Phẩm Định Huệ – Pháp Bảo Đàn Kinh

0
12

PHẨM ĐỊNH HUỆ
(Nói về phápThiền Định và Trí Huệ)
PHÁP BẢO ĐÀN KINH
Minh Trực Thiền Sư Việt dịch

kinhphapbaodan-minhtruckinhphapbaodan-minhtrucĐại Sư bảo
chúng rằng: “Chư Thiện tri thức, pháp môn ta đây lấy Định Huệ làm căn
bổn. Đại chúng chớ mê lầm mà nói Định với Huệ là khác nhau. Định và
Huệ chỉ là một thể, chẳng phải hai. Định là cái thể của Huệ, Huệ là cái
dụng của Định, tức là lúc Huệ thì Định ở trong Huệ, lúc Định thì Huệ ở trong
Định. Nếu biết cái nghĩa ấy, thì Định và Huệ đều phải học.

Các người học
Đạo
chớ nói rằng trước Định rồi mới phát Huệ, trước Huệ rồi mới sanh Định, mà
phân biệt Định với Huệ là khác nhau. Nếu thấy hiểu như thế, là pháp có
hai tướng. Miệng nói lời lành mà trong lòng chẳng lành, nói khống rằng có
Định HuệĐịnh Huệ chẳng đồng một thể. Nếu lòng và miệng đều lành,
trong ngoài như một, thì Định và Huệ tức đồng nhau. Pháp tự ngộ tu hành
chẳng phải tại chỗ tranh. Nếu tranh chỗ trước sau, tức đồng với người
mê. Chẳng dứt lòng phân hơn thua, thì quả nhiên làm lớn thêm lòng chấp ngã,
chấp pháp, mà không lìa khỏi bốn tướng (Ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng.)

Chư Thiện tri
thức
, Định và Huệ giống như vật gì? Giống như cái đèn và cái ánh
sáng. Có đèn tức là sáng, không đèn tức là tối. Đèn là cái thể của
ánh sáng, ánh sáng là cái dụng của đèn. Tên tuy có hai, mà thể vốn có
một. Pháp Định Huệ này cũng giống như thế. “

Sư bảo chúng
rằng: “Chư Thiện tri thức, chuyên ròng một hạnh Chánh Định nghĩa là trong cả
thảy chỗ đi, đứng, ngồi, nằm, thường giữ một lòng ngay thẳng. Kinh Tịnh
Danh
nói: “Lòng ngay thẳng là Đạo Tràng. Lòng ngay thẳng là Tịnh
Độ
.” Đừng lòng tưởng điều tà vạy mà miệng nói điều ngay thẳng. Đừng
miệng nói chuyên ròng một hạnh Chánh Định, mà chẳng giữ lòng ngay thẳng. Nếu
giữ lòng ngay thẳng thì đối với cả thảy các pháp, tâm đừng chấp trước. Người mê chấp trước pháp tướng, chấp một hạnh Chánh Định, nói rằng thường ngồi chẳng
động, dối rằng lòng không sanh niệm tưởng, gọi đó là một hạnh Chánh Định. Nếu hiểu như thế, tức là đồng với loài vô tình. Quả thật là cái duyên cớ cãn
ngăn cái Đạo vậy.

Chư Thiện tri
thức
, Đạo phải là thông lưu, sao lại làm cho nó ngưng trệ. Tâm không trụ
pháp, thì Đạo thông lưu. Còn tâm trụ pháp, ấy là mình trói lấy
mình. Bằng nói rằng thường ngồi chẳng động, thì cũng như Xá Lợi Phất ngồi
im lặng trong rừng mà bị Duy Ma Cật quở vậy.

Chư Thiện tri
thức
, lại có người dạy ngồi xem cái tâm, quán tưởng tâm cảnh vắng lặng, ngồi
yên
chẳng dậy, bảo y theo đó mà lập công phu. Người mê chẳng hiểu, cố chấp
làm theo, rồi thành điên dại. Số người lầm như thế chẳng phải là
ít. Truyền dạy nhau như vậy, thiệt là lầm to !”

Sư bảo chúng
rằng: “Chư Thiện tri thức, cái chánh giáo xưa nay không có mau chậm, chỉ tánh
người có sáng tối mà thôi. Người tối thì tu tập lần lần, người sáng thì
thức tỉnh tức khắc, tự mình biết Bổn Tâm, tự mình thấy Bổn Tánh. Thế thì,
không có chỗ gì sai khác. Vì chỗ sáng tối chẳng đồng sở dĩ mới lập ra cái
giả danh mau chậm.

Chư Thiện
tri thức
, pháp môn của ta đây từ trên truyền xuống, trước hết lập Không Niệm
(Vô Niệm) làm tông, Không Tướng (Vô Tướng) làm thể, Không Trụ (Vô Trụ) làm
gốc. Không niệm nghĩa là trong khi niệm, lòng không động niệm. Không
tướng
nghĩa là đối với sắc tướng, lòng lìa sắc tướng. Không trụ có nghĩa
là đối với các điều lành dữ, tốt xấu ở thế gian, cùng với kẻ thù, người thân, đối
với lúc nghe các lời xúc pham, châm chích, khinh khi, tranh đấu, Bổn tánh con
người
xem cả thảy như không không, chẳng nghĩ đến việc đền ơn trả oán. Trong niệm niệm lòng không nghĩ đến các cảnh mình đã gặp trước. Nếu niệm
trước
, niệm nay, niệm sau, niệm niệm nối tiếp nhau chẳng dứt, thì gọi là bị
buộc ràng. Đối với các pháp, niệm niệm lòng không trụ vào đâu thì khỏi bị
buộc ràng. Ấy là lấy Không Trụ làm Gốc.

Chư Thiện tri
thức
, ngoài lìa cả thảy các sắc tướng, gọi Không Tướng. Đối với các sắc
tướng
mà tâm lìa được, thì cái thể của các pháp tự nhiên thanh tịnh. Ấy
Không Tướng làm Thể.

Chư Thiện tri
thức
, đối với các cảnh mà tâm chẳng nhiễm gọi là không niệm. Trong các
niệm tưởng của mình, tâm thường lìa cảnh, chẳng vì đối cảnh mà sanh tâm. Bằng đối với trăm việc, tâm chẳng nghĩ đến, các niệm tưởng đều bỏ hết, và nếu
một niệm dứt tuyệt, thì chết liền và phải chịu đầu sanh nơi khác. Ấy là
một điều lầm to, người học Đạo khá suy nghĩ lấy đó. Nếu chẳng biết cái ý
chỉ của pháp, tự mình lầm còn khá, sợ e lại khuyên dạy người khác. Tự
mình mê mà chẳng thấy, lại còn nhạo báng kinh Phật. Bởi vậy mới lập Không
Niệm làm Tông.

Chư Thiện tri
thức
, sao gọi lập Không Niệm làm tông? Chỉ vì người mê, miệng nói thấy
tánh, mà đối cảnh tâm còn vọng niệm, trong chỗ vọng niệm, lại khởi
kiến
. Cho nên cả thảy các sự trần lao vọng tưởng đều do đó mà sanh
ra. Bổn tánh mình vốn không có một pháp gì mà tìm được. Nếu có cái
chỉ tìm được trong tánh mình, mà nói dốihọa phước, thì cái ấy là trần lao
tà kiến. Cho nên, pháp môn này lập Không Niệm làm Tông.

Chư Thiện tri
thức
, Không là không sự gì? Niệm là niệm vật chi? Không nghĩa là
không chấp hai tướng, không có lòng phiền não. Niệm, nghĩa là niệm cái
Chơn Như Bổn Tánh. Chơn Như tức là cái Thể của niệm, niệm tức là cái dụng
của Chơn Như. Tánh Chơn Như của mình khởi niệm, chớ chẳng phải con mắt,
lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi mà niệm được. Cái Chơn Như có tánh, sở dĩ mới
sanh ra niệm tưởng. Nếu như cái Chơn Như ấy không có, thì mắt, tai, màu,
tiếng, đương lúc ấy liền hư hoại.

Chư Thiện tri
thức
, tánh Chơn Như của mình khởi niệm, thì sáu căn tuy có thấy nghe, biết
hiểu, mà chẳng nhiễm muôn cảnh. Bởi thế nên Chơn Tánh của mình bao giờ
cũng tự tại. Cho nên kinh nói: “Phân biệt đặng các pháp tướng một
cách tường tận chi lý, mà cái tánh Thanh Tịnh Niết Bàn chẳng động.” “

(Trích: Pháp Bảo Đàn Kinh – Đức Lục Tổ – TS. Minh Trực dịch Việt)