Nguyên Kim

Trong kinh Tâm hoang vu thuộc Trung Bộ Kinh, Đức Thế Tôn nhắc nhở các Tỷ-kheo:
“Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừnăm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra”.
Lời của bậc Giác ngộxác nhận rất rõ rằng điều kiện tiên quyết cho việc tu học có kết quả của người xuất gia là phải diệt trừnăm tâm hoang vu và đoạn tận năm tâm triền phược. Nói khác đi, người xuất gia muốn có được sự tiến bộ, lợi ích và an lạc trong sự nghiệptu họcgiáo phápgiác ngộ của Phật thì cần phảixem xét tâm tư của mình có rơi vào cảm giác hoang mang trống trải và có bị dục vọngchi phốitrói buộc hay không để mà khắc phục và vượt qua. Bài viết này chỉ nói về năm tâm hoang vu và giải pháp khắc phục.
Thế nên, tâm hoang vu (cetokhila) là một tâm thứchoàn toàn trống trải và hoang mang, không tìm thấyphương hướng, rơi vào nghi ngờ và phân vân, do dự, không quyết đoán, không tự tin, không có đủ tỉnh táo và sáng suốt trong việc định hướng mọi hành vi của mình, không biết điều gì nên làm hay không nên làm, phó mặc cho cuộc thế xoay vần thế nào cũng được.
Đây là trạng thái bất ổn của tâm thức đưa đến lối sốngthụ độngtiêu cực, mất hết niềm tin và nghị lực, không còn nhiệt tâm, kiên trì và tinh tấn; đời sống trở nên nhàm chán, không thú vị, mệt mỏi, không hân hoan, chán chường, không thoải mái, không an ổn. Sau đây là lời nhắc nhở của bậc Giác ngộ:
“Thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Đạo sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Đạo sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ.
Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghi ngờ Tăng, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Tăng, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ ba chưa được diệt trừ.
Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghi ngờ các học pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ các học pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư chưa được diệt trừ.
Như vậy, Đức Phật đã chỉ rõ có năm lý do khiến cho người xuất gia rơi vào tâm trạng trống trải, hoang mang, không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, không đạt được sự lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong sự nghiệpxuất giatu học của mình. Đó là nghi ngờ, không có lòng tịnh tín đối với Phật, đối với Pháp của Phật, đối với chư Tăng, đối với các học giới và biểu lộ sự phẫn nộ, chống đối, không có hoan hỷ với các vị đồng tu Phạm hạnh.
Xét năm lý do trên thì rõ là người xuất gia không thể có được bất kỳ sự tiến bộ và trưởng thành nào về phương diệntu học một khi tự để cho mình rơi vào tình trạngnghi ngờ đối với Phật, Pháp, Tăng, nghi ngờhọc giới và có thái độxử sự không hòa nhã đối với các bạn đồng tuPhạm hạnh. Người xuất giaquyết tâmđi theocon đườnggiác ngộ của Phật mà tỏ ranghi ngờ đối với Phật, nghi ngờgiáo phápgiác ngộ của Phật, nghi ngờ Tăng thể thanh tịnh tức là nghi ngờ về khả năng giác ngộ của mình, nghi ngờ các học giới tức nghi ngờ về thiện pháp và tỏ rabực tức đối với chư vị đồng Phạm hạnh thì hoàn toàn mất phương hướng, hoàn toànkhông có lý tưởng để theo, không có đường hướng để thực hành, không có mục đích để theo đuổi. Do đâu mà người xuất gia rơi vào tình trạng tâm tư trống trải, hoang mang, nghi ngờ, phân vân như vậy và đâu là biện pháp khắc phục?
Phật giáo không khuyến khích một đức tinmù quáng, thiếu cơ sở xem xét và khảo chứng thực tế khách quan. Đức Phật chủ trương giáo pháp của Ngài dành cho người thấy (passato) và người biết (jànato) với câu nói nỗi tiếng Ehi passiko, tức là mời bạn đến để thấy. Theo lời Phật thì người ta chỉ nên tin tưởng và đi theo người nào đó hay đường lối của người nào đó sau khi đã tìm hiểu đầy đủ về người ấy, đường lối của người ấy và xét thấy rằng người ấy không có tham-sân-si và đường lối do người ấy giảng dạy không chất chứa tham-sân-si (2).
Hết thảy Phật tử đều thông suốt chủ trương trong sáng này của bậc Đạo sư và vì vậy họ không ngừng tìm hiểuhọc hỏi về đức năng giác ngộ của Phật, về giáo phápgiác ngộ của Ngài và về nhân cách giác ngộ của chư Tỷ-kheo Tăng, những người nguyện trọn đờiđi theocon đườnggiác ngộ của Phật.
Có một điều hầu như bất ngờ khá lý thú thường xảy đến cho những người chuyên nghiên cứu về đạo Phật, đó là càng tìm hiểu tường tận về Phật-Pháp- Tăng, thì lòng tinTam bảo của các vị này càng được củng cốcùng lúc họ càng mong muốn thực thi lẽ sốnggiác ngộ hiền thiện của Phật. Học giả Fausboll xác nhận: “Càng hiểu biết về Đức Phật, tôi càng yêu kính Ngài” (3). Cựu Chủ tịch Hội Pàli Text Society, Rhys Davids, thì tâm sự: “Dầu là Phật tử hay không, tôi nghiên cứu từng hệ thốngtôn giáo lớn trên thế gian, và trong tất cả, tôi không tìm thấy trong tôn giáo nào có cái gì cao đẹp và toàn vẹn hơn Bát Chánh đạo của Đức Phật. Tôi chỉ còn có một việc làm là thu xếpnếp sống sao cho phù hợp với con đường ấy”. (4)
“Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tửniệm Phật: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoansanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận.
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tửniệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tửThế Tôn; trực hạnh là chúng đệ tửThế Tôn; ứng lý là hạnh là chúng đệ tửThế Tôn; chơn chánh hạnh là chúng đệ tửThế Tôn, tức là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điềnvô thượng ở đời.” Do vị ấy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoansanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận”. (5)
Bên cạnh việc nghĩ nhớ về công đứcTam bảo có khả năng tạo niềm tinhân hoan cho người xuất gia, giúp cho vị ấy diệt trừ các tâm thái trống trải và phiền não, Đức Phật cũng lưu ý các Tỷ-kheo nên chuyên tâm học tập và hành sâu giáo phápgiác ngộ của Ngài, tức hành sâu về con đường giới-định- tuệ, để tâm tư hoàn toàn không còn rơi vào hoang vu, trống trải, do dự, không quyết đoán, để có được lòng tịnh tín, hân hoan, để phát khởi tâm tinh cần, kiên trì, tinh tấn, để đạt được sự thăng tiến về giới đức, tâm đức, tuệ đức. Có như vậy thì người xuất gia mới thoát khỏi tâm hoang vu, trống trải, mới thực sự lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật của Đức Phật, mới tìm thấylợi íchan lạc trong sự nghiệptu học của mình. Nói khác đi, chỉ có chuyên tâmhọc hỏigương sánggiác ngộ của Tam bảo, hành sâu về giáo phápgiác ngộ của Phật thì người xuất gia mới không rơi vào khoảng trống hoang vu, mới tạo dựng được lòng tịnh tín đối với Phật-Pháp-Tăng, mới tìm thấylẽ sốnggiải thoátan lạc thực sự trong đời sống tu học của mình.
_________________


























