Nguyên tác: Supra-Mundane, Psychic Powers
Tác giả: Phorn Ratanasuwan – Dịch giả: Tỳ khưu Thiện Minh


GIỚI THIỆU CỦA DỊCH GIẢ
Phiên
bản tiếng Anh cuốn sách của ngài Phorn Ratanasuwan mang tựa
đề Thần thông – Abhiññā (Những sức mạnh tâm linh siêu
thế của Đức Phật) là cuốn thứ ba trong số các tác phẩm
quan trọng của ngài cho đến lúc này, tôi đã cố gắng chuyển
ngữ sang tiếng Anh. Hai cuốn tôi vừa hoàn thành trước đó
và giờ đây đang phục vụ đông đảo các độc giả là cuốn
BUDDHAVIDYĀ , hay mang tựa đề tiếng Anh là BUDDHOLOGY, (Phật
Học) và cuốn thứ thứ hai là ĀNĀPĀNĀSATISAMĀDHI, mang tựa
đề tiếng Anh là ‘Meditation Based on Minhdfulness of Breaths’
(Hành Thiền Dựa trên Niệm Hơi Thở). Tác phẩm hiện các
bạn có trong tay được viết bằng tiếng Thái gồm ba tập
rất đồ sộ, đề cập đến toàn bộ sáu Abhiññā (phép
thần thông) có nghĩa là những sức mạnh tâm linh siêu thế
của Đức Phật. Tuy nhiên, dịch giả cảm thấy nên chia mỗi
tập nguyên bản thành hai phần hay hai tiết đoạn (tập). Với
mục đích không để cho quần chúng độc giả tiếng Anh, phải
chờ đợi cho đến khi hoàn tất toàn bộ tác phẩm nguyên
bản tiếng Thái, rất có thể sẽ còn mất một thời gian
dài nữa mới có thể thực hiện được. Với một tập nhỏ
hơn như tập tôi trình bầy quí vị độc giả ở đây, quí
vị độc giả sẽ cảm thấy không mất quá nhiều thì giờ
để có thể đọc hết cuốn sách. Ngoài ra, trong lúc đó dịch
giả cũng rất bận rộn thực hiện nhiều tác phẩm khác không
thể dành trọn thời gian để chuyển dịch tập sách này.
Như vậy, quả thật liên quan đến hoàn cảnh hiện nay, vấn
đề chính là “có còn hơn không”.
Có
điều không may là vào thời đại chúng ta những Abhiññā
(Phép Thần Thông) này, ngoại trừ phép thần thông cuối cùng
hầu hết đã bị giảm giá trị và đã bị bỏ qua ngoại
trừ phép thần thông cuối cùng. Tuy nhiên, giá trị của phép
thần thông cuối cùng tức là Āsavakkhayañanā: Lậu tận thông
vẫn không bị nghi ngờ và bị xem thường, mặt khác vẫn
còn được tán thành và thừa nhận. Phép thần thông này vẫn
còn là cột mốc hy vọng dành cho những Phật Tử chân chính
và nhiệt tâm thuộc hầu hết các trường phái và các môn
phái khác nhau, tuy nhiên phương pháp và phương cách tu luyện
có khác nhau tuỳ thuộc vào những sở thích và cách giải
thích của từng nhóm và của từng giáo phái. Nhìn chung đối
với các Phật Tử có khát vọng lương thiện đi theo những
mục tiêu, thì thành tích của họ được gọi là Sukkhavipassaka,
có thể nói, là những kẻ đã chứng đắc những yêu cầu
tối thiểu để đạt đến A-la-hán. Họ không chờ đợi chứng
đắc những phép thần thông còn lại, tức năm Abhiññā đã
đề cập đến ở trên, đó chính là việc lựa chọn và quyết
định chính đáng của họ; không ai có thể khiển trách họ
vì đã làm như vậy. Và đối với họ thế đã là đủ lắm
rồi.
Nhưng
đối với Đức Phật, vị Toàn Giác thì điều đó không đủ.
Sự giáng lâm của ngài là để thiết lập Pháp Vương trên
trần gian này giữa muôn vàn bất đồng nơi những giáo lý
thuộc tôn giáo khác nhau do rất nhiều cách và rất nhiều
vị thuyết giảng ở mọi thời đại. Với duy nhất những
thuộc tính là chứng đắc cho được những thuộc tính của
một vị A-la-hán về phạm trù Sukkhavipassaka đã đề cập
đến ở trên, ngài có thể rơi vào hiện trạng tốt nhất,
tuy nhiên cho dù có tuyệt hảo với những phẩm chất cơ bản
của nó, vẫn chỉ là một tiếng kêu yếu ớt của một con
ve sầu giữa những tiếng rống của một đoàn voi và giữa
những tiếng gầm kiêu hãnh của những con sư tử nơi cánh
rừng dầy đặc gai góc nơi những quan điểm hiện hữu.
Đây
chính là trường hợp, là điều một số Phật Tử nên chờ
đợi không chỉ chứng đắc được bậc A-la-hán nơi phạm
trù Sukkhavipassaka được trang bị với yêu cầu tối thiểu
chỉ để “vượt qua việc sát hạch” như thế. Nhưng lại còn
là điều khác nữa – và cũng là một điều khá nguy hiểm
đó là họ còn đánh giá xấu hay tệ hơn nữa là từ chối
không chấp nhận sự thật và khả năng, Đức Phật có thể
thực hiện được những Abhiññā đó. đây cũng giống như
một sinh viên trung bình hay yếu kém nhưng lại nhất mực khăng
khăng chống lại chân lý và những khả năng có những sinh
viên khác trổi vượt hơn họ về điểm số, về thứ bậc
và về những nét độc đáo.
Điểm
cần tranh luận, hay nói cách khác nguyên nhân bất hoà liên
quan đến năm Abhiññā, đó chính là khả năng phi thường
lại đi ngược lại với bản chất con người hay, chính xác
hơn, chống lại những định luật khoa học. Nhưng sòng phẳng
mà nói, một người hiện đại đã biết rõ bản chất con
người và cái gọi là luật khoa học được bao nhiêu, nếu
thực chất không muốn nói là quá ít ỏi? Một số kha khá
các nhà khoa học cởi mở và không có thành kiến đã công
bố những gì chúng ta biết được về bản chất nhân loại
chỉ là một “cái chóp nhỏ nhô lên nơi tảng băng chìm” và
cho rằng kiến thức khoa học của chúng ta đã có được,
cho đến giờ phút này vẫn còn xa mới đạt tới hoàn thiện,
hoàn hảo và chung cuộc. Những kiến thức đó luôn trải qua
nhiều thay đổi, sửa chữa và thêm thắt vào. Để đánh giá
sự việc chỉ qua cách quan sát vào “chóp đầu của tẳng băng
chìm’ và thiên về những điều chưa hoàn chỉnh và chưa
đạt đến mức hoàn hảo chung cuộc ít nhất ta cũng có thể
nói là điều không đáng khích lệ. Dẫn tới kết quả tồi
tệ nhất có thể xẩy ra đó là làm điều đó quả là điều
điên rồ và nguy hiểm.
Dịch
giả hy vọng các độc giả sẽ đọc với một tấm lòng cởi
mở những bài tường thuật được kể lại trong tác phẩm
hiện hành. Quả thực, có một số câu truyện quả là kỳ
cục và không thể kiếm cách chấp nhận theo nguyên từ được.
Nhưng lại có những chuỵên kể khác – rất nhiều là đàng
khác đáng để ta suy nghĩ kỹ càng trước khi quét sạch đi
với nhãn mác là phản lại định lụât tư nhiên và thiếu
khoa học. Chính vì thế đây là điều phải được dựa trên
phân tích khôn ngoan của nhà tư tưởng là người tìm kiếm
chân lý chân chính để tự định đoạt vấn đề này. Tác
giả và dịch giả chỉ là những lực lượng phối hợp để
trình bầy một cách trung thực những chuỵện kể này trước
toà án phán xét của các học giả. Đây là nơi chúng ta kết
thúc cố gắng này và cố gắng của các vị đó được bắt
đầu.
Siri
Buddhasukh
Giảng
viên tiếng Anh, tại hội đồng Giáo dục Mahamakut,
Viện
Đại học Phật Giáo, Thái lan.
Tháng
mười, P.L 2535
























