ý chỉ TÍN TÂM MINH của Tổ Sư, chẳng phải còn xa xôi ư!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Chỗ lìa suy nghĩ rất khó lường,

Môn đồ học Phật đều nên
rõ.

Ngay đó chẳng biết thiếu
vật gì?

Thông minhlanh lợi lại bị
lừa.

60. CHƠN NHƯPHÁP
GIỚI
, VÔ THA VÔ TỰ

DỊCH

Chơn nhưPháp Giới, chẳng
người chẳng mình.

LỜI KHAI THỊ

Sư Khoáng không lỗ tai, chí
thần (tự tánh) không bản thể, Nguồn Linh không có đáy.
Đạt Ma truyền tủy đâu thể được! Xưa kiaở chung chẳng
biết tên, hôm nay gặp nhau chẳng phải ngươi. Bóng trăng đẹp
mà xuống nước chẳng chìm, gió lạnh lẽo mà sáu cửa tự
mở. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, dây dưa mục leo quấn
trước kiếp-không; “Gió chẳng động, phướn chẳng động”,
Huệ Năngđắc chí nơi phòng giả gạo.

Linh Chiếurõ ràng ta chẳng
biết,

Mây trăng khe núi tự quen nhau.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “CHƠN NHƯ PHÁP
GIỚI, VÔ THA VÔ TỰ”, người nghĩa giải cho rằng : CHƠN NHƯPHÁP GIỚI là tổng danh của một tâm. Ngoài tâm chẳng pháp
thì đâu có cái tên gọi TỰ THA? Không những tự tha chẳng
lập, cho đến núi sông, đất đai, hữu tình vô tình, đều
chẳng thể đắc lại thành có. Dù nói chẳng thể đắc mà
có, cũng chẳng ngại an lập vật tượng tự tha. Tại sao?
Chơn nhưpháp giới dụ như vàng, vật tượng tự tha dụ như
bông tai, cà rá, dây chuyền…Phải biết vàng là thật thể,
các đồ trang sức là quyền danh (tên gọi tạm). THẬT chiều
theo QUYỀN thì vật tượng tự tha chẳng ngại an lập, dung
quyền về thật thì chỉ thấy chí thể của Nhất ChơnPháp
Giới
. Vậy, giả danh của các thứ trang sức chẳng cần trừ
mà tự mất rồi. Kẻ mê muội chẳng thông đạt ý chỉ viên
dung
của Tổ Sư, cho là đoạn diệt, đọa nơi rỗng không,
lập cái thuyết “VÔ THA VÔ TỰ”, ở đây cần phảibiện bạch
cho rõ.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Biện thì cứ biện, nhưng trong
Chơn NhưPháp Giới còn dung nạp được lời biện bạch này
chăng?

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Trong chẳng tự kỷ, ngoài chẳng
tha (người khác),

Cả gan nuốt trọn trái bí
kia.

Thẳng tay tặng người, người
chẳng nhận,

Rải cát quăng bùn vẫn y xưa.

61. YẾU CẤP
TƯƠNG ƯNG, DUY NGÔN BẤT NHỊ

DỊCH

Gấp muốn tương ưng, chỉ
nói bất nhị.

LỜI KHAI THỊ

Biển dụ cho tánh, đất dụ
cho tâm, chứa đầy mà chẳng tràn, hứng nặng mà chẳng sụp,
dung nạphư không chẳng ngằn mé, xuyên thấucổ kim chẳng
biên cương. Trước nói “bất lạc”, sau nói “bất muội”, hồ
ly tinh đâu phải hai con. Hôm qua nói “định”, hôm nay nói “chẳng
định”, cục cứt khô nuốt trọn vào bụng. Biện tài của
Duy Ma Cật khiến hàng Bồ Tátbịt miệng; lưỡi bén như kiếm
của Văn Thù đã làm thầy cho bảy Phật. Tông ta vốn chẳng
dây dưa này, chí lý đâu có ghi bia đá.

Tiếng sóng ngàn sông chìm biển
rộng,

Muôn núi hùng vĩ kém đỉnh
cao.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “YẾU CẤP TƯƠNG
ƯNG
, DUY NGÔN BẤT NHỊ”, người nghĩa giải cho rằng : Tổ
phí sức phân biệt, trước nói “Chỉ chê lựa chọn”, kế
nói “một cũng đừng giữ”, “muôn Pháp cùng quán”, “muôn Pháp
nhất như” v.v… đều là lý của 2 chữ “Chỉ nói”. Nhưng chư
Phật chúng sanh, bản thểbất nhị, nói “Thành Phật” đã
là lời thừa, vậy nói : “MUỐN GẤP TƯƠNG ƯNG” dường như
thành 2 đoạn rồi. Nếu quả thật có cái lý tương ưng
chẳng tương ưng, thì rõ ràng là nhị, đối với việc này
chưa thể không nghi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Chỉ e cái nghi này chẳng chơn
thật, chẳng vững chắc. Nếu Chơn thật vững chắc, thì cái
nghi này sẽ có ngày tự bùng nổ. Nghi này nếu vỡ, thì NHỊ
với BẤT NHỊ của tương ưng hay chẳng tương ưng đã thấu
rõ trước cơ xảo, lãnh hội ngoài ngôn ngữ, mới biết ơn
lớn của Tổ Sư khó đền đáp.

Xưa Ngài Duy Ma Cật bảo chúng
Bồ Tát nói Pháp môn Bất Nhị, mỗi mỗi nói xong, lại bị
chúng Bồ Tát hỏi ngược lại thì im lặng chẳng đáp. Lúc
ấy
Văn Thù liền tán thán rằng “Chơn nhập Pháp môn Bất
Nhị”. Vậy lời tán thán của Văn Thùsanh khởi từ chỗ nào?
Nếu cho im lặngpháp môn Bất Nhị, thì người bệnh câm
người gỗ máy cũng đều được nhập pháp môn Bất Nhị
rồi! Nếu im lặng có thể gọi là pháp môn Bất Nhị, thì
ngữ ngôn cũng có thể gọi là pháp môn Bất Nhịcho đến
ca hát cười giỡn đều gọi là Bất Nhị ư? Tại sao chỉ
khen một mìnhDuy Ma Cật vậy? Ở đây cần phải thấu rõ
ý chỉ mũi kim đụng nhau đúng khớp của 2 vị đại sĩVăn
Thù
Duy Ma Cật, thì lời nóiTƯƠNG ƯNG hay CHẲNG TƯƠNG
ƯNG
trong một tiếng cười đã tẩy sạch rồi.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Cửa ThiềnTổ Sư tuyệt chi
ly,

Đá lửa điện chớp vẫn chậm
trì.

Muốn gấp tương ưng nói BẤT
NHỊ
,

Bà lão nhai cơm, mớm tiểu
nhi.

62. BẤT NHỊ
GIAI ĐỔNG, VÔ BẤTBAO DUNG

DỊCH

Bất Nhị chẳng phải đồng,
Nhị mới có bao gồm.

LỜI KHAI THỊ

Tổ tổ tâm không, Phật Phật
đạo đồng. Tâm không thì các ngôi sao cùng hướng về Bắc
Đẩu
, đạo đồng thì muôn dòng nước đều chảy vào Biển
Đông. Hưng Hóa hôm qua dự trai tăng trong làng, đạo ta nhất
quán
; Đức Sơn đêm nay không trả lời, Công án hai lớp. Bắt
Hổ dữ, phân rắn rồng, chẳng phí chút sức của Hải Thần;
Nổ sấm sét, phủ mây mù, tiêu hao Long Vương bao nhiêu gió.
Mũi kim gọt sắt đè chìm đại địa, vắt nước chỉ mành
ngập khắp hư không. chẳng cán nắm, tuyệt cũi lồng, sông
Thiền vốn chẳng có đò đưa, vách sắt đâu có cửa nẻo
thông.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ sư nói : “BẤT NHỊ GIAI
ĐỔNG, VÔ BẤT BAO DUNG”, hạng người hiểu theo văn tự cho
rằng : Kinh Pháp Hoa nói : “Chỉ một sự thật này, ngoài ra
đều chẳng chơn”. Còn nói : “Tất cả chư Phật chỉ một
Phật thừa, chẳng hai chẳng ba”. Nói MỘT là diệu tâm sáng
tròn, thể lìa tu chứng, dọc gồm tam thế, ngang thấu mười
phương
, sắc, không, sáng, tối lấy đó làm nguồn, thánh phàm
mê ngộ lấy đó làm gốc. Cho đến cùng khắp pháp giới,
nếu thấy có mảy may chẳng do đó sanh khởi, đều là sở
chấp của ngoại đạo, cho nên nói “Sum la và vạn tượng do
một pháp ấn định”. Lời “BẤT NHỊ GIAI ĐỔNG, VÔ BẤT BAO
DUNG” chẳng thể ở ngoài nghĩa này.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Nói như thế, tất cả ngôn
giáo
đã ghi đầy đủ, đâu cần Tổ Sư từ Tây Trúc sang!
Phải biết, ngôn giáo như bức tranh hoa của Triệu Xương,
cao thấp xa gần, búp nở đậm nhạt, xem rất đẹp mắt, nhưng
chẳng phải hoa thật vậy. Nếu chưa thể nơi gót chân một
dao cắt đứt cuộn chỉ rối, thì đối với tông chỉ “BẤT
NHỊ GIAI ĐỔNG”, đâu thể chỉ miệng nói tai nghe mà đắc
được ư!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Vàng ròng đúc thành trứng
gà trống,

Đập nát y xưa vẫn còn nguyên.

Chẳng biết có gì bao trong
đó,

Suốt đêm tia sáng rọi càn
khôn
.

63. THẬP PHƯƠNGTRÍ GIẢ, GIAI NHẬP THỬ TÔNG

DỊCH

Người trí mười phương, đều
vào tông này.

LỜI KHAI THỊ

Chí thần vô công dụng, chí
thể chẳng hỗn dung, như chuông nơi chánh điện, lỗ tai chẳng
nghe động tịnh. Như mùa xuân đến vườn, nhánh hoa tự trắng
tự hồng. Ngũ vị quân thần của Động Sơn, đàn tấu trước
khi chưa phổ nốt nhạc; bốn thứ chiếu dụng của Lâm Tế,
gia phong đánh roi sắt, vạn linh khó lường. Châu ngọc
xoay chuyển trước đường cơ xảo, gió bay sấm sét, mở mắt
trên đỉnh đầu. Suy nghĩ chẳng đến, nhanh cũng khó gặp.

Sắp xếp cổ Phật lìa hang
ổ.

Đánh cho rắn chết hóa thành
rồng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ sư nói : “THẬP PHƯƠNG
TRÍ GIẢ, GIAI NHẬP THỬ TÔNG”, người nghĩa giảidẫn chứngKinh Hoa Nghiêm nói : “Cảnh giới của Như Lai, vô lượng bằng
hư không, tất cả chúng sanh vào, kỳ thật chẳng chỗ vào”.
Kinh Viên Giác nói : “Những người năng nhập. Nếu có năng
nhập thì chẳng phải giác nhập”. Phải biết, tông này tất
cả chúng sanh vốn đã thâm nhập, đâu có lý nào lại nhập
nữa! Chúng sanh đã như vậy, thì người trí không nên lại
có sở nhập. Vĩnh Minh nói : “Tâm chơn như vốn chẳng thể
lìa”, nhưng kẻ mê dụ là xuất, kẻ ngộ dụ là nhập, làm
cho mê ngộtương đối, thật đâu có sự xuất nhập ư!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Hãy gác lời này lại! Ông
có từng ngộ chưa? Đợi ông chân thật có chỗ ngộ, mới
thấy lời của Tổ Sư không dối.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Đồng nói tông này khó được
diệu,

Người trí mười phương cứ
bàn nhau.

Nếu chưa buông tay rơi vực
thẳm
,

Chỗ nhập đâu khác địa ngục
môn.

64. TÔNG PHI XÚC
DIÊN, NHẤT NIỆM VẠN NIÊN

DỊCH

Tông chỉ chẳng có ngắn dài,
muôn năm một niệm, niệm muôn năm.

LỜI KHAI THỊ

Càn là trời, Khôn là đất,
thiền chẳng khác giáo; dương là kỳ, âm là ngẫu, giáo đâu
lìa thiền. Chỉ vì so đo với nhau, khiến con rắn uốn quanh
cùng mình, người chuyên Nhất tâm tam quán, người hay trực
chỉ đơn truyền. Nín như núi vách, nói như trời xa, bị kẻ
không mặt mũi gặp thấy bất bình, chặn ngang hét một tiếng,
khiến cho Đạt Ma cùng Thiên ThaiHiền Thủ câm miệng nín
thở, thỏng tay vào thành.

Mỗi người tự quét tuyết
trước cửa,

Chớ đem vô minh thấm thức
điền.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “TÔNG PHI XÚC DIÊN,
NHẤT NIỆM VẠN NIÊN”, người nghĩa giải cho rằng : Tổ Sư
lấy nhất tâm làm tông, trong pháp giớinhất tâm, cho kiếp
là ngày mà chẳng rút ngắn, cho ngày là kiếp mà chẳng dài
thêm. Nên xem l niệm là muôn năm, chuyển muôn năm thành l niệm,
chẳng dài chẳng ngắn, chẳng ít chẳng nhiều, đâu phải
do thần thông mà ra. Chỉ vì pháp vốn như thế.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Xưa kia có người trí nhà Nho,
cho bài “Thọ yểu bằng nhau” là vọng tác, cho “tử sanh như
một” là hư dối. Nếu họ biết có cái thuyết “Một niệm
muôn năm”, lại càng thêm kinh ngạc. Ấy cũng chẳng lạ gì,
bởi chơn tục chẳng cùng lối mà thôi. Người xưa nói : “Nói
Chơn thì nghịch với tục, thuận tục thì trái với Chơn”,
há chẳng đúng ư! Làm sao khiến họ xé rách lưới tục, cắt
đứt căn trần, trở lại xem cái cơ xảo viên thường tự
tại
, ngắn dài giúp nhau của Tổ Sư, thì cái lỗi lỡ lời
mới mong có thể tránh khỏi. Dù vậy, muốn chẳng kẹt nơi
ngắn dài, thử nói l câu xem!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Sát na muôn kiếp chẳng ngắn
dài,

Đo lường hư không nói tròn
vuông.

Cứ ngay khi ấy chấp là thật,

Đứng xa ngoài cửa giành đúng
sai.

65. VÔ TẠI BẤT
TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN

DỊCH

Chẳng phải có chỗ, chẳng
phải không chỗ, mười phươnghư không, chính là trước mắt.

LỜI KHAI THỊ

Cảnh Thanh sáu cửa, Lâm Tếtam huyền. Thiên Long giơ ngón tay, Am Chủ dựng nắm tay. Chỗ
có Phật chẳng được trụ. Xoá hết Tây ThiênĐông Độ;
chỗ không Phật mau chạy qua, đánh bên Nam, động bên Bắc,
chứng chỉ lãnh xong, sáu cửa vắng lặng.

Mở cửa thả ra hạt Dương
Châu
,

Chẳng cần đem theo mười vạn
tiền.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói: “VÔ TẠI BẤT TẠI,
THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN”. Hoặc có người dùng ý thức suy
lường rằng : Tâm chẳng hình tướng, đạo tuyệt bờ bến.
Ngay nơi hình tướng mà chẳng ngại mỗi mỗi phân thân; dựa
nơi bờ bến mà đâu ngại trần trần hiển lộ! Trần trần
hiển lộ, chẳng lìa chỗ ở thường trạm nhiên; Mỗi mỗi
phân thân, tìm mãi biết ông chẳng thể thấy. Ở đây, cái
ý chỉ “VÔ TẠI BẤT TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN” đã
ràng
rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Người nói lời này, đối
với việc bị mắng là “dòm bóng để trộm ánh sáng”, thiếu
một phần cho y cũng không được. Nếu chẳng thể đích thân
hạ thủ phá vở hàng rào thiết vi, mà muốn thấy ý chỉ
VÔ TẠI BẤT TẠI của Tổ Sư, khác gì đi Trịnh Châu ra cửa
Tào Châu!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

“Ngay chỗ chẳng lìa” là vật
gì?

Lấp bít bốn phương khắp
thái hư.

Ném ngay trước mặt chẳng
che giấu,

Khiến kẻ nhìn thấy bị mắt
mù.

66. CỰC TIỂU
ĐỔNG ĐẠI, VONG TUYỆT CẢNH GIỚI

DỊCH

Cực nhỏ đồng lớn, quên
hẳn cảnh giới.

LỜI KHAI THỊ

Đầu Tử nói “Hoại”, Đại
Tùy
nói : “chẳng hoại”. Đoạ hai quan ải này, đụng đâuđều chướng ngại. Không chướng ngại, chỉ cần đem hai
câu ghép thành một chỗ xem, bèn thấy hạt bụi chẳng nhỏ,
hư không chẳng lớn.

Công án saün sàng tuyệt che
giấu.

Đáy thùng vì sao chẳng chóng
lũng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “CỰC TIỂU ĐỔNG
ĐẠI, VONG TUYỆT CẢNH GIỚI”, người nghĩa giải cho rằng
: Trước nói “VÔ TẠI BẤT TẠI” tức là đề mục của “CỰC
TIỂU ĐỔNG ĐẠI, CỰC ĐẠI ĐỔNG TIỂU”, nên Kinh Lăng Nghiêm
nói : “Trên đầu sợi lông hiện cõi Phật, ngồi trong hạt
bụi
chuyển pháp luân”. Nếu chẳng thấu đạt ý chỉ “VÔ
TẠI BẤT TẠI”, thì đụng đâu cũng bị kẹt nơi cảnh giới.
Đã bị kẹt nơi cảnh giới thì đâu có lý nào quên hẳn
được! Đã chẳng thể quên hẳn cảnh giới thì lớn có tướng
lớn, nhỏ có tướng nhỏ, đâu thể dung nhiếp thành một!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Chỉ như người quên hẳn cảnh
giới
, còn thấy lớn nhỏ hay không? Nếu nói thấy thì chưa
thể quên hẳn; nếu nói không thấy thì đâu khác chi người
gỗ
đất? Thử nói xem!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Tu Di chứa bụi người đều
nhận.

Bụi chứa Tu di Phật cũng nghi.

Dẫu cho kiến giải siêu tình
lượng,

Khắc thuyền mò kiếm đã chậm
trì.

67. CỰC ĐẠI
ĐỔNG TIỂU, BẤT KIẾN BIÊN BIỂU

DỊCH

Cực lớn đồng nhỏ, chẳng
thấy bờ mé.

LỜI KHAI THỊ

Đắc được chẳng phải đắc,
thấu rõ đâu có rõ. Tâm địa hoa nở nơi tuyết xuân, Tánh-Thiên
nắng rọi băng-hồ (dụ cho Vũ Trụ) sáng, Kim Phụng bay liệng
trên nhánh chưa mọc, voi ngọc nhiễu quanh bên cây không bóng.
Bá Trượng giúp ông lão giải thoát thân chồn, nghèo nuôi
một thân đã là nhiều; Văn Thù chẳng thể xuất định cho
cô gái, giàu chê ngàn người ăn vẫn còn ít. Chỉ biết cách
núi thấy khói, ai hỏi ra cửa là cỏ. Tất cả saün sàng,
không cần tìm kiếm, dẫu trong giày ống chơi kềm búa, cũng
là trước cửa đi quanh quẩn.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “CỰC ĐẠI ĐỔNG
TIỂU, BẤT KIẾN BIÊN BIỂU”. Hạng người nghĩa giải cho rằng
: Xưa kiaDuy Ma Cật dùng thần lựcgiải thoát bất tư nghì,
đem 32 ngàn tòa sư tử để trong phòng trượng thất, mà phòng
nhỏ chẳng thấy chật, tòa lớn chẳng rút nhỏ. Rồi dùng
tay phải hái lấy thế giới Diệu Hỷ để vào phòng, nói
với đại chúng rằng : “Thế giới kia chẳng lay động, thế
giới
này chẳng biến đổi”. Đem lớn vào nhỏ, đem nhỏ vào
lớn, dung nạp lẫn nhau, phi bỉ phi thử.

Theo kinh nói, thần lựcgiải
thoát
bất tư nghì này suốt kiếp chẳng hết, nhưng thần
lực
này đều từ diệu tâmsáng tỏ chảy ra. Hoặc có người
nói : “Nay tôi cũng từng ngộ diệu tâmsáng tỏ này, tại
sao chẳng có thần lực? Hoặc đáp rằng : “Phải biết, thần
lực
này vốn tự đầy đủ, chẳng cần tu chứng, sở dĩ
chưa thể hiện tiền vì kẻ sơ tâmnhập đạo, nơi sức định
huệ giải thoát
chưa đầy đủ. Dù chưa đầy đủ, nhưng
bổn giác trong tâm cũng chưa từng mất, khi cơ duyên đến,
sẽ tự hiện mà thôi”. Dù nói cơ duyên đến, song cũng không
được giữ một niệm tâmđợi chờ. Nếu còn có tâm đợi
chờ
, liền rơi vào dị kiến. Ví như trẻ sơ sinh, chưa rời
tấm tã mà muốn gánh nặng đi xa, có thể được ư? Dù chẳng
thể gánh nặng đi xa, nhưng đối với việc gánh nặng đi
xa chưa thể hiện tiền, đâu có nghi ngờ kinh sợ gì! Kẻ
chơn tham thật ngộ nghe nói thần lực này, tự nhiên chẳng
nghi ngờ kinh sợ. Nếu còn một mảy maynghi ngờ kinh sợ tồn
chứa trong tâm, thì tâm này chưa từng khai ngộ.

Gần đây, bậc tăng sĩ hành
cước
, chẳng cầu chánh ngộ, chỉ quý biện tài, lại bậc
địa vị làm thầy, phần nhiều thuận theo trào lưu, đối
với hành giảtham thiền, không dùng cơ xảo nghiêm khắc đánh
đập, ai nấy cùng nhau đuổi theo vọng tình, khiến cho Bát
Nhã
tòng lâm bị quét sạch chẳng còn gì! Thật đáng tiếc
thay!

Người có chí nên khắc khổ
tu hành, lấy đại ngộ làm kỳ hạn, mới báo đáp được
ơn sâu của Phật. Đức Phật đã từng nói hết những tệ
đoan
ngày nay rằng : “Chúng sanh đời mạt pháp, hy vọngthành
đạo
, chớ cho cầu ngộ. Vì người học rộng nghe nhiều,
chỉ thêm đa văn, tăng trưởng ngã kiến”. Lời Phật dù đã
cách đây hơn 2000 năm, vẫn như hiện trên bàn tay, đủ thấy
lời của bậc Thánh chẳng dối chúng ta vậy!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Im đi, Im đi! Ông tưởng ngộ
rồi là xong ư? Dẫu cho ông chứng đắcthần lựcgiải thoát
bất tư nghì, trong l sát na đem mạng căn của ông già Duy Ma
Cật
bóp nát. Nếu chưa thể quên được sở chứng của mình,
còn ngồi ở chỗ thần dị cho là thù thắng, thì phải đến
đây ăn gậy của lão tăng!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Lớn, nhỏ, mê, ngộ bặt dấu
tích
,

Trăm ngàn thần lực thảy đều
quên.

Hành giả gặp ta giữa đường
hẹp,

Cây gậy đánh gãy chưa thể
tha.

68. HỮU TỨC
THỊ VÔ, VÔ TỨC THỊ HỮU

DỊCH

Có tức là không, không tức
là có.

LỜI KHAI THỊ

Nửa đêm giờ Tý, gà gáy giờ
Sửu, Thạch Nữ (làm bằng đá) may áo chẳng dấu nối, người
gỗ
ham uống rượu Bồ Đề. Lúc xế chiều giờ Thân, mặt
trời
lặn giờ Dậu, voi chúa đi sâu vào núi tuyết, sư tử
rống nơi đống lửa hồng. Ngày đêm 12 thời chẳng cần đếm
hết, 30 năm sau có người phân rõ. Vô vô vô chẳng vô, hữu
hữu hữu đâu hữu gọi là trúc bề thì phạm, chẳng gọi
trúc bề thì trái. Phun hoa hương đầy áo, ông đã có cây
gậy, ta cho ông cây gậy, nắm bóng trăng trên bàn tay, tông
ta chẳng lập giai cấp, đâu cần cưỡng phân xấu đẹp! Một
trần khởi tam muội, nhiều trần nhập chánh thọ, gà vàng
đá nhau dưới cây san hô, chó ngọc ngủ trong nụ hoa Chiêm-bặc.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ sư nói : “HỮU TỨC THỊ
VÔ, VÔ TỨC THỊ HỮU”, người nghĩa giải cho rằng : Hữu
chẳng tự hữu, Hữu là hữu của nhà Vô : Vô chẳng tự Vô,
Vô là vô của nhà Hữu. Hữu chẳng đơn chiếc, vô chẳng
độc lập. Người nói HỮU vì trước đã thấy VÔ, sau đó
mới nói HỮU. Nếu trong lòng trước chẳng thấy VÔ thì đâu
thể ở ngoài đối đãi khi không nói HỮU! Nên biết, vô chẳng
vô, vô tức là hữu; hữu chẳng hữu, hữu tức là vô. Lý
HỮU VÔ vốn cùng một nguồn, nơi một nguồn, nói HỮU thì
dư cái hữu, nói VÔ thì thừa cái vô. Hữu Vô dung nhau đường
nói cũng bặt, ấy là ý chỉ “trở về nguồn” vậy.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Dù vậy, nếu chẳng phấn khởi
đại chí, bặt sự tương đối của hữu vô nơi chánh ngộ,
cứ khởi tâmphân biệt thì đâu có ngày được ý quên lời
ư!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Trong VÔ nói HỮU, hữu vẫn
vô,

Vật này khó vẽ vào họa đồ.

Tức cười Triệu Châu quên
trói buộc,

Nói càn : bên nhà treo hồ lô.

69. NHƯỢC BẤT
NHƯ THỬ, TẤT BẤT TU THỦ

DỊCH

Nếu chẳng như thế, ắt chẳng
cần giữ.

LỜI KHAI THỊ

Lâm Hòa Tịnh thích trồng mai,
Đào Uyên Minh chỉ trồng liễu. Cùng là một hạng cao nhã
đạm bạc, nhưng cả hai đều lọt vào hang ổ. Đâu bằng
kẻ không ý-chí, cắm một cọng cỏ trên miếng đất chẳng
âm dương, khiến hoa nở trước khi có ánh nắngmặt trời,
trái chín mùi sau khi sương tuyết. Các ngươi suốt ngày đêm
lẩn quẩn đoán mò trong đó, có thấy chăng? Thấy thì rất
kî dùng mắt nhặm, chưa thấy thì chẳng nên chạy lăng xăng.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ sư nói :”NHƯỢC BẤT NHƯ
THỬ, TẤT BẤT TU THỦ”, người nghĩa giải cho rằng : Đây
lời dặn dò của Tổ Sư, nói phải có một niệm Chơn
thật tương ưng với diệu tâmsáng tỏ và khế hợp với
bản giác nguồn linh. Nếu chẳng như thế, dù cho biện tài
thao thao, đều là sở chấp của ngoại đạo. Hoặc nói : “Nếu
chẳng như thế” là quyết định muốn người khế ngộ chơn
tâm
. “Ắt chẳng cần giữ” là có ý muốn chỉ kẻ chẳng cầu
chánh ngộ mà kẹt nơi ngôn thuyết cho là đắc chí. Nói ý
này cũng thông.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Vậy, như hai thuyết này nếu
chẳng thể quên thân xả mạng, thề quyết đại ngộ, khi
báo thân bỗng mất thì việc ta đâu còn! Chẳng biết người
học ở trong bóng mộng huyễn, dựa vào đâu mà chẳng tự
cảnh sách!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Hết chấp HỮU, VÔ, quên sắc,
không,

Kẻ trộm tự thú hiến tang
vật.

Rẻ bằng vàng ròng, quý như
sình,

Xót thương không chỗ để
vùi chôn.

70. NHẤT TỨC
NHẤT THIẾT
, NHẤT THIẾT TỨC NHẤT

DỊCH

Một là tất cả, tất cả
là một.

LỜI KHAI THỊ

HAI NĂM là mười, HAI NĂM cũng
là bảy, pháp vốn chẳng định, lãnh hội do người. Gọi
chúng sanh là chư Phật, bản thể đâu sai; gọi chư Phật là
chúng sanh, lý cũng chẳng mất. Bỗng có người ra nói :

“Chúng sanh tự chúng sanh, chư
Phật tự chư Phật, đâu thể thánh phàm lẫn lộn”! Khiến
cho ông già Thích Ca khi không bị oan, chỉ cần nói với ông
ta : “Vô thỉ vọng lưu chuyển, đều do sự chấp này”.

Định tánhphàm phu bị Phật
quở,

Thiên thủ Quan Âm xô chẳng
ra.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “NHẤT TỨC NHẤT
THIẾT
, NHẤT THIẾT TỨC NHẤT”, hoặc có người dẫn chứng
Kinh nói : “Một là một của tất cả, tất cả là tất cả
của một, nơi một chẳng ít, nơi tất cả chẳng nhiều, đây
là tâm và pháp cùng khắp, một với nhiều dung nhau, chẳng
do thần thông làm ra, ấy là pháp vốn như thế”. Thuyết này
ghi đủ trong kinh sách, chẳng cần dẫn chứng, nói nhiều thêm
phiền, nơi đạo vô ích.

Phải biết, Tổ sư trước
tác MINH này, đến chỗ “BẤT NHỊ GIAI ĐỔNG, VÔ BẤT BAO DUNG”,
e kẻ hậu học chẳng thông đạtviên dung, trước dùng
“dài ngắn tương tức (hổ tương), “kế dùng” lớn nhỏ tương
tức”, kế nữa dùng “hữu vô tương tức”, nay lại dùng “một
nhiều tương tức, đem vô biên thế giới dung thành pháp môn
bất nhị
, khai thác vũ trụ của vạn vật, mở rộng quê hương
của chúng sanh, giúp cho hậu học chẳng cất bước mà đến,
chẳng cách mảy trần mà nhập, chẳng ra sức mà thành, chẳng
nổi niệm mà chứng nguyện đại từ đã thỏa mãn, công giáo
hóa
cũng cùng khắp rồi.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Dù vậy, kẻ mang bức tranh
ngựa đi tìm ngựa ngày càng thêm nhiều, phải làm sao xoay
mặt họ lại, luôn cả Tổ Sư cùng đuổi ra một lượt, mới
biết tri ơn báo ơn. Nếu không, ví như đuôi rùa dính sình
mà quét dấu, càng quét càng thêm. Giải nghĩa lời Tổ Sư
cũng giống như thế.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Đại địa vò lại bằng hạt
gạo,

Công khai đánh trống mọi người
xem.

Mạt vàng trong mắt nếu chưa
trừ,

Muốn biết trắng đen cũng
khó khăn.

71. ĐẢN NĂNG
NHƯ THỊ, HÀ LỰ BẤT TẤT

DỊCH

Nếu được như thế, lo gì
chẳng xong.

LỜI KHAI THỊ

Đại tâm chẳng y trụ, đại
hóa
chẳng dấu tích, đại cơ xảo chẳng cần làm, đại nhiệm
vụ chẳng ra sức, chỗ muôn pháp toànhiển bày, ánh sáng
và hình bóng đều diệt;lúc một mảy lông chẳng hiện ra,
lại chất đầy như núi.Mối trắng ăn lũng tâm Phật sắt,
ruồi xanh đạp gãy lưng trâu vàng. Triệu Châu thấy ông buông
chẳng xuống, Yển Khê lại từ chỗ này vào. Tùy tay đem đến,
tùy miệng nhổ ra, trí đâu thể biết, thức đâu nhận được.

Bao người ngó nhằm bị mù
mắt,

Bất tài thừa kế uổng hứa
khả
.

LỜI NGHĨA GIẢI

Tổ Sư nói : “ĐẢN NĂNG NHƯ
THỊ
, HÀ LỰ BẤT TẤT”, người nghĩa giải cho rằng : Kinh
Pháp Hoa
nói : “Nay ta vì ông bảo nhậm việc này, trọn chẳng
hư dối”, tức là ý “ĐẢN NĂNG NHƯ THỊ, HÀ LỰ BẤT TẤT”
của Tổ sư, là lời vì người học mà bảo nhậm. Sự chí
thành
sách tấn thấy rõ ở đây.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Dù vậy, y quả được như
thế hay chưa? Dẫu cho vừa nghe liền gật đầu ba cái đã
trễ tám khắc, suy nghĩ chốc lát thì bị bỏ mất quá lâu
rồi!

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Như thế, như thế, cứ như
thế,

Việc xong lúc nào tìm hỏi
ai?

Gỡ được nhiều lớp da mặt
sắt,

Đường về quê hương vẫn
xa xôi.

72. TÍN TÂMBẤT
NHỊ
, BẤT NHỊTÍN TÂM

DỊCH

Tin tự tâmbất nhị, bất
nhị
phải tin tự tâm.

LỜI KHAI THỊ

“Tâm là căn, pháp là trần,
hai thứ như dấu bụi trên gương”, Vĩnh Giađại sư nói quá
lố
, muốn đục mở con mắt trời người, còn như cách biển.
Sao chẳng nói : “Tâm phi căn pháp phi trần, cùng chuyển Như
Lai
chánh pháp luân”? Bỗng có người nói : “Lời Vĩnh Gia như
cách biển, lời ông nói như biển cách”, đâu bằng Tam Tổ
nói “TÍN TÂM BẤT NHỊ, BẤT NHỊ TÍN TÂM”. Hai câu này như
trái cân sắt, muốn đục chẳng lũng. chỉ nói với y : “Im
đi, im đi! Kêu đến máu chảy cũng vô dụng, không bằng ngậm
miệng
qua xuân tàn”.

LỜI NGHĨA GIẢI

Hoặc có người nghĩa giải
ý Tổ Sư rằng; chúng sanhmê tâm này đã lâu, nơi một pháp
vọng sanh phân biệt, mỗi mỗi phân biệt đều là nhị. Nay
thấy mình là tự ắt thấy người là tha, ấy gọi là cái
nhị của tự tha. Từ đây sanh khởivô sốphân biệt, nhị
lại thêm nhị, dùng toán số thí dụ cũng chẳng thể biết
được số lượng, cho nên lòng từ bi của Tổ Sưthái quá,
đề ra hai câu “TÍN TÂM BẤT NHỊ, BẤT NHỊ TÍN TÂM” làm chánh
ấn (con dấuchánh pháp), ngay đầu thiền giả dùng ấn ấn
định
, như nắm bâu áo thì cả áo đều xuôi theo. Sấm sétđánh thức người mê mộng, nắng trời rọi khắp đường
tối tăm, khiến người mù thấy, người điếc nghe, người
nghèo thành giàu, người ngu thành trí. Chẳng lìa căn nhà chiêm
bao
, cao đăng quốc độ chơn giác, dùng thân huyễn thẳng chứng
bản thểkim cang, đáng xưng là thuốc thần trị bệnh sanh
tử
, là bậc đạo sư hướng dẫn từ phàm vào thánh.

Rất hay, rất hay.

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Khen ngợi tạm ngưng đi! Chính
ngay lúc ngộ đạo, cái thuyết “bất nhị” này, còn có chỗ
dung nạp hay không? Nếu không có chỗ dung nạp, thì Tổ Sư
đến đây cũng đáng ăn gậy.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Thánh phàm mê ngộ đều bất
nhị
,

Thấu rõ vốn từ tín tâm ra.

Tâm chẳng sanh diệt ai mê ngộ?

Khi không nhảy vào hầm lửa
hồng.

73. NGÔN NGỮ
ĐẠO ĐOẠN
, PHI KHỨ LAI KIM

DỊCH

Đường ngôn ngữchấm dứt,
chẳng phải quá khứhiện tạivị lai.

LỜI KHAI THỊ

Nói tâm tâm, phi tâmphi tâm.
Tâm là phi tâm, phi tâm là tâm, giở đầu lên kéo chẳng dứt,
buông tay xuống lại khó tìm. Những dây dưa này khởi từ
Tây Trúc đã hơn 2000 năm, trong đó Tổ Tây Thiên 28 vị, truyền
Đông Độ 6 đời, cho đến kẻ ngu độn 1700, bày đặt muôn
thứ, trừ mãi chẳng hết, kéo nhánh dẫn dây, thẳng đến
ngày nay, biến ra lò rèn trui phàm luyện thánh, hóa thànhtòng
lâm
, ngâm gió vịnh trăng. Bỗng có nhị kiến đua nhau khởi,
giúp cho dị-chứng (tu chứng khác biệt) bài xích nhau. Phát
thuốc đã nhiều mà bệnh càng thêm nặng, huống là lộn vào
độc của tà ma ngoại đạo, thành bệnh bó tay vô phương
trị. Ngày nay trị ngựa chết xem như trị ngựa sống.

Im lặng giây lâu nói : “Thuốc
cơ xảo gật đầu 3 cái để tỏ ngộ, ngoài ngôn ngữ câu
được cá lý ngư”.

LỜI NGHĨA GIẢI

Người nghĩa giải cho rằng
: Đã là đường ngôn ngữchấm dứt, thì bài MINH này chẳng
phải lời thừa hay sao! Xem lời “Chẳng phải quá khứhiện
tại
vị lai”, mới biết mặt mũi của Tổ Sư còn đây!

TỊCH NGHĨA GIẢI, RẰNG

Đừng nên xuyên tạc bậy bạ,
làm trò cười cho kẻ bàng quan; họ đâu biết lý vốn viên
dung
, đạo chẳng thể lìa, đường ngôn ngữchấm dứt
lại nói dài dòng đủ thứ, lời giải bừng bừng như lửa.
Chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, thanh tịnh pháp thân
thường tịch diệt, độc dượcđề hồ khuấy thành l chén,
vàng ròng miểng ngói vò thành l viên. Chỗ dùng không khác
lại có tiêu chuẩn, kẻ một chân đạp tới đáy, chẳng có
dấu tích; kéo 3 lần chẳng quày đầu, vọng tự tính toán.
Thật là Thánh sư của một đời, là mô phạm cho trăm kiếp,
rút tủy phượng hoàng ra làm món ăn lạ cho cửa Thiền; lấy
gân sư tử, dứt tuyệt tiếng vang nơi nhà chí linh. Dù vậy,
nhưng Tổ sư có chịu nhận cơm trà này hay không? Hãy thu dẹp
dây dưa, mặc cho luận bàn.

KỆ KẾT THÚC, RẰNG

Chim vẽ chén sành hót nhạc
xưa,

Lừa mù đêm khuya đổi giọng
ca.

Đường ngôn ngữ dứt, đạo
chẳng dứt,

Mặc kệ người đời loạn
suy tư.

ĐOẠN TỒNG KẾT

Phi văn phi tự, vô Phật
tâm
. Đem không lấp không, dùng độc trị độc. Công án của
Tổ Tăng Xán thường tồn, tiếng tăm của Tông Đạt Ma chẳng
suy. Mặc cho người đọc TÍN TÂM MINH, rất kî ghi nhớ lời
của Tổ. Thùng sơn đen vô ý đập lũng đáy, ngọc kỳ lân
ngay đó kéo quay về. Dùng hết gia tàicổ Phật, làm mù chánh
nhãn đương cơ. xin hỏi linh nghiệm ở câu nào?

 

TÍN TÂM
MINH
TỊCH NGHĨA GIẢI HẾT.

 
 

TIỂU SỬTÁC GIẢ
HÀNG CHÂUTHIÊN MỤC TRUNG PHONG

Minh Bổn Thiền Sư (1263-1323)
họ Tông, người Tiền Đường, mẹ nằm mộng thấy ông già
Vô Mông Khai cầm lồng đèn đến nhà, sau đó bà hạ sanh.
Ngay khi mới hiểu biết đôi chút, không cần dùng đến tả
nữa, là đã biết ngồi kiết già. Vừa biết nói là đã ca
ngay bài Tán Phật. Phàm chơi đùa đều làm theo Phật Sự
Chín tuổi, mẹ mất – Mười lăm tuổi, có ý muốnxuất gia.
Nhàn xem Truyền Đăng Lục, đến chỗ Am-ma-la nữ hỏi ngài
Văn Thù: “Đã biết rõ sanh là lý bất sanh, tại sao lại bị
sanh tử lưu chuyển?”. Do đó liền phát nghi.

Sau ngài đi tham vấnhoà thượng
Cao Phong Diệu.

Tính ngài Cao Phong Diệu rất
nghiêm khắc. Bình thường, khi nói chuyện, ngài không biểu
lộ
tình cảm ra sắc mặt. Vậy mà, khi vừa gặp ngài Minh
Bổn, thì ngài Cao Phong lộ vẻ rất vui mừng, hứa khả cho
xuống tóc liền.

Nhân khi tụng kinhKim Cang, đến
chỗ “gánh vác Như Lai”, trong tâm ngài hoát nhiên mở mang, đến
khi thấy nước suối chảy, bèn bừng tỏ ngộ. Ngài bèn chạy
đến Hòa ThượngDiệu Cao Phong cầu ấn chứng, bị hoà thượng
đánh đập đuổi ra.

Một hôm, nhân có lệnh vua
tuyển đồng nam đồng nữ vào cung, ngài Minh Bổn đến hỏi
hòa thượng Diệu :

Nếu bỗng nhiên có người
muốn hòa thượng lấy mấy người đồng nam đồng nữ thì
làm sao?

Hòa thượng Diệu đáp :

Ta cứ đưa cây trúc bề cho
họ. Sư ngay lời nói, ngộ triệt để.

Hòa ThượngDiệu Cao Phong liền
tự đề chân dung, phó chúc kệ cho sư :

Ngã tướng bất tư nghì

Phật tổ mạc năng thất

Độc hứa bất tiếu nhi

Đắc kiến bán biên tỉ

Dịch :

Ngã tướng bất tư nghì

Phật tổ chẳng thể biết

Chỉ hứa thằng du côn

Được thấy nửa bên mũi

Có người hỏi Hòa thượng
Diệu :

Trong các đệ tử của ngài,
ai hơn, ai kém?

Hòa thượng đáp :

Thủ tọa Nghĩa cố nhiên là
cây trúc già, nhưng vẫn còn bảy tám đốt cong. Chỉ duy na
Bổn mới thật là cây tre xuất sắc trong rừng tre. Sau này
thành đạt không thể hạn lượng.

Sư không ở nơi nào nhất định.
Khi thì dưới thuyền, lúc trong am cỏ. Mọi người gọi Sư
là “Huyễn Trụ”. Tăng tục giành nhau chiêm lễ, tôn xưng ngài
Cổ Phật miền Giang Nam.

Vua Nhân Tông nhà Nguyên thỉnh
sư về triều. Sư từ tạ không đến. Vua ban choáo cà
sa
kim lan và phong hiệu là Phật Từ Viên Chiếu Quảng HuệThiền Sư.

Sư thường quở người học
chỉ quí ngôn thuyết, chẳng cầu thực ngộ.

Ngài nói :

Nay người tham thiền không
được linh nghiệm là vì :

1. Không có chí khí chân thực
như người xưa.

2. Không lấy sanh tửvô thường
cho là việc lớn.

3. Tập khí từ nhiều kiếp
đã không buông xuống được, lại không giữ được quyết
tâm
bền vững, không lui sụt.

Bệnh tại sao?

Đó chỉ vì không nhận biết
được căn bản của sinh tử.

Phàm gặp người học, ngài
hỏi :

Ngươi gọi cái gì là sanh tử?

Thì họ hoặc mịt mù không
trả lời, hoặc trả lờisanh không biết chỗ đến, chết
không biết chỗ đi là sanh tử.

Sư nói :

Dẫu cho biết, cũng vẫn là
sanh tử!

Hoặc có người nói :

Một niệm khởi là sanh, một
niệm diệt là tử.

Sư nói :

Lìa một niệm khởi diệt cũng
sanh tử vậy. Phàm có lời nói đều là nhánh lá thôi,
chẳng phải căn bản. Cái căn bản là tánh chân thật viên
tròn sáng tỏ vốn chẳng có tướng sinh diệt khứ lai. Chỉ
bất giác bỗng khởi vọng tâm, lạc mất bổn nguyên, uổng
chịu luân hồi, cho nên nói “mê thì sanh tử bắt đầu, ngộ
thì luân hồi ngưng nghỉ”. Nên biết sơn hà đại địa, sáng
tối, sắc không, ngũ uẩn, tứ đại, cho đến các pháp động
tịnh, đều là nguồn gốc của sanh tử. Nếu chưa từng hướng
vào pháp chân thực, hoát nhiên siêu ngộ, lại còn ở ngoài
ngộ tạo dựng cuộc sống ngồi trong hang ổ, đối với biển
sanh tử hoặc còn mảy may chưa tẩy sạch, thì khó tránh được
sự mê hoặc của cảnh duyênthù thắng. Từ mê, sanh khởi
dị khiến, dù nói đã rõ rồi, chứ thực ra thì chưa. Cần
phải
thống thiếtđại sựsinh tử, cho đó là việc trọng
đại
nhất của mình. Tâm trộm cắp chết sạch mới có thể
hy vọng. Nếu còn mảy maykiến chấpthiện ác, lấy bỏ,
yêu ghét, dứt nối, thì sanh ra nhánh lá rồi, cần phảicẩn
thận
.

Ngày 15 tháng 8 năm Quý Hợi,
tức năm 1323 dương lịch, ngài thuyết kệ từ giã chúng rằng
:

Ngã hữunhất cú

Phân phó đại chúng

Cánh vấn như hà

Vô bản khả cứ

Dịch

Ta có một câu

Phó chúcđại chúng

Lại hỏi thế nào

Vốn chẳng căn cứ.

Rồi ngài buông bút ngồi mà
tịch. Đệ tử xây tháp thờ ngài nơi hướng Tây núi Thiên
Mục
.

Năm thứ hai niên hiệu Nguyên
Thông (1334) vua Thuận Đế nhà Nguyên Truyền cho ba chục quyễn
Quảng Lục vào Đại Tạng Kinh và phong ngài hiệu là Phổ
Ứng Quốc Sư.

Ghi Chú

Tâm trộm cắp : Ý ngài muốn
nói người tham thiền ngoài nghi tình, hễ có nổi lên bất
cứ một niệm nào, dù là Bồ đềNiết bàn, cũng đều chướng
ngại
cho sự kiến tánh, đều gọi là tâm trộm cắp.

 

信心銘Tín Tâm Minh

 至道無難唯嫌揀擇 1 Chí đạo vô nanduy hiềm giản trạch

 但莫憎愛洞然明白 2 Đản mạc tăng ái động nhiên minh bạch

 毫厘有差天地懸隔 3 Hào ly hữu sai thiên địa huyền cách

 欲得現前莫存順逆 4 Dục đắc hiện tiền mạc tồn thuận nghịch.

 違順相爭是為心病 5 Vi thuận tương tranh thị vi tâm bệnh

 不識玄旨徒勞念靜 6 Bất thức huyền chỉ đồ lao niệm tĩnh

 圓同太虛無欠無餘
7 Viên đồng thái hư vô khiếm vô dư

 良由取捨所以不如 8 Lương do thủ xả sở dĩ bất như.

 莫逐有緣勿住空忍 9 Mạc trục hữu duyên vật trụ không
nhẫn

 一種平懷泯然自盡 10 Nhất chủng bình hoài dẫn nhiên tự tận

 止動歸止止更彌動 11 Chỉ động quy chỉ chỉ cánh di động

 唯滯兩邊寧知一種 12 Duy trệ lưỡng biên ninh tri nhất chủng.

 一種不通兩處失功 13Nhất chủng bất thông lưỡng xứ thất công

 遣有沒有從空背空 14 Khiển hữu một hữu tùng không bối không

 多言多慮轉不相應 15 Đa ngôn đa lự chuyểnbất tương ưng

 絕言絕慮無處不通 16Tuyệt
ngôn tuyệt lự vô xứ bất thông.

 歸根得旨隨照失宗 17 Quy căn đắc chỉ tùy chiếu thất tông

 須臾返照勝卻前空 18 Tu duphản chiếu thắng khước tiền không

 前空轉變皆由妄見 19 Tiền không chuyển biến giai do vọng kiến

 不用求真唯須息見 20 Bất dụng cầu chơn duy tu tức kiến.

 二 見
不 住 愼
莫 追 尋
21 Nhị kiếnbất tụ thậnmạc truy tầm

 才 有
是 非 紛
然 失 心
22 Tài hữu thị phi phânnhiênthấttâm

 二 由
一 有 一
亦 莫 守
23Nhị donhất hữu nhất diệc mạcthủ

 一 心
不 生 萬
法 無 咎
24 Nhất tâmbất sanhvạnpháp vôcữu.

 無 咎
無 法 不
生 不 心
25 Vô cữu vô phápbất sanh bấttâm

 能 隨
境 滅 境
逐 能 沈
26 Năng tùy cảnh diệt cảnh trục năng trầm

 境 由
能 境 能
由 境 能
27 Cảnh do năng cảnh năng do cảnh năng

 欲 知
兩 段 元
是 一 空
28 Dục tri lưỡng đoạn nguyên thị nhất không.

 一 空
同 兩 齊
含 萬 象
29 Nhất không đồng lưỡng tề hàm vạn tượng

 不 見
精 麤 寧
有 扁 黨
30 Bất kiến tinh thô ninh hữu thiên đảng

 大 道
體 寬 無
易 無 難
31 Đại đạo thể khoan vô dị vô nan

 小 見
狐 疑 轉
急 轉 遲
32 Tiểu kiến hồ nghi chuyển cấp chuyển trì.

 執之失度必入邪路 33 Chấp chi thất độ tất nhập tà lộ

 放之自然體無去住 34 Phóng chi tự nhiên thể vô khứ trụ

 任性合道逍遙絕惱 35 Nhậm tánh hợp đạo tiêu dao tuyệt
não

 繫念乖真昏沈不好 36 Hệ niệm quai chơn hôn trầm bất hảo. 

 不好勞神何用疏親 37 Bất hảo lao thần hà dụng sơ thân

 欲取一乘勿惡六塵 38Dục thủ nhất thừa vật ố lục trần

 六塵不惡還同正覺 39 Lục trần bất ác hoàn đồng chánh giác

 智者無為愚人自縛 40 Trí giảvô vingu nhân tự phược.

 法無異法妄自愛著 41 Pháp vô dị pháp vọng tự ái trước

 將心用心豈非大錯 42 Tương tâm dụng tâm khởi phi đại thác

 迷生寂亂悟無好惡 43 Mê sanh tịch loạn ngộ vô hảo ác

 一切二邊良由斟酌 44 Nhất thiếtnhị biên lương do châm chước

 夢幻虛華何勞把捉 45 Mộng huyễn hư hoa hà lao bả tróc

 得失是非一時放卻 46Đắc thất thị phinhất thời phóng khước

 眼若不睡諸夢自除 47 Nhãn nhược bất thụy chư mộng tự trừ

 心若不異萬法一如 48Tâm nhược bất dị vạn phápnhất như.

 一如體玄兀爾忘緣 49 Nhất như thể huyền ngột nhĩ vong
duyên

 萬法齊觀歸復自然 50Vạn pháp tề quán qui phục tự nhiên

 泯其所以不可方比 51 Dẫn kỳ sở dĩ bất khả
phương tỷ

 止動無動動止無止 52 Chỉ động vô động động chỉ vô chỉ.

 兩 既
不 成 一
何 有 爾
53 Lưỡng ký bất thành nhất hà hữu nhĩ

 究 竟
窮 極 不
存 軌 則
54 Cứu cánh cùng cực bất tồn quỹ tắc

 契 心
平 等 所
作 俱 息
55 Khế tâm bình đẳng sở tác câu tức

 狐 疑
盡 淨 正
信 調 直
56 Hồ nghi tận tịnh chánh tín điều trực.

 一切不留無可記憶 57 Nhất thiết bất lưu vô khả ký ức

 虛明自照不勞心力 58 Hư
minh tự chiếubất lao tâm lực

 非思量處識情難測 59 Phi tư lượng xứ thức tình nan trắc

 真如法界無他無自 60Chân như pháp giới vô tha vô tự.

 要急相應唯言不二 61Yếu cấp tương ưng duy ngôn bất nhị

 不二皆同無不包容 62 Bất nhị giai đồng vô bấtbao dung

 十方智者皆入此宗 63 Thập phươngtrí giả giai nhập thử tông

 宗非促延一念萬年 64Tông phi xúc diên nhất niệm vạn niên.

 無在不在十方目前 65 Vô tại bất tại thập phương mụctiền

 極小同大忘絕境界 66Cực tiểu đồng đại vong tuyệt cảnh
giới

 極大同小不見邊表 67 Cực đại đồng tiểu bất kiến biên biểu

 有即是無無即是有 68 Hữu tức thị vô vô tức thị hữu.

 若不如此必不須守 69Nhược bất như thử tất bất tu thủ

 一即一切一切即一 70 Nhất tức nhất thiết nhất thiết tức nhất

 但能如是何慮不畢 71Đản năng như thị hà lự bất tất

 信心不二不二信心 72 Tín tâmbất nhịbất nhịtín tâm

 言語道斷非去來今 73 Ngôn ngữ đạo đoạn phi khứ lai kim

 

Tin Vào Tâm

1.Đạo lớn không khó với ai không
phân biệt.

2. Không còn yêu ghét, thì mọi sự
đều sáng tỏ, minh bạch,

3. Chỉ một thoáng phê phán cũng
khiến đất trời xa nhauvô tận

4. Muốn đạt chân lý hãy tránh phân
biệt
phải trái.

5. Bận rộn với đúng sai là bệnh của
tâm.

6. Chưa hiểu bản chất của sự vật thì
tâm còn bất an.

7.ĐườngĐạo hoàn hảonhư không gian,
không thiếu cũng không thừa.

8. Chính vì cứ khẳng định hoặc phủ
nhận nên chẳng bao giờ nhận được thực chất của sự vật.

9. Chẳng nên vướng mắc vào ngoại vật
hoặc đắm mình vào cảnh không bên trong.

10. Sống ung dungtự tại, hài hòa
với mọi sự vật thì chẳng còn mê lầm.

11. Càng muốn ngưng hoạt động để
được an tịnh thì càng vọng động.

12. Còn đi từ thái cực này sang thái
cực
khác thì càng xa tâm Phật.

13. Còn ôm giữ tâm phàm thì có năng động
hay an tịnh, khẳng định hay phủ nhận thì cũng chẳng tìm ratâm Phật.

14. Phủ nhận thực chất của sự vật là
không nắmđược thực tại.Công nhận sự vật không thật cũng không nắmđược thực tại.

15. Càng nghĩ càng bàn đến, thì càng
xa chân lý.

16. Thôi nghĩ bàn thì sẽ hiểuđược
tất cả

17. Trở về nguồn cội là tìm được
thực chất của mình.Chạy theohình tướng bên ngoài hay muốn giác ngộ là càng xa
lìa
nguồn cội.

18. Tỉnh thức dù chỉ trong chốc lát
cũng là vượt khỏi hình tướnghư không.

19. Ta coi những biến chuyển trong
hư không là thực chỉ vì còn mê lầm.

20. Chẳng nên đi tìm chân lý, chỉ
cần từ bỏ mọi quan niệm.

21. Không nên lúc nào cũng phân biệt
tốt, xấu; hơn thế nữa, nên thận trọngdẹp bỏthói quen này.

22. Còn quyến luyếnđiều nàyđiều nọ,
còn phê phánđúng sai, thì tâm sẽ rối loạn.

23. Dù tốt hay xấu cũng từ một gốc
mà ra, nhưng bám víu vào gốc này thì cũng chẳng nên.

24. Nếu trênđườngđạo tâm khôngxao động,
thì chẳng có gì làm bận lòng.Một khi sự vật không còn làm bận lòng, chúng không
còn như xưa.

25. Không còn quyến luyếntư tưởng
yêu ghét, cái tâm cũ không còn nữa.

26. Một khi “ta” và sự vật bên ngoài
không còn chia chẻ thì tâm cũng chẳng còn.Cũng như vậy, khi chủ thể suy tưởng
không còn thì các sự vật đối tượng cũng chẳng còn.

27. Vì có chủ thể nên mới có sự vật đối
tượng.Vì có sự vật nên mới có tâm chủ thể.

28. Hãy hiểu rằng chủ thể và đối
tượng chỉ là hai mặt của một thực tạiduy nhất: tánh không.

29. Trong tánh không này, hai mặt
thật sự chỉ là một và trong mỗi mặt là toàn thể các hiện tượng.

30. Nếu khôngphân biệt thô và tinh
tế
, thì cũng sẽ không có thành kiến hoặc quan niệm.

31. Sống theo đạo lớn không dễ cũng
chẳng khó.

32. Những ai có lối nhìn hạn hẹp
thường sợ hãi và thiếu cương quyết.Càng vội vã, càng tiến chậm.

33. Tâm còn hẹp hòi và còn ham muốngiác ngộhoàn toànsai lầm.

34. Cứ để mọi chuyện xẩy ra tự
nhiên
, thì chẳng cóđi hayở.

35. Cứ theobản tínhtự nhiên thì sẽ
bước tự do không vướng ngại.

36. Khi tâm vướng bận, chân lý bị
che khuấtmọi vật đều mờ ảo tối tăm.

37. Phê phán chỉ làm mệt mỏi và đemđến
khó khăn.Phân biệt, chia chẻ thì lợi ích gì?

38. Muốn bước trên đườngđạo, nên
tránh ghét bỏ cả thế giới của giác quan và của tư tưởng.

39. Thật vậy, hoàn toànchấp nhận
thật sự giác ngộ.

40. Kẻ hiền không mong cầu điều gì
trong khi người ngu xuẩn cứ tự trói buộc mình.

41. Chỉ có một chân lý, một đường đạo,
một giới luật, không có nhiều. Kẻ mê muội vì cần bám víu nên thích phân biệt.

42.Đi tìm trí tuệ bằng cái tâm phân
biệt
sai lầm lớn nhất.

43. Tĩnh và độngđều là ảo tưởng. Một
khiđ ã giác ngộ thì không cònyêu hay ghét.

44. Vì thiếu sáng suốt nên mới phân
biệt
tốt xấu.

45. Tốt xấu, phải trái giống như ảoảnh,
huyễn mộng.Có khờ mới muốn nắm bắt lấy chúng.

46. Phải từ bỏ những tư tưởng hơn
thiệt,đúng sai tức thời

 

47. Không bao giờ ngủ thì làm sao có
mộng.

48. Cái tâm khôngphân biệt thì vạn
vật
hiện hữu như thế, nghĩa là chúng có cùng một thực chất.

49. Hiểu được bí mật của thực
chấtđộc nhất này thì thoát khỏi mọi vướng mắc.

50. Nhìn được mọi vật như nhau
thì đạt đượctinh túy của đại ngã.

51. Không thể nào so sánh hay diễn
tả
trạng tháitự tại, không liên hệ này.

52. Khi không có hoạtđộng thì có
tĩnh và khi có tĩnh thì làm gì có ngưng hoạt động?

53. Khi những đối nghịch không còn,
thì trạng thái đồng nhất cũng không còn.

54. Khi đã đến trạng tháicuối cùng
này thì không thể áp dụngđịnh luật nào được nữa.

55. Vì cái tâmđồng nhất với đạo
không cần cố gắng nữa.

56. Nghi ngờ và ngập ngừng tiêu
tan
.Sự thậtsáng tỏ trong tâm.

57. Trong thoáng chốc, xiềng xích được
tháo gỡ.Không còn gì níu kéo, cũng không còn gì để bám víu vào.

58. Tất cả trống không, rõ ràng, tự
sáng tỏ, không cần vận dụng đến trí.

59. Tư tưởng, cảm xúc, tri kiếntrở
thành
vô nghĩa.

60. Trong cõi như thị này, chẳng còn
ngã cũng chẳng còn cái gì không phải là ngã.

61.Để sống hòa hợp với thực tại này,
mỗi khi ngờ vực thì chỉ cần nói “Không Hai”.

62. Trong “không hai”, không có gì
phân cách, không có gì bị loại ra ngoài.

63. Bất luận khi nào hay ở đâu, giác
ngộ
là bước vào chân lý này.

64. Chân lý vượt khỏi thời gian
không gian dù thu hẹp hay nới rộng. Trong chân lý này, một tư tưởng dài muôn
năm.

65. Hư vô ởđây hư vô ở kia. Thật ra,
vũ trụvô tận lúc nào cũng ở trước mắt.

66. Vũ trụ hoặc vô cùng bát ngát
hoặc vô cùngli ti.

67. Cũng như nhau thôi vì định nghĩa
và biên giớiđã tan rã.

68.Đối với hiện hữu và không hiện
hữu
cũng vậy.

69.Đừng phí thì giờbàn cãi hay tìm
hiểu
cái không thể hiểu.

70. Mỗi sự vật là sự thể hiện của
cái độc nhất.Đồng thời, cái độc nhất thể hiện dưới hình thức mọi sự vật.

71. Sống được như vậy thì chẳng còn
phải lo âu đến những gì không hoàn mỹ.

72. Tin vào Tâm là sống không chia
chẻ, là hòa mình với nguồn gốc của mọi sự vật..

73. Ngôn ngữ! Đạo vượt khỏi ngôn
ngữ
, vì trên đường Đạo không có hôm qua, không có ngày mai, không có hôm nay.

rgetB