Phật Thuyết Kinh Thậm Thâm Đại Hồi Hướng

0
12


PHẬT
THUYẾT
KINH THẬM THÂM ĐẠI HỒI HƯỚNG

Việt
dịch:
Thích Nữ Thuần Hạnh

Tôi nghe như vầy ! Một thời đức Phật cùng với tám ngàn chúng
đại Tỳ kheo trú ở vườn Cấp Cô Độc, Kỳ Thọ, nước Xá Vệ. Bấy giờ, Thế Tônđại
chúng
xung quanh trước sau mà thuyết pháp. Trong hội chúng đó có một vị Bồ tát,
hiệu là Minh Thiên, rời chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên phải, gối phải sát
đất
, chắp tay cung kính bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Con có điều muốn hỏi, cúi
xin Thế Tôn, vì con phân biệt giảng thuyết.

Phật dạy Đại Bồ tát Minh Thiên :

Thiện nam tử ! Muốn hỏi điều gì cứ hỏi,
chớ đừng phân vân. Như Lai tùy theo lời hỏi mà giải đáp.

Bồ tát Minh Thiên liền bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Vì sao Bồ tát tu thiện
vốn ít mà lại gặt quả nhiều, thành tựu nhiều phước báo công đức vô lượng?

Phật dạy Đại Bồ tát Minh Thiên :

Lành thay ! Lành thay ! Minh Thiên ! Có
thể hỏi Như Lai nghĩa này. Thầy đã từng ở trong thời quá khứ, chỗ vô lượng chư
Phật gieo trồng công đức cúng dường chư Phật, thân cận thiện tri thức, có thể
làm cho chúng sanh được phước báo an lạc, nên mới hỏi nghĩa sâu xa này. Lắng
nghe ! Lắng nghe, khéo suy nghĩ !

Bồ tát Minh Thiên bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Con xin thọ giáo.

Phật dạy Minh Thiên :

Chư Đại Bồ tát, ở chỗ chư Phật đời quá
khứ
, hiện tại, vị lai, tu thân hành từ bi, tu khẩu hành từ bi, tu tâm hành từ
bi
, chuyên tâm niệm Phật, hành trì công đức. Lại nữa Minh Thiên ! Đại Bồ tát
phải nên đến điện thờ Thế Tôn Như Lai lễ bái cúng dường, gối phải sát đất chắp
tay
nhiễu quanh bên phải, rải hoa, đốt hương, treo cờ đèn, phan lọng, đủ các
loại
âm nhạc cung kính tôn trọng. Dùng các loại âm thanh hòa nhã ca ngợi nghĩa
sâu xa, khen ngợi công đức Phật, hoan hỷ tán thán.

Phật dạy Minh Thiên :

– Vì sao Đại Bồ tát ở chỗ chư Phật đời quá
khứ
, hiện tại, vị lai tu tập thân hành từ, tu khẩu hành từ, tu tâm hành từ, nhớ
nghĩ công đức Phật? Thiện nam tử ! Đại Bồ tát nên nhớ nghĩ Như Lai là bậc kiên
cố
, bậc Vô Thượng, bậc Tối Thắng, là chúa sư tử dõng mãnh vô tối, tự độ độ tha
tự an, an cho người, tự diệt, diệt cho người, thuyết pháp chơn đế, chúng sanh
an lập, tâm không dối trá, đầy đủ tịnh giới, sức lực vô úy, biện tài, vĩnh viễn
trừ các tập chướng. Tự tại đối với pháp, bình đẳng với mọi người. Chuyên tâm
nhớ nghĩ công đức Phật như vậy rồi, gối phải sát đất, rải hoa, đốt hương, treo
cờ đèn, phan lọng, trổi âm nhạc cúng dường. Đây là Bồ tát tu tập thân hành từ.

Dùng âm thanh hòa nhã ca ngợi về cú nghĩa
sâu xa thán tán công đức Như Lai vô lượng. Đây là Bồ tát tu tập khẩu hành từ.
Nhơn nơi thiện căn của thân miệng nhớ nghĩ công đức Phật chí thành cung kính.
Đây là tu tập tâm hành từ. Minh Thiên ! Đây là Đại Bồ tát ở chỗ chư Phật đời
quá khứ, vị lai, hiện tại tu tập thân khẩu ý từ, thực hành chánh niệm.

Phật lại dạy Minh Thiên :

– Lại nữa, Đại Bồ tát ở chỗ các chúng sanh
đời quá khứ, hiện tại, vị lai cũng nên tu tập thân hành từ, tu tập khẩu hành
từ, tu ý hành từ, nhớ nghĩ các chúng sanh. Minh Thiên ! Vì các Đại Bồ tát ở chỗ
chúng sanh trong ba đời tu tập thân, khẩu, ý hành từ, nhớ nghĩ chúng sanh. Như
vậy, Minh Thiên ! Đại Bồ tát không sát hạt chúng sanh, không trộm cướp tài sản
người khác, không tà dâm, không vọng ngữ, không ỷ ngữ, không lưỡng thiệt, không
ác khẩu, không tham dục, không sân nhuế, không tà kiến.

Vì sao Bồ tát không sát hại chúng sanh?
Đối với tất cả chúng sanh phải từ bi thương xót, nhớ nghĩ, tàm quí thương xót,
vĩnh viễn xả bỏ dao gậy, không trộm cướp của người. Nếu ở làng xóm, hoặc chỗ
vắng, có vật của người bỏ rơi, không cho không được lấy. Không tà dâm là nếu
người nữ có chủ hay có cha mẹ, anh em, thân tộc bảo hộ, cho đến được cô ta tặng
một cành hoa cũng không được khởi dục tưởng. Không vọng ngữ là nếu ở nơi làng xóm,
hoặc chỗ vua mà làm chứng giúp người, nên thành thật, giữ lời, thà chết không
nói dối, không nói hai lưỡi là thường ở chỗ người này người kia khởi tâm tưởng
hòa hợp. Nghe được từ chỗ này không đến nói đằng kia. Nghe từ đằng kia không
đến nói chỗ này. Không ác khẩulời nói nhẹ nhàng, khuyên lơn thưa hỏi họ
trước. Trọn đời không dùng lời nói đau đớn, ác nghiệt, thô bạo nói với chúng
sanh
. Không ỷ ngữ là khi nói phải nói lời chơn thật, biết nghĩa mới nói. Vì lợi
ích
cho người mới nói. Tâm miệng không sai khác. Không tham trước là đối với
tài vật của người không khởi lòng tưởng tham muốn, thấy ai đến lấy tâm không
tham tiếc. Không sân nhuế là đối với tất cả chúng sanh, diệt trừ các sự sân hận
khởi tâm từ bi thương xót, tâm lợi ích, tâm an lạc cho người. Tùy theo tất cả
chúng sanh mà khéo nhiếp thọ. Không tà kiến là có cho có giúp có thuyết, có cha
mẹ
, có đời nay đời sau, có khổ vui, hành động có quả báothế gian. Có A la
hán
, tự biết thân mình sẽ chứng. Ta sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc
cần làm đã làm xong, không thọ thân sau.

Minh Thiên nên biết ! Vị kia không sát
sanh
, không trộm cướp, không tà dâmBồ tát tu hành thân từ. Không vọng ngữ,
không hai lưỡi, không ác khẩu, không ỷ ngữBồ tát tu hành khẩu từ. Không
tham, không sân, không tà kiếnBồ tát tu hành ý từ. Tu hành thân, khẩu, ý là
Bồ tát nhớ nghĩ chúng sanh một cách bình đẳng.

Phật dạy Minh Thiên :

Đại Bồ tát ở chỗ chư Phật đời quá khứ,
vị lai, hiện tại tu hành thân từ, tu hành khẩu từ, tu hành ý từ. Và ở chỗ tất
cả chúng sanh đời quá khứ, vị lai, hiện tại tu hành thân từ, tu hành khẩu từ,
tu hành ý từ. Được quả báo công đức, hồi hướng Vô Thượng Bồ đề cho tất cả chúng
sanh
. Minh Thiên ! Bồ tát nào hồi hướng như vậy, gọi là Bồ tát tu thiện ít mà
được quả báo to lớn, tạo nhiều công đức, phước báo vô lượng.

Phật dạy Minh Thiên :

– Khi Bồ tát này thành tựu vô lượng công
đức
, đem công đức ấy hồi hướng trí huệ vô lượng. Lại cùng tất cả chúng sanh hồi
hướng
về Vô Thượng Bồ đề. Ba loại công đức này có ba loại hồi hướng. Những gì
là ba? Là quá khứ không, đương lai không, hiện tại không. Không có người hồi
hướng
, không có pháp hồi hướng, không có chỗ hồi hướng. Đại Bồ tát nên làm hồi
hướng
này. Khi làm việc hồi hướng này, ba chỗ đều thanh tịnh. Đem công đức
thanh tịnh này hồi hướng về Vô Thượng Bồ đề cho tất cả chúng sanh. Làm việc hồi
hướng
này, không có phàm phu và pháp phàm phu, cũng không có tín hành, cũng
không có pháp hành, không có tám hạng người, không có Tu đà hoàn hướng, Tu đà
hoàn
, không có Tư đà hàm hướng, Tư đà hàm, không có A na hàm hướng, A na hàm,
không có A la hán hướng, A la hán, không có Bích Chi Phật hướng, Bích Chi Phật,
không có Phật và người hướng Phật. Vì sao? Vì pháp tánh không duyên bất sanh
bất diệt, không chỗ trú. Cho nên Đại Bồ tát dùng ba loại hồi hướng này ba loại
công đức thanh tịnh hồi hướng về Vô Thượng Bồ đề cho tất cả chúng sanh. Bồ tát
này hồi hướng rồi, lại nguyện : “Tôi sanh ra chỗ nào cũng thường gặp tam muội
thậm thâm của chư Phật, thấy vô lượng Phật, thành tựu đa văn, trí huệ thanh tịnh.
Thề không bỏ tất cả chúng sanh”. Khi thuyết như vậy, trăm ngàn trời người đều
nguyện muốn vãng sanh về nước Phật A Súc.

Bấy giờ, Phật dạy tôn giả A Nan :

– Khi Ta thuyết pháp môn thậm thâm này,
trăm ngàn trời người đều nguyện vãng sanh về nước Phật A Súc. A nan nên biết !
Đây, kia đều nên nguyện vãng sanh về cõi nước Diệu Lạc của Phật A Súc. Từ cõi
Phật
này đến cõi Phật khác cúng dường chư Phật, lắng nghe thọ trì chánh pháp,
đắc Đà la ni, tu hành như điều thuyết, đều được thành tựu trí huệ bất tư nghì.
Làm Phật trong nước ngũ trược đều đồng một hiệu là Cam Lồ Âm Vương Như Lai Ứng
Cúng
Đẳng Chánh Giác. Nên biết khi được thọ ký, trăm ngàn chúng sanh đều phát
tâm
Vô Thượng Bồ đề.

Khi ấy, Thích Đề Hoàn Nhơn bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Theo chỗ con hiểu nghĩa
Phật thuyết, nên biết đại công đức này là công đức vô lượng, là công đức
biên
.

Phật dạy :

Kiều Thi Ca ! Pháp này hoàn toàn thanh
tịnh
.

– Bạch Thế Tôn ! Kinh này tên gọi là kinh
gì? Phụng trì thế nào?

Kiều Thi Ca ! Kinh này gọi là Đại Hồi
Hướng
cũng gọi là hồi hướng pháp tánh thậm thâm. nên phụng trì như vậy.

Phật dạy Kiều Thi Ca ;

– Nếu có thiện nam, thiện nữ nào học kinh
hồi hướng này, nên biết người này ắt đắc pháp Vô sanh nhẫn, có thể độ người
chưa độ, trăm ngàn vô lượng chúng sanh an lạc.

Khi thuyết pháp này, chúng Tỳ kheo, thích
Phạm
thiên, trời, người, A tu la.v.v… nghe lời Phật thuyết đều hoan hỷ phụng
hành
.