Thích Nữ Liên Thuận
Giọng đọc miền Bắc: Ngọc Huyền


Tóm tắt: Tăng hay Tăng đoàn là phiên âm từ chữ Saṅgha (Pali) hoặc Saṃgha (Sanskrit), có nghĩa là một nhóm người, một hội chúngsinh hoạt trong cùng một mục đích, một quy luật chung. Về sau, khi đoàn thể đệ tử của Thế Tôn ra đời, danh từ Tăng đoànthường dùng để chỉ hội chúngxuất gia của Thế Tôn, gồm: Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di Ni. Do đó, Tăng hay Tăng đoàn còn được gọi là Tăng bảo, ngôi báu thứ ba trong ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng. Tăng đoàn là những người sống với đời sốnghoà hợp, để hỗ trợ cho nhau thực hiệnđời sốnggiải thoát và giác ngộ, đồng thời làm chỗ nương tựa cho chúng sinhtu học.
SỰ RA ĐỜI CỦA TĂNG BẢO
Khi ánh sao mai vừa tỏ rạng cũng là lúc Đức Phậtthành tựuchân lýtối thượng. Ngài nhìn về chúng sinh rồi thiền quán, Đức Phật thấy chúng sinh đang trầm luân trong sinh tử, bị che đậy một lớp bụi dày của vô minh. Thương tưởng hàng chúng sinh trong lục đạo, Đức Thế Tôn rời khỏi cội Bồ đề đem nguồn chân lýhoá độquần sinh. Đầu tiên, Ngài tìm đến năm anh em Kiều Trần Như để khai thuyết cho họ về pháp Tứ đế, Duyên khởi, Bát chánh đạo… Kể từ đây, giáo pháp được hình thành và Tăng bảo cũng khởi nguyên từ đó.
Tăng Bảo tiếng phạn là Saṅgha, Trung Hoa dịch là Tăng đoàn, nghĩa là một đoàn thể sống với đời sốnghoà hợp, thanh tịnh, hỗ trợ nhau thực hiệnđời sốnggiải thoátgiác ngộ. Chính đời sống như vậy, Tăng bảo có thể trở thành mảnh đất trù phú cho mọi người gieo trồng hạt giốngphước đức và làm nền tảng cho mọi đời sốngphạm hạnh, tiến bộtâm linh. Tăng bảo là ngôi báu thứ ba trong ba ngôi báu Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Đồng thời, hội chúng của Tăng bảo gồm: Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Thức xoa, Sa di, Sa di Ni, từ 4 vị Tỳ kheo trở lên.
Sau khi Tăng đoàn đã đủ lớn mạnh, Đức Phật dạy các hàng Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, hãy đi đi, đi khắp nơi vì lợi lạc và hạnh phúc của số đông, do lòng từ bi đối với cuộc đời, vì lợi lạc và hạnh phúc của trời và người. Chớ đi hai người chung đường với nhau. Này các Tỳ kheo, hãy thuyết giảnggiáo pháp cao thượng ở lúc khởi đầu và cao thượng ở lúc giữa, cao thượng ở lúc cuối trong tâm trí và trong ngôn từ. Hãy rao giảng sự toàn hảo viên mãn, đời sốngthanh tịnh của trạng thái cao cả. Có những kẻ mà trí óc chỉ bị che mờ bởi đôi chút bụi bặm, nhưng nếu khôngđược giải thoát: những kẻ ấy sẽ hiểu pháp” (Mahāvagga I, 11- Đại phẩm).
Năm tháng trôi qua, bước chân trần của Đức Phật đã rảo bước khắp mảnh đất linh thiêngẤn Độ, ánh đạo vàng đã chiếu sáng khắp năm châu bằng nhiều phương tiện khác nhau, hoá độ cho những con người khác nhau, từ những hoàn cảnh khác nhau, để rồi dẫn dắt nhân loạitrở về với chánh đạo. Và rồi suốt 45 năm hoằng hoá độ sinh, kim tướng của Đức Phật không còn nữa trên cuộc đời. Chánh pháp được hàng Tăng bảoduy trì và phát huy hưng thịnh, lưu truyền mãi trên cõi đời.
THANH TỊNH VÀ HÒA HỢP
Tăng bảo với sứ mệnh là “Sứ giả của Như Lai”, đồng thời phải trau dồi Giới – Định – Tuệ, bởi đây là cẩm nang giúp hành giảgạn lọcthân tâm, diệt trừdục vọng, nhổ sạch tham áivô minh, đi qua bên kia bờ sinh tử và đạt đếngiải thoát. Đây là di sảnvô giá mà Đức Thế Tôn đã tìm ra. Từ đó, có đủ khả năng và trách nhiệm truyền tải giáo lýtừ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha của Đức Phật vào quảng đạiquần chúng. Thành phầnTăng bảo là những bậc hảo tâmxuất gia với hành động vị thavô ngã, luôn ý niệm về sự giải thoát và dẫn dắt chúng sinh xa rời những giả tạm của cuộc đời. Bởi vậy hạnh nguyện của các vị luôn là:
“Huỷ hình thủ khí tiết
Cát ái từ sở thân
Xuất gia hoằng thánh đạo
Thệ độ nhất thiết nhân”.
Nói đến Tăng đoànPhật giáo, người ta nghĩ ngay đến hai đặc tínhtiêu biểu là “thanh tịnh và hoà hợp”. Trên cơ sở y cứ vào giới luật mà hai tính chất này mãi tồn tại trong Tăng đoàn, giúp Phật giáo thăng hoa trong suốt chiều dài lịch sử. Chính bởi sự thanh tịnh và hoà hợp này mà vua Pasenadi sau nhiều lần chứng kiến lối sinh hoạt của Tăng đoàn phải thoát lên lời kính phục: “…Bạch Đức Thế Tôn vua chúa thường tranh chấp với vua chúa, Sát đế lợi thường cãi lộn với Sát đế lợi, bạn bè thường hơn thua với bạn bè. Còn ở đây con thấy các thầy Tỳ kheo sống với nhau rất thuận hoà thân hữu, không cãi lộn nhau, hoà hợp như nước với sữa, nhìn nhau bằng cặp mắt ái kính, Bạch Đức Thế Tônngoài ra con không thấy một phạm hạnh nào khác viên mãnhoà hợpthanh tịnh như thế” (Trung Bộ Kinh II, Kinh Pháp Trang Nghiêm).
Thanh tịnh và hoà hợp là hai điều kiệnhết sức quan trọng và tương quan mật thiếtvới nhau. Nếu thiếu một trong hai điều kiện này, bản thểTăng đoànnhất định không thành tựu. Cho nên, trong Kinh Tăng Chi III, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, tử thi có thể bị ném vào đại dương, nhưng đại dương không bao giờ dung chứa tử thi. Nó nhanh chóng bị đẩy vào bờ và quăng lên đất khô. Cũng vậy, nếu Tỳ kheo nào không giữ được hạnh thanh tịnh thì Tăng thân sẽ không sống chung với kẻ ấy hãy nhanh chóng tụ họp lại loại kẻ ấy ra. Dù kẻ ấy có ngồi giữa tăng chúng kẻ ấy cũng xa rời tăng chúng và tăng chúng cũng không ôm trọn kẻ ấy”.
Tỳ kheo là một hành giả mang sứ mạnggiữ gìn kho báu của Đức Thế Tôn đã gầy dựng, vì thế đòi hỏi phải có một tư lươngvững chãi. Giáo phápĐức Phật đòi hỏi sự nỗ lựcthực hành và sự toàn diệnđạo đức của mỗi cá nhân là nét đẹp trang nghiêm cho đoàn thể. Mỗi vị Tăng, Ni sống đúng như giới luật Phật chế là nguồn năng lựcvô biên cho sự lớn mạnh của Tăng đoànthanh tịnh. “Trú pháp vương gia, trì Như Lai tạng” chính là bản nguyệnxưa nay của bao thế hệTăng Ni, sống trong nhà Như Lai, mặc áo Như Lai và ngồi tòa Như Lai. Đây vừa là con đường đạo vừa là mục đích sống, cũng là trách nhiệm của mỗi hành giảđệ tử Phật. Tất cả ngồi lại với nhau trong tinh thầnhòa hợp và thanh tịnh, luôn luôn phản tỉnh để cùng nhau làm sống lại hình bóng giải thoátthanh tịnh của Tăng đoàn. Điều đó giúp Phật pháptrường tồn ở thế gian, trở thành một giáo đoàngương mẫu của nhân loại.
Thiết nghĩ, từ khi Đức Thế Tônnhập Niết bànđến nay đã trải qua bao xuân thu mà Tăng đoànPhật giáo vẫn bền vữngtồn tại giữa muôn ngàn thăng trầmbiến đổi. Điều này chứng tỏtinh thầntu học của Tăng Ni ngày càng tỏa sáng. Cho nên trách nhiệmxây dựng và bảo vệ ngôi nhà chánh pháp đều tùy thuộc vào sự tu học của Tăng đoàn, nếu Tăng sĩ biết trưởng dưỡngđạo tâm, hằng sống trong giới hạnh và chánh pháp, biết đoàn kết hoà hợp thì ngôi nhà đạo pháp ngày một trang nghiêm. Mối quan hệ giữa trưởng dưỡngđạo tâm và đoàn kết hoà hợp là mối quan hệ hữu cơ và biện chứng. Cả hai hình thành nền tảng và khung sườn cho ngôi nhà đạo pháp được đứng vững. Mỗi Tăng Ni là một viên gạch hình thành ngôi nhà Phật pháp và mỗi bức tường chính là Tăng đoàn, gạch mà không đủ chất lượng thì sẽ làm sụp đổ ngôi nhà đạo pháp. Và ngược lại, những viên gạch đó nếu đầy đủ chất lượng: “Thân hòa đồng trú, giới hoà đồng tu, khẩu hoà vô tránh, ý hoà đồng diệt, kiến hòa đồng giải, lợi hoà đồng quân” thì ngôi nhà đạo pháp ngày một xương minh và vững chãitrong vòng xoay chuyển nhân sinh.
Thực tại hôm nay, chúng ta đang sống trong thời đạicách mạngcông nghiệp 4.0, khoa học kỹ thuật cùng thông tin đại chúng phát triển mạnh mẽ. Bao cám dỗ từ những vật chấtxa hoa lộng lẫy của nhân thế như cơn thác lũ ập đến. Phật giáo cũng tiếp thu những tinh hoavăn hóa, văn minh để phù hợp với thời đại. Người tu sĩan nhiên, bình tâm kiểm tracon đường mình đang đi, cái đích mà mình hướng tới mà quay về với nội tâmtu học để kiến tạo ngôi nhà Phật pháptrang nghiêm, cửu trụ trên thế gian.
KẾT LUẬN
Phật giáo có mặt trong lịch sửnhân loại đã hơn 2.600 năm, nhìn những chặng đường đi qua Phật giáo đã định hình rõ nét chỗ đứng của mình trong kho tàng trí tuệnhân loại. Tất cả chính nhờ sự nỗ lựctu học không ngừng của Tăng đoàn và xây dựngtinh thầnbố thí pháp đem lời Phật dạy đến với tất cả mọi ngườihay nói cách khác là hạnh nguyện: “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sinh vi sự nghiệp”. Tinh thần dấn thân sâu sắc ở Tăng đoàn là bản hoài của mọi Tăng sĩ đệ tử Phật. Trong biển khổ cuộc đời, Đức Phật là vị Đạo sư, giáo pháp như là thuyền tốt và Tăng Ni là những người chèo thuyền, là người lái đò đưa khách sang đến bờ giác ngộgiải thoát. Mỗi bước chân Tăng sĩ sẽ in trên đất tâm của mọi người sự an lạc và thảnh thơi. Vậy nên, Tăng bảo đóng vai trò rất lớn trong việc xây dựng và bảo vệ ngôi nhà chánh pháp. Bên cạnh việc nuôi dưỡngđạo tâm, sống chánh niệm, tỉnh thức, Tăng đoàn còn lan tỏa chánh pháp đến khắp năm châu, đưa chúng sinh từ mê sang ngộ giữa những cám dỗ của cuộc đời, trong thế giớingũ trược đầy đau khổ này. Ánh sáng Tăng bảo là chìa khoá mở ra tất cả cánh cửa cuộc đời, là nơi cho chúng sinhcảm thấybình an để nương tựa khi gặp phải chướng duyên trong cuộc sống, là nơi khai ngộ cho chúng sinh thấy được sự giả tạo của thế sự phù hoa mà quay vềgiải thoát, là mạng mạch của Phật pháp toả sáng không ngừng trong dòng chảy của thế nhân. Cho nên, sứ mệnh của Tăng đoànvô cùng cao quý và trọng đại.
Tài liệutham khảo:
1. Thích Chơn Thiện (2009), Phật học khái luận, Nxb. Phương Đông.
2. Thích Chơn Thiện (2019), Tăng già thời Đức Phật, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
3. Quảng Tánh (biên soạn, 2011), Lời Phật dạy, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
4. Trần Phương Lan (dịch, 1997), Đức Phậtlịch sử, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh .
5. Thích Trung Hậu – Thích Hải Ấn (sưu tập và giới thiệu, 2009), Đức PhậtThích Ca đã xuất hiện như thế, Nxb. Văn hoá Sài Gòn.
(Trích từ: Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 403 ngày 15-12-2022)

























