|
THỪA TỰ PHÁP
Minh Tuệ
“Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các Thầy trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự Pháp, không phải là những người thừa tự tài vật”. Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Thầy trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật”. Thế nào là thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật? Thế nào là thừa tự tài vật, không thừa tự Pháp? Phật kể câu chuyện để minh họa: Có hai Tỷ-kheo từ xa đến thăm Phật sau khi Phật vừa dùng bữa xong. Cả hai đi đường xa bị đói khát nên rất mệt. Phật dùng bữa xong còn lại một ít thức ăn trong bình bát. Ngài bảo hai vị Tỷ-kheo ai thấy cần thì dùng, nếu không Ngài sẽ đổ thức ăn ấy vào chỗ không có cỏ xanh hay bỏ xuống chỗ nước không có côn trùng sinh sống. Dù rất đói, vị Tỷ-kheo thứ nhất nghĩ nhớ đến lời khuyên “thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật” của Phật nên quyết tâm nhẫn chịu qua đêm với cái bụng cồn cào. Vị thứ hai nghe Phật Như vậy, ý nghĩa thừa tự Pháp mà Đức Phật muốn khuyên nhắc các đệ tử mình là hết sứcrõ ràng. Ai quyết tâm sống trọn lời Phật dạy, người ấy thừa tự Pháp, có khả năng kế thừa đại nghiệp của Phật, xứng đáng là bậc sứ giả của Như Lai. Phật khen vị Tỷ-kheo thứ nhất bởi vì vị này thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật, tức quyết tâmtu tập, uốn nắnbản thân theo đúng lời Phật dạy, không ăn phi thời, không vì cảm giácđói khát khó chịu nhất thời mà bỏ qua lời Phật. Đây là công phutu trì, tức quyết tâm nghiêm trì giới luật của Phật nhằm khắc phục các thói quentham muốndục lạc, chuyển hóa chúng thành nếp sốngtri túc, nhờ đó con ngườidần dần được tự do, hoặc nói theo lời Phật là trở nên “ít dục, biết đủ, có khả năng kham nhẫn, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn”2 hoặc “ít lăng xăng, lắng dịu, hoan hỷ với sự hiến cúng của người khác, sống với tâm tư như con thú rừng”3. Đây cũng chính là kết quả cụ thể của nếp sống thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật, tức dấu hiệu tiến bộ của hành giảtu Phật trong vấn đềđiều phục và chuyển hóabản thân, khiến cho thân tâm trở nên thư thái nhẹ nhàng, không còn bị các ham muốndục lạc hay dục vọng lôi kéo và chi phối, tạo điều kiệnthuận lợi cho các bước hành tập sâu hơn về hướng đi giải thoát, tức sự đào luyện nội tâm hay thực hành thiền định. Trong phần tiếp theo của bài kinh, Tôn giả Sàriputta làm rõ hơn ý nghĩa và tinh thần thừa tự Pháp của Phật. Tôn giả cho rằng có ba trường hợp người xuất gia được xem là kẻ thừa tự Phật pháp, xứng đáng được tán thán. Thứ nhất là sống hạnh viễn ly giống như bậc Đạo sư, tức thể hiện một nếp sống rời xa ái dục, chuyên tâmhành trìthiền định để chứng ngộtâm giải thoát, tuệ giải thoát hay thực chứng Niết-bàn. Thứ hai là tuân thủ đầy đủ các học giới do bậc Đạo sưban hành, tức những gì bậc Đạo sư dạy nên từ bỏ, không nên vi phạm thì cần phảiquyết tâmtừ bỏ, không có vi phạm. Thứ ba là thực thi đời sốngPhạm hạnh một cách tinh chuyên, tức sống nếp sốngtri túc giản dị của người xuất gia, không xem trọng vật chất, tinh cầntinh tấn tu tập, không lười biếng, không sa đọa vào thế giớidục lạc, có ý thứctrách nhiệm đối với mục tiêugiải thoát của bản thân, thuật ngữ gọi là “không bỏ rơigánh nặng sống viễn ly” (na paviveke nikkhittadhurà). Và Tôn giảnhấn mạnh: “Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không bỏ rơi gánh năng sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các Thượng tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các Trung tọa Tỷkheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các Trung tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không bỏ rơigánh nặng sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các Trung tọa Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỷkheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không bỏ rơigánh nặng sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỷ-kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỷ-kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán”4. Nhìn chung, thừa tự Pháp là thừa tự sự nghiệpgiác ngộ của Phật, được thể hiện qua nếp sốngthực hành nghiêm túc con đường giới-định-tuệ, hướng đến mục tiêugiải thoátgiác ngộ. Phật mong muốn các học trò mình thừa kếđúng đắn đường hướng giác ngộ của Phật để đạt đượctiến bộlợi lạctrong đời sống tu học và để tiếp nốisự nghiệp chia sẻ kinh nghiệmgiác ngộan lạc cho mọi người. Đây được xem là trách nhiệm lớn của người xuất gia trong ý nghĩanỗ lựchành trì và thực chứnglời Phật dạy vì mục đíchtự lợi và lợi tha. Cuộc đời có lắm khổ đau bởi mê lầm, luôn cần đến những con ngườigiác ngộ để giúp cho chúng sinh bớt mê lầm khổ đau. Những người học Phật biết rất rõ rằng Phật chỉ có một bộ y (ba y) và cái bình bát là vật sở hữu nhưng Phật làm lợi ích cho vô sốchúng sinh. Sở dĩ như thế là vì Phật là bậc giác ngộ, có đầy đủ giới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức. Tài sản Phật để lại cho đời cũng không có gì ngoài những lời dạy về tăng trưởnggiới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức. Nhưng đó là tài sảnvô giá, có khả năng giúp cho con người tự tìm thấyhạnh phúc cho chính mình và đem lại hạnh phúc cho người khác. Bởi Pháp của Phật có ý nghĩa và giá trị to lớn như vậy đối với sự sống hạnh phúc của muôn loài chúng sinh, cho nên Phật khuyên nhắc người xuất gia phải thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật; vì chỉ có Pháp, tức sự thành tựugiới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức mới thực sự khiến cho người xuất gia sống hạnh phúcan lạc và giúp cho người khác được hạnh phúcan lạc. Ngài nêu rõ kết quả lợi lạc, đáng nỗ lựctheo đuổi của nếp sốngxuất gia thừa tự Pháp5. “Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người. Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người khác đầy đủ giới hạnh; Tự mình đầy đủ thiền định và khuyến khích người khác đầy đủ thiền định; Tự mình đầy đủ trí tuệ và khuyến khích người khác đầy đủ trí tuệ; Tự mình đầy đủ giải thoát và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát; Tự mình đầy đủ giải thoát tri kiến và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát tri kiến. Đầy đủ năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người”. Chú thích: 1. Kinh Thừa tự Pháp, Trung Bộ. 2. Kinh Thừa tự Pháp, Trung Bộ. 3. Kinh Ví dụ con chim cáy, Trung Bộ. 4. Kinh Thừa tự Pháp, Trung Bộ. 5. Kinh Hạnh phúc cho ai (4), Tăng Chi Bộ. Bài đọc thêm: http://thuvienhoasen.org/a20910/nam-phap-khien-chanh-phap-khong-diet-o-thoi-mat-phap Suy tư về Phật Pháp qua ba thời kỳChánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp (Thích Phổ Huân): |



























