Suy Nghĩ Về Một Bản Dịch Ngắn Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương

0
310
SUY NGHĨ VỀ MỘT BẢN DỊCH NGẮN
TRONG KINH TỨTHẬP NHỊ CHƯƠNG
 Quần Anh

kinh tu thap nhi chuongkinh tu thap nhi chuong1. Nguyên tác Hán văn:

世尊成道已,作是思惟:離欲寂靜,是最為勝。住大禪定,降諸魔道。於鹿野苑中,轉四諦法輪,度憍陳如等五人而證道果。

2. Trích lời dịch của một số dịch giả:

2.1. Thích Hoàn Quan dịch:

Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn khởi niệm suy nghĩ “Rời bỏ tham dục được sự tịch tịnh thật là hơn hết. Rồi Ngài an trụ đại thiền định, hàng phục các ma đạo. Sau đó, Ngài đến vườn Lộc Uyểnchuyển pháp luânTứ Đế độ năm anh em ông Kiều Trần Như đều chứng được đạo quả.

Nguồn: Phật TổNgũ Kinh, tr 134,
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2. Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch:

Sau khi Thế Tônthành đạo, ngài nghĩ thế này: Lìa dục tâm được tịch tĩnh, đó là hơn hết. Trụ tâm trong đại thiền định để hàng phục các ma quân. Ở trong vườn Lộc Uyển chuyển bánh xe Tứ đế độ năm anh em ông Kiều-trần-như đều chứng đạo quả.

Nguồn: Kinh TứThập Nhị Chương giảng giải, tr 9,
Ban Văn hóaThường Chiếuthực hiện, Nhà xuất bản Đồng Nai

2.3. Hòa thượng Thích Thiện Siêu dịch:

Khi đức Thế Tônthành đạo rồi, liền suy nghĩ: “Xa lìa ham muốn, được cảnh tịch tịnh là hơn cả”. Ngài an trụ trong đại Thiền định, hàng phục các ma vương, sau đến vườn Nai (Lộc Uyển), nói pháp Tứ đế, độ năm ông Tỷ-kheo là nhóm A-nhã Kiều-trần-như, họ đều chứng đạo quả.

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a7471/04- 
kinh-bon-muoi-hai-chuong

2.4. Hòa thượngThích Tâm Châu dịch

Sau khi thành đạo, đức Thế-Tôn suy nghĩ rằng: “Lìa bỏ sự ham muốn, an- trụ trong vẳng-lặng, là điều cao hơn cả!”. Ngài an-trụ trong đại-định và hàng-phục các ma-đạo. Trong vườn Lộc-giả, Ngài quay bánh xe pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị đồng tu như Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v…, chứng được đạo-quả.

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a766/ 
kinh-bon-muoi-hai-chuong

2.5. Hòa thượng Thích Thanh Cát dịch:

Sau khi Đức Thế Tônthành đạo, Ngài tự nghĩ : “Xa lìa mọi ham muốn, tâm được yên vui bình tĩnh. Tâm yên vui bình tĩnh là điều cao quý nhất. Chính Tâm ấy mới ở trong Đại-định để hàng phục mọi ma chướng”. Suy nghĩ xong, đức Phật đến vườn Lộc-Giả nói pháp Tứ- đế, độ anh em ông Kiều Trần Như, năm người đều chứng đạo quả.

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a767/ 
kinh-bon-muoi-hai-chuong

2.6. Hòa thượng Thích Phước Tịnh dịch:

Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn khởi tư duy “Ly Dục Tịch Tĩnhpháp môn tối thắng”. Ngài trụ trong Đại thiền địnhhàng phụcma quân. Sau đó đến Lộc Dã Uyểnchuyển pháp luânTứ Đế, độ năm anh em Kiều Trần Nhưchứng đạo quả.

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/p17a2174/ 
phan-mo-dau-ly-duc-tich-tinh

2.7. Đại đức Thích Viên Giác dịch:

Sau khi đức Thế-Tôn thành Đạo, Ngài suy nghĩ rằng: “Xa lìa dục vọng, được sự tịch tịnh, là thù-thắng nhất!” Rồi Ngài trụ trong Đại Thiền-định mà hàng phụcma đạo. Tại vườn Lộc-dã, Ngài chuyển Pháp-luân Tứ Đế, độ nhóm năm người của Tôn giả Kiều- Trần-Như đều chứng được Đạo quả.

Nguồn: http://hocthuatphuongdong.vn/ 
index.php?topic=4442.0

2.8. Đoàn Trung Còn – Nguyễn Minh Tiến dịch:

Đức Thế Tôn khi thành đạo rồi, tự nghĩ rằng: “Lìa bỏ ái dục, được lẽ tịch tĩnh, ấy là hay hơn hết”. Ngài trụ nơi đại thiền định, hàng phục các ma chướng. Ngài ở nơi vườn Lộc gần thành Ba-la-nại mà chuyển bánh xe Pháp, thuyết Tứ diệu đế, độ cho nhóm ông Kiều-trần-như năm người đều đắc đạo.

Nguồn: https://www.rongmotamhon.net/
xem-sach_nghi-thuc-khai-kinh_clttkqst_show.html

3. Suy nghĩ của người viết:

3.1. Về ngữ pháp:

Trong một đoạn bài tựa mở đầu của kinh Tứ Thập Nhị Chương trên đây có thể phân thành các câu hoàn chỉnh với thành phần chủ ngữ và vị ngữ hoàn chỉnh như sau:

– 世尊作是思惟:離欲寂靜,是最為勝。

– 世尊住大禪定,降諸魔道。

– 世尊成道已,於鹿野苑中,轉四諦法輪,度憍陳如等五人而證道果。

3.2. Về dịch thuật:

Sau khi phân thành câu hoàn chỉnh như trên theo cú phápvăn phạm Hán văn, ta có thể dịch mà không ngại mâu thuẫn trong ý kinh như sau:

“Đức Thế Tôntác ý nghĩ rằng lìa bỏ tâm đam mêdục lạc thì sẽ đạt đượctịch tịnh, đây là pháp môn trên hết. Ngài liền trụ đại thiền định để hàng phục các nội ma phiền não. Sau khi chứng đạo, Thế Tôn đi đến vườn Lộc Uyển chuyển bánh xe Tứ Đếhóa độ năm anh em ông Kiều-trần-như đều chứng đạo quả”.

3.3. Vì sao phải chuyển trạng ngữ chỉ tính chất: “Thế Tôn thành đạo dĩ” xuống câu cuối trong ngữ cảnh của câu kinh Tứ Thập Nhị Chương trên đây?

Tổ sư Ca-diếp Ma-đằng và Tổ sưTrúc Pháp Lan là người Ấn Độ. Hai ngài được vua Hán Minh Đế thỉnh đến thành Lạc Dương, Trung Hoa để truyền báPhật pháp. Kinh Tứ Thập Nhị Chương được hai ngài phối hợp soạn dịch năm 67 sau Tây lịch. Tổ sư Ca-diếp Ma-đằng và Tổ sưTrúc Pháp Lan soạn dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương sang ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ, nên cách diễn đạt câu cú, văn phạm có phần hạn chế. Ngôn ngữ Hán văn của bản kinh này tính đến nay là trên 2.000 năm. Như vậy, ngôn ngữ dùng trong kinh Tứ Thập Nhị Chương thuộc về loại cổ ngữ.

Do đó, lối diễn đạt ý kinh có phần khác với lối diễn đạt của ngôn ngữhiện đại. Khi chuyển ngữcổ văn của một nước khác sang tiếng Việt, ta không thể bám chặt theo lối diễn đạt ý, văn phạm của người xưa. Bởi vì, dịch như thế khi đọc lại ta sẽ nhận thấy Ý KINH VĂN MÂU THUẪN NHAU.

Như đoạn kinh Tứ Thập Nhị Chương trích dẫn trên, xét về lý, đức Thế Tôn phải khám phápháp môn tu trước khi chứng quảVô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Mà “thành đạo dĩ – chứng đạo rồi/ sau khi thành đạo” thì “ma quân” ở đâu để ngài phải trụ vào đại thiền định hàng phục? Và chỉ khi nào “thành đạo dĩ”, ngài mới đi đến vườn Lộc Uyển để hóa độ năm anh em ông Kiều-trần-như (tự lợi, lợi tha). Hiểu đúng ý đoạn kinh Tứ Thập Nhị Chương trên đây như vậy, khi chuyển ngữ sang tiếng Việt thì lý kinh mới thật là logic