Tìm Hiểu Kinh “Bát Đại Nhân Giác”

0
176

TÌM HIỂU KINH
“BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC”
Thích Nữ Hằng Như

 

I. DUYÊN KHỞI

Tìm hiểu Kinh-Bat-Dai-Nhan-GiacTìm hiểu Kinh-Bat-Dai-Nhan-GiacỞ đời bất cứ sự kiện nào xảy ra cũng có nguyên do của nó. Như bài kinhBát ĐạiNhân Giácxuất hiện trên thế gian này cũng không ngoại lệ. (*) Kinh kể lại vào thời gianđức Phật trú ngụ tại tịnh xáKỳ Viên. Trong một buổi Pháp hội, tôn giả A-Na-Luật là một trong số mười vị đại đệ tử của đức Phật đã chứng được thiên nhãn thông, thưa với Ngài rằng:

Bạch đức Thế Tôn, bước đầutu tập của người xuất gia là loại trừ tham, sân, ngã mạn, tật đố để bản thân có phẩm hạnh vô ngã, vị tha, và đem lại nhiều phước lạc cho mọi ngườiBạch đức Thế Tôn, hiện nay Phật tửtại giahọc đạo khá nhiều, đệ tửxuất gia tiếp cận xã hộihoằng Pháplợi sinh cũng không ít. Làm thế nào để giúp các vị này tiến xa hơn đến chân trời giác ngộ, giải thoátNiết bàn. Cúi xin đức Thế Tôntừ bi khai thị.

Đức Phậthoan hỷ dạy rằng:

– Này A-Na-Luật, lời nói của ông rất đúng. Người xuất giacần phải trên cầu giác ngộ, dưới độ chúng sinh. Ngoài việc làmlợi ích cho nhân sinh, người xuất giahằng ngàycần phải tự mình thực hànhtám điều giác ngộ của bậc Đại nhân nhằm hướng đến mục tiêugiải thoát. Tôi sẽ vì câu hỏi của ông mà nói lên tám điều giác ngộ đó. 

Đây chính là nguyên nhân, đức Phật giảng nói kinh “Bát Đại Nhân Giác”.

Kinh “Bát Đại Nhân Giác”  được hiểu là “ tám điều giác ngộ của các bậc BồTát” hay là “tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân”.  (**) Bài kinh này mang số 779 bằng chữ Hán trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, được Ngài An-Thế-Cao dịch từ tiếng Phạn sang Hán ngữ vào năm 148 Tây lịch. An-Thế-Cao là Thái tử xứ An Tức (Parthie), nay một phần thuộc Ba-Tư (Persia, Iran), một phần thuộc A-Phú-Hãn (Afghanistan). Vào thời điểm đó, đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang vùng Trung Đông rất thịnh hành. Ngài An-Thế-Cao từ bỏ ngôi vua xuất giatu học, sau khi giác ngộ nền minh triết của đạo Phật, Ngài đến Trung Hoa hoằng pháp và dịch quyển kinh này sang chữ Hán.

Bản kinh chữ Hán của Ngài An-Thế-Cao được nhiều vị tôn túcViệt Nam dịch sang Việt Ngữ và giảng dạy cho tăng ni cũng như cư sĩ. Duyên sự, có thiền  sinh đặt câu hỏi về bộ kinh này, nên chúng tôi mạo muội chia xẻ bài “Tìm HiểuKinh Bát Đại Nhân Giác” để chúng ta cùng nhau ôn học.

 

II. BẢN VIỆT NGỮ KINH “BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC”

Mở đầu kinh viết: Là người đệ tử Phật,ngày đêm phải luônchí tâm tụng đọc và quán chiếuvềTám điều Giác Ngộ của các vị Đại Nhân.

-Điều giác ngộ thứ nhất:Thế gianvô thường, quốc gia nguy hiểm, mong manh. Bốn đại khổ, không. Năm uẩn không có ngã. Sinh diệtbiến đổi, hư ngụy, vô chủ. Tâm là gốc của ác, thân là nơi chứa của tội. Hãy quan sát như thế thì dần dần sẽ xa rời sinh tử.

– Điều giác ngộ thứ nhì:Nhiều tham muốn sẽ khổ. Sinh tử nhọc nhằn là do khởi từ lòng tham muốn. Không tham muốn và không tạo tác thì thân tâmtự tại.

– Điều giác ngộ thứ ba:Cái tâm này không bao giờ biết đủ và mãi luôn mong cầu. Cho nên nó làm cho tội áctăng trưởng. Bồ Tát thì không như thế. Các Ngài luôn có chánh niệm và biết đủ. Họ sống an nhàn, giản dị là để tu Đạo. Việc làmduy nhất của họ là tu tậptrí tuệ.

– Điều giác ngộ thứ tư: Lười biếng dẫn đến trụy lạc. Phải luôn tu hành tinh tấn, phá phiền não ác, hàng phụcbốn loại ma, và ra khỏi ngục tù của năm uẩnvà ba giới.

– Điều giác ngộ thứ năm: Ngu si dẫn đến sinh tử. Vì lẽ đó nên Bồ Tát luôn ở trong chánh niệm cùng đa vănhọc rộng để trí tuệtăng trưởngthành tựubiện tài. Giáo hóachúng sinh là niềm vui lớn nhất của các Ngài.

– Điều giác ngộ thứ sáu:Bần cùng khốn khổ nảy sinh nhiều oán hậnkết duyên ác ngang trái. Bởi vậy nên Bồ Tát luôn thực hành bố thí. Họ cư xửoan giathân thuộcbình đẳng như nhau. Các Ngài không ôm lòng tà ác hay căm ghét người xấu.

– Điều giác ngộ thứ bảy:Năm dục dẫn đến lỗi lầmhoạn nạn. Dẫu cho là người tại gia thì cũng đừng bị dục lạc của thế gian làm nhiễm ô. Phải luôn tưởng nhớ đến ba y, bát sành và Pháp khí. Phải lập chí nguyện xuất gia, thanh tịnhtu Đạo, sống tịnh hạnh cao thượng và từ bi với tất cả.

– Điều giác ngộ thứ tám: Sinh tửví như ngọn lửa cháy phừng và chúng mang theovô lượngkhổ não. Hãy phát tâmĐại thừa để rộng độ tất cả. Hãy nguyện vì chúng sinh mà thọ vô lượng khổ của họ và chỉ dẫn hết thảy đến niềm an lạccứu cánh.

Đây là 8 điều mà chư Phật, Bồ Tát và các bậc đại nhân đã giác ngộ. Các Ngài tinh tấnhành Đạo, khởi lòng từ bi, siêng tu trí tuệ, và chèo thuyền Pháp thân đến bờ tịch diệt. Rồi sau đó lại trở vềsinh tử để độ thoátchúng sinh. Các Ngài dùng tám điều trên để khai đạo tất cả, khiến các chúng sinhtỉnh ngộ nỗi khổ của sinh tử, xa lìanăm dục, và tu tâm nơi thánh Đạo.

Nếu đệ tử nào của Phật trì tụng tám điều này thì mỗi khi quán niệm, diệt được vô lượng tội, thẳng tiến về Phật đạo, và nhanh thành chánh giác. Họ vĩnh viễn sẽ đoạn trừ sinh tử và luôn sống an vui. (hết trích)

 

III. TÌM HIỂUÝ NGHĨA KINH “BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC”

– Kinh: Là những lời dạy của đức Phật, được kết tập lại thành bộ gọi là kinh. Lời Phật dạyphù hợp với chân lýthích hợp với căn cơ của chúng sanh, trải qua ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều đúng. Kinh Phật nói ra nhằm giáo hóachúng sanh, giúp họ ngộ ra lẽ thật, mà tu hành để được giải thoát.

 – Bát: Là tám. Đại nhân: Là người lớn. Người lớn ở đây, nên hiểu là người tu tậpgiác ngộ thấy rõ các pháp đúng như thực. Là người phát tâm tu lục độ chứng dần từ Sơ địa tiến đến Thập địa, gọi là Bồ Tát. Khi tự giác, giác tha, giác hạnhviên mãn thì thành Phật. Các vị Bồ-Tát này, Phật gọi là đại nhân.

– Giác: Là biết, là trí tuệ tối thượng do tu chứng mà thành, chứ không phải cái biết theo kiến thức của người thế gian.

Bát Đại Nhân Giác:tám điều giác ngộ của Phật và Bồ Tát.

Thông thường mở đầu mỗi bộ kinh đều có “lục chủng chứng tín” hay “lụcchủng thành tựu”, tức là sáu điều chứng của ngài Anan nêu ra để người khác nghe mà đủ lòng tin vào pháp thoại Ngài tụng, là do Phật Thích Ca thuyết.  Thí dụ bài “Kinh Tâm Hoang Vu” (Cetokhila sutta) thuộc Trung Bộ Kinh, mở đầu như sau:

Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá Vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này chư Tỷ-kheo.” — “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn…” (hết trích)

Sáu chứng tín của bài “Kinh Tâm Hoang Vu” gồm những điều như sau:

1. Văn:Tôi nghe” nghĩa là tôn giả Anan nghe, rồi thuật lại.

2. Tín:như vầy” chỉ pháp thoại mà Ngài Anan nghe Phật thuyết.

3. Thời:Một thời” là thời gian nói Kinh.

4. Chủ:Thế Tôn” là vị thuyết pháp.

5. Xứ:ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika”, nơi Phật thuyết pháp.

6. Chúng:Các Tỷ-kheo” là những người nghe Phật thuyết giảng.

Kinh “Bát Đại Nhân Giác” mở đầu không có phần này. Tại sao vậy? Hòa Thượng Thích Thanh Từ giải thích rằng:  (**) “Vì lúc bấy giờ Phật pháp mớitruyền vào Trung Quốc, người học Phật chưa thâm nhậpgiáo lý nhiều, nếu để trọn bộ kinh dày cho họ đọc, e không kham đọc nổi, nên Ngài An-Thế-Cao phương tiện rút từng phần tinh yếu của Phật pháp trong nhiều bộ kinh mà dịch, phân ra thứ tự tám điều giác ngộ, thành KinhBát Đại Nhân Giác”, để cho người mới phát tâmtu học dễ nắm được những điểm thiết yếu”.

– Điều giác ngộ thứ nhất:Nhận diệnvạn phápmong manh, biến đổi, vô thường. Vũ trụ thì do bốn đạikết hợp mà thành. Bốn đại đó là thủy đại, địa đại, phong đạihỏa đại. Chỉ cần một đại hư hoại thì cả vũ trụ cũng tàn lụi theo.  Con người do tập hợp của năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc là vật chất, là thân người có thể xúc chạm và nhìn thấy. Thọ là cảm giácđau đớn, cảm thọ  buồn vui, hận ghét. Tưởng là tri giác do hình ảnh tưởng tượng hiện lên trong đầu. Hành là phản ứng của tâm. Thức là cái biết phân biệtso sánh. Năm ấm còn gọi là năm uẩn. Mỗi ấm thành hình, cũng do nhiều điều kiện khác nhau hợp lại mà thành, nên thực chấtnăm ấm không có chủ quyền, không thực ngã, do đó nó sinh diệt thay đổi không ngừng. Nếu chấp năm ấm là thật, là ta, là của ta… thì khổ, vì danh sắc sẽ hư hoại bất cứ lúc nào!

Nói tâm là nguồn gốc của ác, vì gốc của tâm sẵn chứa tam độc tham, sân, si, lại nữa ngày đêm vọng tưởng tốt xấu luôn tiếp diễnhuân tập trong tâm tạo thành ý nghiệp. Nói thân là chỗ chứa nhiều tội lỗi, vì thân là nơi tạo nhiều nghiệp xấu ác qua lời nói (khẩu nghiệp) và hành vi làm khổ mình khổ người (thân nghiệp). Nếu chúng ta thường quán xét như thế, thì dần dầnxa lìa nỗi khổ sinh tử.

– Điều giác ngộ thứ hai:  Hiểu rằng càng tham muốn nhiều chừng nào thì thân tâm càng khổ nhiều chừng đó. Phải biết bao nhiêu nỗi lo buồn, cực nhọccả đời của con người đều do từ lòng tham muốn, khát ái mà ra. Nếu tâm ít ham muốn, ít chạy theo nhu cầu ngũ dục, thì thân tâm sẽ được bình ổn, nhẹ nhàng.

– Điều giác ngộ thứ ba:Giác ngộ rằng tâm người phàm phu luôn đầy vẫy những lậu hoặc, tham khát ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy… Càng dính mắc và nô lệngũ dục càng nhiều, thì nghiệp ác  gây ra càng lớn. Các bậc Bồ Tát thì không như thế. Bồ Tát là những vị tu tập để thành Phật. Dù cũng sống lăn lộn trong biển khổ nhưng các Ngài luôn giữ chánh niệm, nghĩ nhớ đến pháp tri túc, sống đạm bạc an vui, để tâm cho việc tu hành phát huy tuệ giác.

– Điều giác ngộ thứ tư: Giác ngộ rằngsự lười biếng khiến con ngườiuể oải, mệt mỏi, lâu ngày  tự tìm thú vui hưởng thụ, dễ sa vào trụy lạc, làm nhiều điều xấu ác. Là người học đạo phải tinh tấn tu tập để xua tan phiền não, hàng phục bốn loại ác ma, ra khỏi ngục tù của năm uẩn và ba giới.  Bốn loại ác ma gồm:

1. Phiền não ma: Là sợi dây trói buộc của tam độc (tham, sân, si) gây não hạithân tâm, phá hoại đường tu đạo.

2. Ngũ ấm ma:lục căn, lục trầnlục thức (thập bát giới). Là  tất cả những hiện tượngtinh thần, vật chấtxung quanh vây hãm, che lấptrí huệthanh tịnh, ngăn cảncông đức thiện lành không cho phát triển. Nếu người tu chưa nhận raTam giớiduyên khởitánh không”, chấp trước khi thân đạt chư pháp không tướng, thì người đó đang bị ngũ ấm ma khống chế. Nếu quán không tịch, tất cả vạn pháp, hữu vi, hay vô vi đều bất khả đắc, tức thì ma cảnh biến mất.

3. Tử ma:Tử ma, là khi 4 đại phân tán, cái chết ngăn chận sự kéo dài huệ mạng. Hoặc khi phát tâm tu chánh đạo, nửa chừng lâm trọng bệnh mạng chung hoặc bị hại chết. Hoặc lúc tu hành thì sanh tâm sợ chết không được hưởng thụ dục lạc, vội bỏ đạo nửa chừng. Tất cả những hoàn cảnh đó, là do bị tử ma sở nhiếp.

4. Thiên tử ma:ma vương ở trong tầng Trời thứ 6 của Dục giới (Tha Hóa Tự Tại), Thiên tử ma rất sợ đệ tử của Phật tu hànhđắc đạo lìa khỏi dục giới, nên sai khiến chư quỷ thầnquyến thuộc ma tâm đến cám dỗ, xúi giục phá hoại thiện căn phước lành của người tu. Có khi ma quânhiện ra các hình ảnhghê rợnkhủng bốtinh thần người tu. Có khi hiện rahình ảnh nhu hòa khả ái để quyến rủ người tu. Có khi hiền lành dễ mến, có lúc hung tợn dữ dằn quấy nhiễu làm cho tinh thần người tu rối loạnsợ hãibất an.

Để đối trị với ma quân nhiễu loạn, hành giả nên tỉnh thứcliễu tri tất cả sở hữu kiến, văn, tư tưởng…  đều không thực chấtchất tính, bổn lai không tự sanh. Xem tất cả như không có gì, thì ma cảnh biến mất. Chúng ta nhớ lại gương đức PhậtThích Ca trước khi thành đạoVô Thượng Chánh Đẳng Giác cũng bị vô sốma quânquấy nhiễu. Cuối cùng tất cả ma quân đều bị đức Phậthàng phục.

Dục giới, Sắc giớiVô sắc giới:ba cõi sống của chúng sanh. Dục giới là cõi sống của loài người. Loài người là những chúng sinh có thân, có ý thức, và  có lòng tham dục. Sắc giới là cõi sống của loài Trời. Loài Trời là chúng sanh không còn dục vọng, nhưng còn sắc thânvi tế. Vô sắc giớicõi giới cao hơn, chúng sanh ở cõi này không còn lòng dục cũng không có sắc thân, chỉ còn tinh thầnthuần túy mà thôi!

– Điều giác ngộ thứ năm: Phải giác ngộnguyên nhân của luân hồisinh tửvô minh (ngu si), vì thế chúng ta phải noi gương các bậc Bồ Táthọc rộng, nghe nhiều về Phật pháp. Hiểu rõ điều đã nghe, rồi phải thực hành, để trải nghiệm thân chứngtâm chứng, phát huy tuệ giác, đạt đượcbiện tài vô ngại, hầu có khả năng giáo hóamọi người theo tinh thần tự độ, độ tha.

– Điều giác ngộ thứ sáu:Giác ngộ rằng con người sinh ra trong hoàn cảnhnghèo nàn khốn khổ, phần đông thường bị giam hãm trong oán hậncăm thù, do đó họ tạo nhiều nghiệp xấu ác, phải chịu quả khổ. Các bậc Bồ Tátthương xót họ nên thường thực hành hạnh bố thí không phân biệt kẻ thân người sơ. Đối với những người gian ác hay những người đã từng gây phiền não cho mình, các Ngài cũng bỏ qua và đối xử bình đẳng, giúp đỡ họ không phân biệt. Đây gọi là bố thí ba-la-mật.

– Điều giác ngộ thứ bảy: Giác ngộ rằng năm thứ ham muốn: sắc, thanh, hương, vị và xúc pháp (ngũ trần) gây nên tội lỗihoạn nạn. Dù là Phật tửtại gia cũng nên né tránh không để những thứ dục vọng này quyến rủ.  Nên nuôi chí nguyệnxuất gia. Là người xuất gia, khi vào đời hóa độchúng sanh nên biết rằng tài sản của người xuất gia chỉ ba y, một bát, tứ sự khác như: thức ăn, thuốc men, y áo, sàng tọa, chỉ là pháp khívừa đủnuôi dưỡng tấm thân để tu đạo. Đối với tự thân luôn giữ giới hạnh nghiêm minh, thanh bạch. Đối với chúng sanh một lòng từbi thương xót.

– Điều giác ngộ thứ tám:Giác ngộ rằng sinh tử như ngọn lửa đang cháy phừng thiêu đốt mọi loài. Con ngườisi mêchấp nhậnluân hồisinh tử hết đời này sang đời khác thật vô cùngthống khổ. Biết thế, nên chúng ta lo tu tập để tự giải thoát mình, nhưng không quên noi gương các vị Bồ Tátphát tâmquảng đại, nguyện thay thế chúng sanh chịu khổ và giúp cho họ đạt đượccứu cánh Niết-Bàn.

Đó là tám điều mà Phật và Bồ Tát đã làm và đã giác ngộ. Khi thành Đạo rồi, các Ngài trở lạicon đườngsinh tử để hóa độchúng sanh.  Các Ngài khai thị hướng dẫn chúng sanhtu tập theo tám điều giác ngộ nêu trên.

đệ tử Phật nếu chuyên cầnđọc tụng, thực hành tám điều dạy này, sớm muộnchúng ta cũng sẽ dần dầnxa lìa, nếu không nói là  sau cùng cũng vĩnh viễnđoạn tuyệt với sinh tử, sống đời an vui.

 

IV. KẾT LUẬN

Đạo Phậtđạo từ bi và trí tuệ. Đọc tụngbài kinhBát Đại Nhân Giácchúng ta học theo tinh thầntừ bi, lấy trí tuệ làm sự nghiệp của chư Phật, chư Bồ tát. Kinh nhắc nhở chúng ta tám điều quan trọng cần phảihọc hỏitu tập. Đó là phải luôn quán xét vạn pháp trong đó có tấm thân ngũ uẩn của con người không thực chất tính nên nó vô thường, khổ, không, vô ngãGiác ngộ về vô thườngvô ngãchúng ta sẽ không còn tham cầu mong muốn thỏa mãnngũ dụccá nhân. Chúng ta học bài thiểu dục tri túc, vui sống đời đạm bạc, nuôi lớn chí nguyệnxuất gia.

Học pháp Phật, chúng ta biết rằng vô minhnguyên nhân đưa đến đau khổ, luân hồisinh tử, vì vậychúng ta phải hình thành tuệ giác, qua lộ trình văn-tư-tu, trước hết tìm cáchgần gủi các bậc thiện tri thức, nghe giảng Phật pháp, tư duy về Phật pháp, rồi thực hành để trải nghiệm thân chứng, tâm chứng, phát huy trí huệ, biện tài vô ngại, hầu có khả năng để giúp đỡ người khác.

Tóm lại, là cư sĩ hay phàm tăng sinh ra trong thời mạt pháp, chúng ta cùng đi chung trên con đường bụi bặm của thế gian. Tự vấn lòng, hiểu rằng đạo nghiệpchúng ta hãy còn yếu kém, bởi đâu đó trong tâm vẫn còn tham ái, tật đố, ngu si, lười biếng, ích kỷ … Biết như thế, chúng ta cần noi gương các bậc Đại nhân, tâm niệm về tám điều giác ngộ nêu trên, giữ tâm đoan chính, lập chítu họcvững bền, miên mật công phu, để không bị ngũ dụclôi cuốn, hầu nâng cao phẩm hạnh đạo đức giúp ích cho đạo, lợi lạc cho đời, và lấy đó làm tư lương cho con đườngtâm linh  tiến đến chân trời giác ngộgiải thoát.

Trước khi chấm dứt bài viết, nguyện cho tất cả mọi người, những ai nghe, thấy, đọc bài kinhBát Đại Nhân Giác” đều phát tâmtu tập để được an vui ngay trong đời thường…

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

(An Cư Kiết Xuân 14/2/2023 tại Thiền ViệnChân Như, Navasota, TX)

 

Chú thích:

(*) Trong bài viết “Nghĩ về 6 điều giác ngộ của bậc Đại Nhân”, tác giả: TT. Thích Phổ Huân ghi nhận theo lời Đại Sư Tịnh Vân. (Đại Sư vừa viên tịch tại Đài Loan vào lúc 5 giờ sáng, ngày 06/2/2023 hưởng đại thọ 97 tuổi, 85 năm đại hạ. Chúng con hàng hậu học kính góp lời cầu nguyện cung tiễn đại lão Hòa Thượng về cõi Phậtthanh tịnh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật) .

(**)  Lời đầu sách “Kinh Bát Đại Nhân Giác” của Trưởng LãoHòa Thượng Thích Thanh Từ.

Xem thêm:

Kinh Bát Đại Nhân Giác (HT. Thích Trí Thủ)
Kinh Bát Đại Nhân Giác (HT. Thích Trí Thủ)
Kinh Bát Đại Nhân Giác (Đại sư Tịnh Vân-Thích Minh Quang dịch)
Kinh Bát Đại Nhân Giác Lược Giải (Thích Thiện Huệ)
Kinh Bát Đại Nhân Giác Giảng Giải (HT. Thích Thanh Từ)
Kinh Bát Đại Nhân Giác (HT. Thích Nhất Hạnh)
Kinh Bát Đại Nhân Giác (HT. Tịnh Không)
Kinh Bát Đại Nhân Giác (Giảng Giải) (HT Thích Thanh Từ)
Kinh Bát Đại Nhân Giác (Thích Thánh Trí)
Kinh Bát Đại Nhân Giác Dịch Việt Và Chú (Phước Nguyên dịch)