Phục Sinh Trong Phật Giáo

0
231

PHỤC SINH TRONG PHẬT GIÁO
Lê Sỹ Minh Tùng

kinh_phap_hoa-thumbnailkinh_phap_hoa-thumbnailTrong
Kinh Pháp Hoa, phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự dạy rằng:

Cúng dường xong,
Bồ-tát
Hỷ
Kiến
xuất định và tự nói trong lòng: “ Tuy ta
đã dùng thần lực cúng dường Phật, nhưng sao bằng lấy thân cúng
dường”. Bồ-tát liền uống các chất thơm, kế uống dầu làm bằng các thứ hoa
thơm
mãn 1
,200 năm, rồi lấy dầu
thơm thoa thân, dùng áo báu cõi trời quấn mình trước đức Phật Tịnh Minh Đức,
rưới các thứ dầu thơm lên áo và dùng sức nguyện thần thông mà tự đốt
thân. Ánh sáng tỏa soi 80 ức hằng sa thế giới. Trong ánh sáng ấy, chư
Phật đồng thời đều khen: “ Lành thay ! Lành thay ! Như vậy mới thật là
tinh tấn, mới thật là cúng dường Pháp. Các lối cúng dường khác bằng hương
hoa
, chuỗi ngọc… đều chẳng bằng, thậm chí đem cả một nước thành quách, vợ con
bố thí cũng chẳng bằng. Trong các lối bố thí, bố thí thân là bậc nhất”.

Nói xong, chư Phật im lặng. Lửa
thân Bồ-tát cháy trót 1
,200 năm mới tắt.

Tuy đã cúng
dường hương hoa
cho Phật rồi mà Bồ Tát Hỷ Kiến vẫn chưa mãn nguyện, ngài liền
ướp các loại dầu thơm rồi châm lửa đốt thân để cúng dường Phật. Ánh sáng cháy
phát ra tỏa khắp 80 ức hằng sa thế giới và được chư Phật mười phương ngợi khen.
Trong Phật giáohai loại bố thí là ngoại tài và nội tài. Bố thí ngoại tài là
biếu tặng những thứ như tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, áo quần, cơm ăn, nước
uống…Tuy giá trị, nhưng bố thí ngoại tài có giới hạn nên phước báu cũng giới
hạn
. Bố thí nội tài là hiến máu, cho xương tủy (bone marrow), cho thận, tim,
gan hay bất cứ bộ phận nào trong thân thể hay toàn thân thể của mình cho kẻ
khác. Thứ bố thí này tương đối khó làm và ít người muốn làm nên có giá trị cao
quý hơn. Nhưng quan trọng nhất của người bố thí là có phước đức
và công đức
. Nếu bố thí với mục đích chỉ muốn san sẻ cho những kẻ thiếu may mắn
để an ủi những mảnh đời bất hạnh khác thì họ chỉ có phước đức hữu lậu. Cao hơn
nữa bố thí là một pháp môn tu học để đoạn trừ lòng tham, tính ích kỷ của mình
thì người đó sẽ có công đức vô lậu và đây là những hành trang cần thiết đưa họ
đến chỗ giải thoát. Ngày xưa Đức Phật vào các tầng thiền địnhthiền tuệ thì Ngài nhận chân
rằng vì con người sống đầy trong tham lam, sân hậnsi mê cho nên họ bị ba loại
phiền não
này chế ngự mà phải chịu khổ não triền miên. Do vậy, khi thành lập Tăng đoàn, Đức Phật gọi tất cả
người xuất gia là “Tỳ khưu” (Bhikkhu) tức là khất sĩ. Khất sĩ không nhất thiết
chỉ là người khất thực mà phải là người thấy được sự nguy hiểm của tham ái
trong luân hồi. Khất sĩ là người thật sự buông bỏ vì thế từ Đức Phật đến 1250 vị
A la hán khác đều là khất sĩ và họ chỉ có duy nhất tam y nhất bát. Cuộc sống của
người giác ngộ rất đơn giản, thanh thản và được thể hiện bằng:

Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vi sanh tử sự
Giáo hóa độ xuân thu
Nghĩa là:
Một bát cơm ngàn nhà
Thân chơi muôn dặm xa
Mắt xanh xem trần thế
Mây trắng hỏi đường qua.

Khi các giác quan tiếp xúc với cuộc đời thì tham lam, sân hậnsi mê khởi
dậy, hủy diệt tâm hồn tốt đẹp của chúng ta tạo thành những trận cuồng phong làm
cho cuộc sống chao đảo chông chênh, mất hạnh phúc. Khi lòng tham ái phát khởi,
tính sân hận bùng lên khiến tâm con người thiếu sáng suốt mà có ngôn ngữ sai lầm,
hành động bất chính. Thậm chí khi chạy theo si mê thì chúng ta thấy thiện thành
ác, ác thành ra thiện, xấu thành tốt và tốt thành xấu. Vì thế dựa theo tinh thần
Phật giáo, thiện là những tư tưởng, lời nói hay hành động không chạy theo tham,
sân, si. Ngược lại là ác.

Tại sao đốt thân để cúng dường Phật thì công đức vô lượng bất khả tư
nghì
?

Phải hiểu rằng
Phật là đấng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả nên không có một vị Phật nào ngồi
đó nhìn bất cứ ai đốt thân mình để cúng dường cho chư Phật mà không ngăn cản
cho đến khi thân xác cháy thành tro rồi phát lời tán thán khen ngợi. Vậy ý kinh như
thế nào? Dựa theo tinh thần Pháp Hoa là khi hành giả “nhập” Tri Kiến Phật thì
người đó phải có đủ trí tuệ để phá ngũ uẩnsắc uẩn tức là thân xác của con
người
.
Có phá được sắc uẩn thì mới hy vọng phá được thọ uẩn, tưởng uẩn,
hành uẩnthức uẩn. Vì vậy đốt thân để cúng dường Phật là phá sắc uẩn rồi
tiếp tục phá luôn các uẫn còn lại để tiến thẳng về quả vị Vô thượng Chánh Đẳng
Chánh giác
tức là thành Phật chớ không phải đốt cái xác thân tứ đại. Đốt thân
là để xả kiến chấp Ngã nơi thân sắc uẩn nên không còn xem thân này là Ta hay là của
Ta nữa. Thân xác tức là sắc uẩn là do tứ đại kếp hợp mà thành cho nên sắc uẩn không
có tự thể, không phải là Ta hay là của Ta mà là của tứ đại thiên nhiên vì thế nếu không chấp Ngã
thì mọi tương quan đến thân như thất tình, lục dục, tham-sân-si, mạn, nghi sẽ
không có cơ hội phát tác. Vì thế đối với người giác ngộ thì
thân thểthân thể chớ không phải là thân thể của Ta nghĩa là mọi biến hành
của thân như đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, nói, nghe…là do sự vận hành của ngũ uẩn
mà có chớ tuyệt đối không phải là Ta đi, Ta đứng, Ta nói, Ta nghe…Bởi do không
có tự Ngã nên người giác ngộ không còn dính mắc, bám vúi, chấp thủ khiến cho
cuộc sống hoàn toàn thanh tịnh, tự tại Niết bàn. Ngược lại phàm nhân thì chấp
thân này thật sự là Ta, là của Ta bởi do cha mẹ Ta sinh ra cho nên càng chấp,
càng bám vúi vào nó thì càng khổ, càng
lo thậm chí đến khi nắp hòm đóng lại rồi mà vẫn còn lo chuyện của Ta và của thế
gian
.

Tại sao lửa cháy đến 1,200 năm mới tắt?

Thứ nhất 1,200 năm là thời gian rất
dài đối với thế giới con người, thế thì trên thế gian này đâu có vật gì cháy
lâu đến như thế ngoại trừ mặt trời. Nhưng ở đây, ẩn ý của kinh là con người đã trải
qua
bao nhiêu kiếp sống cho nên tập khí, bản ngã đã ăn sâu tận trong đáy lòng
khó mà dứt bỏ vì thế người tu đạo cần thời gian rất dài để từ từ diệt cái bản ngã
đó. Thứ nhì con số 12 là biểu trưng cho sự thanh tịnh của người giải thoát bởi
vì sáu căn tuy có tiếp xúc với sáu trần (6+6=12) nhưng tâm không hề bị ô nhiễm,
không dính mắc, tham đắm nghĩa là đối cảnh mà vẫn vô tâm. Nói cách khác người
giác ngộ thì mắt thấy sắc mà không bị sắc mê hoặc, tai nghe âm thanh mà không
bị tiếng khen, chê thị phi phải quấy chi phối…nghĩa là kiến sắc phi can sắc,
văn thanh bất nhiễm thanh thì người đó được tự tại, liễu liễu thường minh, như
như bất động
.

Thế thì ngộ đạo hay giải ngộ tức là kiến tánh dựa theo Phật
giáo
Đại thừa chỉ là bước đầu trong tiến trình tu Phật. Kinh Pháp Hoa xác định
rằng “Khai, thị, ngộ, nhập Tri Kiến Phật” nghĩa là “ngộ
rồi mới tinh tấn tiếp tục tiến tu đến khi “nhập” mới thôi. Vì thế “đốn ngộ
hay “kiến tánh” đã là rất khó, nhưng nó mới chỉ là Chánh kiến trong Bát
Chánh Đạo
mà “thâm nhập” tức là “thực hànhcho đến khi liễu ngộ
tức là chứng ngộ thì mới được hoàn toàn giải thoát sinh tử luân hồi.

Tâm kinh dạy
rằng “Ngũ uẩn giai không” nên sắc thân tuy có mà thực chất nó là không nên tâm
không
còn dính mắc nó là Ta hay là Của Ta. Tấm thân tứ đại do cha mẹ sinh ra là
huyễn, tuy có nhưng thật chất vẫn là không nên người nhập Tri Kiến Phật không
chấp
thân là của Ta nên không quý trọng thân và không làm nô lệ cho thân mà chỉ
dùng thân như là chiếc thuyền để sang sông và dùng thân để làm lợi ích cho mọi
người
. Biết và thực hành như vậy là đốt thân để cúng dường chư Phật. Nên nhớ, không có kinh điển Phật giáo nào
dạy chúng sinh phải đốt thân để cúng dường cho Phật vì chư Phật đâu cần những
thứ này mà thâm ý của đốt thân là diệt sắc uẫn với mục đích phá chấp ngã về
thân.

Nói cách khác
thân là tiêu biểu cho bản ngã vì bất cứ ai sống trong thế gian này cũng đều
chấp ngã. Nhưng một khi chấp bản ngã thì thấy người khác không phải là ta thì
nhân tướng nổi lên và sau đó chúng sinh tướngthọ giả tướng liên tục tiếp
nối
phát khởi làm cho cuộc sống đầy sóng gió khổ đau. Người nào chấp về bản ngã
nặng thì dễ bị tổn thương tự ái. Nếu tự ái đúng chỗ, đúng lúc thì con người trở
thành
tự trọng nên tránh những điều sai trái vì làm sai sẽ khiến họ xấu hổ.
Ngược lại nếu tự ái không đúng chỗ thì trở thành cố chấp nên dễ giận hờn, bắt
bẻ, khó chịu bởi vì bất cứ hành động hay lời nói nào của ai thì họ cũng cho là
trái ý Ta và trái ý của Ta.

Vì thế
một khi đã thực sự nhận biết rốt ráo rõ ràng rằng trong ta không hề có “Cái Ta”
hay “Cái của Ta” thì lúc đó hành giả sẽ khám phá một Chân lý tuyệt vời độc nhất
vô nhị
, là tinh hoa cốt tủy của Phật giáongày xưa chính Đức Phật đã chứng
dưới cội Bồ ĐềChân lý Vô Ngã. Đây chính là trí tuệ tột cùng rốt ráo
kinh điển Đại thừa gọi là trí tuệ Bát Nhã.

Tuy căn
bản
của phiền nãoKiến hoặc, Tư hoặc, nhưng cái gốc để tạo ra những phiền
não
đó chính là chấp Ngã. Vì thế nếu diệt được chấp Ngã thì tất cả vô minh
phiền não cũng tan biến.

Sau đó, Kinh Pháp Hoa dạy rằng:

Cúng dường Pháp xong
và sau khi mạng chung, Bồ-tát Hỉ Kiến phục sanh trong nước Phật Tịnh Minh Đức, tại nhà vua Tịnh Đức, phục
sanh một cách bỗng nhiên, trong trạng thái ngồi kiết già.
 

Vậy thế nào là
phục sinh dựa theo tinh thần Phật giáo?

Đốt thân chết
đi để rồi phục sinh trở lại không có nghĩa là Bồ Tát Hỷ Kiến tự thiêu chết đi
rồi sau đó tái sinh vào làm con vua Tịnh Đức. Mà đốt ở đây là xóa đi, hóa giải
hết những căn bản bất thiện trong tâm chớ không có đốt thật. Trong Phật
giáo
có hai loại sinh tử:

1)Phần đoạn
sinh tử
tức là chết thật nghĩa là đời này chết đi rồi tái sinh sang đời kế
tiếp
.

2)Bất tư
nghì biến dịch sanh tử
: nghĩa là đốt chết thân này rồi liền phục sanh sang
thân khác.

Vì thế chết mà
kinh muốn nói ở đây không phải là chết thật mà đốt chết rồi sinh trở lại liền. Đó là bất tư
nghì biến dịch sanh tử nghĩa là đốt chết tất cả những thói hư tật xấu, những
căn bản tham, sân, si, những những giai đoạn làm ác xấu, những chấp ngã chấp
pháp
làm ô nhiễm tâm thức của con người. Bây giờ thấu biết chân lý nên không đi
vào
con đường củ nữa, không sa vào hố tội lỗi đau thương mà sống đời sống mới lương thiện hơn, trong sáng hơn, thánh thiện
hơn thì chính mình đã sống lại tức là phục sinh. Quá khứ không tốt đẹp nên đốt
đi tức là chết để chuyển sang đời sống hiện tại thanh cao thánh thiện hơn tức
phục sinh vậy.

Kinh
điển
Phật giáo Đại thừa thường diễn tả những cảnh giới hiện tượng, nhưng đừng
nghĩ đây là cảnh thật hay là ảo tưởng mà nó chỉ dùng để diễn giải một triết lý
ở bên trong tức là “văn dĩ tải đạo”. Đó là Tứ Tất Đàn tức là bốn phạm trù
Đức Phật dùng để hóa đạo khắp chúng sinh.

Thí
dụ
: Nàng Vương Thúy Kiều ngày xưa sau khi thoát khỏi lầu xanh đã về ở với Thúc
Sinh suốt 1 năm ròng và vẫn luôn khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả Hoạn Thư. Họ
vẫn chưa có con chung sau nhiều năm sống cùng nhau. Sau chuyến đi thăm và quay
trở lại
gặp Kiều, Thúc Sinh không ngờ rằng Hoạn Thư đã sai gia nhân đi tắt
đường biển để bắt Thúy Kiều về tra hỏi. Thúy Kiều bị tưới thuốc mê bắt mang đi trong khi đó mọi người
trong nhà cứ ngỡ cô bị chết cháy sau trận hỏa hoạn. Kiều trở thành thị
tỳ (con ở) nhà Hoạn Thư với cái tên là Hoa Nô. Lúc Thúc Sinh về nhà, nhìn thấy Thúy Kiều bị bắt
ra chào mình, “phách lạc hồn xiêu”, chàng nhận ra rằng mình bị mắc lừa vợ cả.
Hoạn Thư đã bắt Kiều phải hầu hạ, đánh đàn cho bữa tiệc của hai vợ chồng. Đánh
đàn mà tâm trạng của Kiều đau đớn:

Bốn dây như khóc như than
Khiến người trong tiệc cũng tan nát lòng
Cũng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm

Thế rồi, do
thấy Kiều khóc nhiều, Hoạn Thư bảo Thúc Sinh tra khảolý do gì. Thúy Kiều
viết tờ khai nói rằng vì cha bị oan khiên, phải bán mình và bị lừa vào lầu
xanh, sau đó có người chuộc ra làm vợ, rồi chồng đi vắng, nàng bị bắt đưa vào
cửa nhà quan… rất tủi nhục, bây giờ chỉ mong được vào chùa tu cho thoát nợ
trần. Đọc tờ khai xong, Hoạn Thư đồng ý cho Hoa Nô vào Quan Âm các sau
vườn để tu hành.

Sẵn Quan Âm các vuờn ta
Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa
cổ thụ, có sơn hồ
Cho nàng ra đó giữ chùa tụng kinh
Tâng tâng, trời mới bình minh
Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường
Đưa nàng đến trước Phật đường
Tam quy, ngũ giới, cho nàng xuất gia
Áo xanh đổi lấy cà sa
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.
………
Cho hay giọt nước cành dương
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.

chi_em_thuy_kieu-thumbnailchi_em_thuy_kieu-thumbnailChị Em Thúy Kiều

Vào thời điểm này, nàng Thúy Kiều cũng đốt thân ô trược, đốt cháy hết những
đau thương, vết nhơ của cuộc đờiphục sinh trở thành người tu sĩ, sống đời
thanh cao, dùng nước cành dương tưới tắt mọi tan thương, đau khổ, phiền muộn
trước kia.

Thế là:

“Cổi thanh y con xin khoát áo nâu sầm
Xin Đức Phật nhận con làm đệ tử
Vương Thúy Kiều đã chết rồi trong ô trược
Pháp danh Trạc Tuyền con xin đổi từ đây”.

Như vậy Thúy
Kiều đâu có chết thật mà chỉ chết cái ô trược, cái dơ bẩn lúc còn ở trong
thanh lâu, cái đau khổ lúc làm nô lệ và cái tủi hờn khi làm vợ thứ cho người.
Cũng Thúy Kiều đó, nhưng bây giờ nàng sống với cuộc đời mới, thánh thiện hơn
nên gọi là phục sinh. Do đó trong cuộc sống hằng ngày,
con người cần phải phục sinh. Càng phục sinh nhiều thì càng trở về sống với bổn
giác
thanh tịnh thanh khiết của mình. Vì vậy chúng sinh đừng sợ chết, cứ cho nó
chết, chết cho hết những thứ ô trược, những thứ tham đắm dục tình, chết cho hết
phiền não khổ đau để phục sinh trở về với con người đạo đức nhân bản, với cuộc
sống thanh cao thanh tịnh, với suối nguồn an lạc tự tại trong tâm hồn.

Những gì Đức Phật dạy phát xuất từ đời sống kinh nghiệmchứng
đắc
của bản thân vì thế Ngài dạy chúng sinh những ý chí sắc đá, trí tuệ cao
siêu, đức sống vị tha, sự thoát lyđặc biệt là sống đời gương mẫu làm lợi
ích
cho mình, cho người. Con người vĩ đại đó, tấm lòng đại từ đại bi đại trí
tuệ đó, phương pháp giáo dục siêu việt đó của Đức Phật đã làm cho thế giới kính phục Ngài như một đạo
siêu việt nhất trong lịch sử nhân loại. Đạo Phật là đạo thực hành nên Đức Phật không dạy chúng sinh
những giáo lý ảo tưởng, hoang đường mà Ngài dạy những phương trình, những công
thức
rất thực dụng để chúng sinh tùy theo căn cơ, sở nguyện của mỗi người mà áp
dụng
để có thực chứng. Càng loại bỏ các lậu hoặc, các tập khí thì con người càng
gần với an lạc, thanh tịnh mà không cần phải cầu nguyện, cúng tế chi cả.

Lê Sỹ Minh Tùng

 

Kính mời xem toàn bộ Kinh Pháp Hoa giảng giải trong:

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-73_4-16394_5-50_6-4_17-240_14-1_15-1/kinh-phap-hoa-giang-giai.html