SUY NIỆM VỀ KINH BIỆT GIẢI THOÁT GIỚI
Sakya Như Bảo

Kinh Biệt Giải Thoát Giới – tên gọi khác của Kinh Tư Lượng (Anumāna Sutta) – là bài kinh thứ mười lăm trong Majjhima Nikāya do Tôn giả Maha Moggallāna thuyết tại rừng Bhesakala. Nội dung bản kinh nêu rõ những đặc tính khiến vị Tỳ kheo trở nên khó nói, khó trao đổi góp ý. Tôn giả Maha Moggallāna chỉ rõ sự thiệt thòi của một người cố chấp khi ở trong Tăng đoàn sẽ không tiếp thu, học hỏi được gì từ các thiện tri thức, sống trong Phật pháp nhưng chẳng thể thưởng thức được vị đề hồ của diệu pháp. Qua đó, Ngài cũng chỉ cho các Tỳ kheo cách tự soi xétbản thân để tẩy trừ những khuyết điểm trong nhân cách.
1. Hai Hạng Người Trong Chúng
Tôn giả Maha Moggallāna phân loại hai hạng người ở trong chúng. Một hạng khó nói, khó trao đổi, góp ý; hạng còn lại thì dễ nói, dễ trao đổi và góp ý.
Hạng khó nói là những người đang vướng vào các bất thiện tâm gồm mười sáu ác pháp như sau:
(1) Ác dục: bị những ham muốnbất chánh dẫn dắt tạo ra ác nghiệp.
(2) Khen mình chê người: tự cho mình là đúng và phỉ báng người khác
(3) Phẫn nộ: sân si và độc ác
(4) Hiềm hận: thù dai và thâm hiểm
(5) Cố chấp: ngoan cố không nhận ralỗi lầm của mình
(6) Thốt lời giận dữ khi bị chỉ lỗi
(7) Chống đối: phản ứng kịch liệt mỗi khi bị cử tội
(8) Chỉ trích: chỉ trích lại người chỉ lỗi mình
(9) Chất vất: căn vặn lại người cử tội mình.
(10) Nói lảng: tránh né lời buộc tội bằng cách lảng sang chuyện khác, trả lời ngoài vấn đề, hoặc buộc tội lại người khác.
(11) Không giải thích: không giải thích tường tận hành động phạm tội của mình cho người cử tội.
(12) Hư nguỵ, não hại: phao tin đồn nhảm, bóp méosự thật hoặc ngụy tạo chứng cứ, vu khống để hại người.
(13) Xan tham, tật đố: chiếm hữu riêng tư và ganh tị phước duyên của người.
(14) Lừa đảo: dùng thủ đoạntinh vi để gạt gẫm những người nhẹ dạ, cả tin.
(15) Ngã mạn: cống caongã mạn, tự cho mình là hay, giỏi hoặc có công lao.
(16) Khó xả:cố chấptư kiến, không hành hạnh buông xả.
Những ai sống trong đại chúng mà có một trong các bất thiện pháp trên sẽ bị xem là khó nói, khó dạy bảo, không được các bậc trưởng thượnggiáo huấn và các bạn đồng tu có trí tuệ góp ý, trao đổi. Ngược lại, vị nào tâm không có các cấu uế ấy thì được xem là người dễ thương, dễ bảo, sẽ được các bậc tôn túc chỉ dạy và pháp lữquý mến, xây dựng.
Tôn giả Maha Moggallāna khẳng định rằng: Những người cố chấp, không kham nhẫn và không cung kính khi nghe giáo thọ chỉ dạy sẽ bị liệt vào hạng không đáng nói đến và không đáng được tin tưởng. Những vị này sẽ không nhận được sự dạy bảo, khuyên nhủ của đại chúng và do vậy sẽ chịu nhiều thiệt thòitrong đời sống phạm hạnh ở hiện tại cũng như tương lai. Trái lại, một vị tu sĩdễ thương, dễ dạy bao giờ cũng có được nhiều lợi lạc khi sống trong Tăng đoàn.
2. Tự Xét Mình – Bổn Phận Thiết Yếu Của Người Xuất Gia
Mười sáu ác pháp trên, thực chất chỉ là những hình thái phát tán khác nhau của ngã chấp. Người cầu đạogiải thoát phải quyết tâm, nỗ lực vươn mình ra khỏi vũng lầy chấp ngã, loại bỏ dần những tập khí xấu ác, những phiền nãorối ren, vô minhhắc ám để thiết lậpđời sống thanh cao ý vị, lợi lạc cho tự thân và tha nhân. Như thế mới không uổng phí một kiếp người. Người xuất gia chân chánh phải luôn không ngừng tự soi xétbản thân, trung thực với chính mình, mỗi bước đi đều phải thận trọng, cân nhắc trong từng ý niệmngôn hành, từng chút một làm lung lay thành trì tự ngã, mãi cho đến khi nó được tháo gỡhoàn toàn.
Sống trong lòng đại chúng, được các bậc trưởng thượng và chư vị đồng phạm hạnh nhắc nhỡ, chỉ bày điều hay lẽ phải để hoàn thiện nhân cách là một phước duyên rất lớn. Người bản năngchấp ngã quá sâu dày, một mực ngang bướngcố chấp không chịu tiếp thu lời góp ý, xây dựng thì dù ở lâu trong đạo cũng khó mà có được sự thăng tiến tâm linh. “Cái Tôi” càng lớn thì phiền não càng nhiều, khổ đau theo đó cũng càng lắm.
Thật ra, không cần toàn bộ mười sáu cấu uế trên có mặt, chỉ nội một ác pháp thôi – như tật đố chẳng hạn – cũng đủ để đốt cháy tâm can, khiến người ta bứt rứt, đau khổ dai dẵng không ngừng, nên nói: “bi ai lớn nhất của đời người là ghen tị”. Trong bất cứ một tập thể hay tổ chức nào, chỉ cần phảng phấtbóng dáng của lòng ganh ghét là nội bộ sẽ trở nên lủng củng, suy yếu ngay. Loại cảm xúctiêu cực này phát sinh từ sự nhận thức lệch lạc, sai lầm do thiếu hiểu biết về dòng chảy nhân quả, nghiệp báo. Ở trong đại chúng, sự có mặt của tính đố kị sẽ làm hủy hoại đạo tình pháp lữ, khiến mất đi hòa khí, dẫn đến những rạn nứt, đổ vỡ, tổn thương; gây chia rẽ, tranh chấp hoặc ngấm ngầm hoặc bùng nổ, làm phá vỡ tinh thầnLục hòa cao đẹp của Tăng đoàn.
Do tính chấtđặc biệtliên hệ đến đời sốngcộng đồng nên bản Kinh này được xếp vào Thiền môn Nhật tụng của Phật giáo Nam truyền và vị tu sĩ nào cũng phải một ngày ba lần tự soi rọi lại bản thân, kiểm điểm tâm ý mình theo đó mà tu tập. Nếu quán xét tự thân có một hoặc nhiều trong số mười sáu ác pháp trên thì phải nỗ lực đoạn trừ tận gốc rễ chúng. Nếu thấy người khác có những bất thiện pháp đó thì lập tứckiểm soát lại mình để phòng hộ và nguyện tránh xa những điều ấy. Bằng như sau khi quan sát thấy tâm mình không tích tập những cấu uế trên thì nên hoan hỷ, tinh tấn hơn nữa để tu tập các thiện pháp, đúng như Giới Kinh đã dạy: “Như người tự soi gương, đẹp xấu sinh vui buồn.”
3. Hòa Hợp và Tương Kính – Yếu TốThen Chốt Tạo Nên Sự Vững Mạnh Của Tăng Đoàn
Cộng đồngTăng lữ lấy Lục hòa làm căn cứ. Trong Phật phápkhông tồn tại thứ quyền uythống trị, cũng chẳng có ân sủng thưởng ban. Tất cả đều dựa vàoý thứcgiữ gìntịnh giới và sự tôn trọnghòa hợp với Tăng thân của mỗi cá nhân. Đã sống trong cùng một trú xứ, chúng ta không thể tách rời hay tự cô lập, lách mình ra khỏi những mối tương giao thường nhật với huynh đệ đồng tu và môi trường xã hội. Thế nên, là đệ tửxuất gia của Phật thì đều phải tuân thủ sáu pháp hòa kính. Nhờ vâng giữ Lục hòa mà đời sốngphạm hạnh của mỗi cá nhân và tập thể sẽ trở nên an ổn, thanh tịnh.
Chư Tổ ngày xưa vẫn thường dạy: “Nhược yếu Phật pháp hưng, duy hữu Tăng tán Tăng”, nghĩa là nếu muốn Phật pháp hưng thịnh thì chỉ có Tăng khen ngợi Tăng. Thật vậy, người thế gian vẫn nói: “gia hòa vạn sự hưng”, sống trong một đoàn thể như ở chung một mái nhà, nếu nhà dột nát xêu vẹo thì ai cũng phải nguy nan. Người xuất gia nếu biết hòa thuận và kính trọng lẫn nhau, tán thán, tùy hỷ, nâng đỡ, làm thành cho nhau thì ngôi nhà Phật pháp mới ngày càng hưng thịnh, lớn mạnh và vững chắc. Bằng ngược lại, sống ngờ vực, nghi kị, khen mình chê người, hủy báng, ghen ghét, chướng ngại lẫn nhau là tiếp tay làm cho Phật phápsuy vi. Nên nói, hòa hợp và tương kính là yếu tốthen chốt tạo nên sự vững mạnh của Tăng đoàn là vì thế.
Thật ra, cõi ta bà vốn đã định sẵn là “bất như ý xứ” nên làm gì có cái gọi là “vạn sự như ý” của riêng mình. Thử quan sát trên một bàn ăn nhỏ cũng đủ để thấy những ‘cái Tôi’ được thể hiện rất rõ ràng, mỗi người một ý thích, không ai giống ai. Chẳng đâu xa, chính nội thân chúng ta đây cũng thường xảy ra những mâu thuẫn, bất đồng: thứ thực phẩm mà miệng thấy thích thú thì gan và bao tử lại âm thầm phản đối, cái có lợi cho nội tạng thì vị giác thấy nản lòng. Chỉ trong một tấm thân tứ đại của mình đã tự chống trái lẫn nhau như thế huống gì đến thế giới bên ngoài mà mong lúc nào cũng đẹp lòng toại ý?
Trong Giới KinhĐức Phật đã dạy rõ: “Đệ tử Phật phải can gián lẫn nhau, dạy bảo nhau, sám hối nhau …. hòa hợpvui vẻ không đua tranh, đồng học một Thầy, như sữa hòa với nước thì ở trong Phật pháp mới thêm lợi ích an vui.” Một người gạt bỏ tất cả những lời khuyên can, bất chấp mọi hệ lụy chỉ để khẳng định ‘cái Tôi’ giả danh thì thật là thiếu trí tuệ. Vị ấy tuy mang hình tướngsa môn mà kỳ thật tâm không hướng đến đạo quảsa môn. Người học đạogiải thoát cần luôn cảnh giác với bản thân, chớ nuôi dưỡng ‘cái Tôi’ của mình quá lớn, vì đến một lúc nào đó, nó sẽ trở thành mối hiểm họa không lường, một thế lực hắc ám, phá hủytoàn bộđời sốngtâm linh cao đẹp thì thật là đáng tiếc.
Lời Kết
Chuyện kể rằng, có một người tiểu thương nọ ngày ngày ra chợ bày bán hai cái giỏ tre đầy ắp. Một chiếc thì đậy nắp kín bưng, chiếc còn lại hoàn toàn bỏ ngỏ. Khách hàng hiếu kỳ đến xem thì thấy trong chiếc giỏ mở nắp là lũ Cua đang nhốn nháo, bò lổm ngổm, con nào cũng tranh nhau vươn lên thành giỏ để ra ngoài, nhưng cứ hễ một con vừa dợm leo lên liền lập tức bị những con khác lôi xuống. Rốt cuộc chẳng có con nào thoát ra được. Vì thế, người tiểu thương chẳng cần phí công đậy nắp.
Chiếc giỏ thứ hai thì hoàn toàn khác hẵn, im ắng đến lạ thường. Khi người khách vừa mở giỏ ra đã vô cùngkinh ngạc khi nhìn vào cảnh tượng bên trong. Những con Rùa đang nằm chất chồng lên nhau. Con rùa lớn nhất nằm lót ở dưới cùng, những con rùa to lớn khác lẳng lặngtuần tự nằm xếp lên trên, rồi lần lượt đến những con rùa nhỏ hơn, và cuối cùng, ở tầng cao nhất là một chú rùa bé xíu, nhỏ nhất trong đoàn.
Giỏ tre vừa bật nắp, bé rùa con nằm ở trên cùng liền bò ra ngoài trước nhất. Lần lượt những chú rùa kế tiếp đều tranh thủ bò ra ngoài, con rùa lớn thứ hai trong số đó, nhờ vào sự nâng đỡ của con rùa lớn nhất nằm dưới cùng, cố gắnghết sức và rốt cuộc cũng may mắnthoát thân. Thoáng chốc, trong giỏ chỉ còn lại mỗi con rùa đầu đàn to lớn. Nhìn cái vẻ điềm nhiên, bình thản và cặp mắt sáng ngời của nó người khách vô cùng thắc mắc. Đành rằng rùa là một trong tứ linh, nhưng so với con người thì chúng vẫn chỉ là những sinh vật nhỏ bé, thế mà giữa giờ phút khó khăn, chúng lại có thể cư xửvới nhau đầy trí tuệ, ôn hòa, dũng cảm, vị tha và cao thượng như thế! Người tiểu thương e ngại, đậy kín chiếc giỏ này là phải!
Con rùa đầu đàn đã chấp nhậnhy sinhbản thânvì lợi ích của số đông, cho dù không được ra ngoài, nhưng nó chẳng những không ân hận, tiếc nuối mà còn cảm thấyhạnh phúc với lựa chọn của mình. Những con rùa nhỏ khi thoát thânan toàn, chắc chắn đều thấm thía và biết rất rõ nhờ đâu mà mình có được tự do và an ổn, lòng cảm kích bất tận sẽ khiến chúng sống xứng đáng với sự hy sinh thầm lặng và vô cùng cao cả từ trưởng bối. Cuộc sống nơi cõi tạm ta bà này, đôi khi chỉ cần hai từ ‘trân trọng’ như thế là cũng đủ. Và tán thưởng chiếc giỏ nào – Cua hay Rùa – là việc của mỗi cá nhân!
Vạn pháp trên thế gian đều do duyên sinh, nên hiển nhiên là vô ngã. Sự hiện hữu của một pháp đồng nghĩa với sự có mặt của cả pháp giới: “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất.” Muôn vật tương quan mật thiếtvới nhau như thế nên chẳng có bóng dáng hữu ngã nào có thể tồn tạiđộc lập, riêng lẻ giữa pháp giới duyên khởitrùng trùng. Đến một lúc, chúng ta sẽ cảm nhận sâu sắc tánh bình đẳng của các pháp, thấy rõ trong chúng sanh có mình, trong mình có chúng sanh, thành tựu hay khổ đau của người cũng chính là thành tựu và khổ đau của mình. Cho đến sơn hà đại địa, nhật nguyệttinh tú, vô tình chủng loại, cát bụi bên đường, hay hoa đồng cỏ dại… đều hiện diện tròn đầy trong mình qua mỗi sát nasanh diệt. Từng bước quán chiếu như thế thì bản năngchấp ngã sẽ ngày một vơi dần, nhẹ bớt, vô minh và kiết sử sẽ theo đó mà lần lần rơi rụng cho đến khi được phá vỡ hoàn toàn.
Từ xưa đến nay, Phật giáo vốn chú trọng đến việc thực hành chứ không phải lý thuyết suông. Bản Kinh Biệt Giải Thoát Giới, như thế, đã chỉ rõ lối đi thiết thực, giúp chúng ta tự soi rọi lại chính mình, từng bước hoàn thiệnbản thân để cả Tâm và Tướng đều xứng với danh xưng Sa mônThích tử.
Ni viện Thiện Hòa, 19.9.2019
























