(TT.TS Thích Phước Đạt)
Sống trong thế giới đầy biến động của đại dịch COVID-19 bùng phát, mới thấy sự hiện hữu của con người trong mối tương quan tương duyên về sinh mệnh là cực kỳ quan trọng. Tại đây, con ngườinhận thức ra trong tất cả mọi giá trịhiện hữu giữa cuộc đời này, giá trịhạnh phúc là cao nhất. Cũng vậy, giá trịnếp sốnghiện tại lạc trú của đạo Phật mới thật sự là gốc rễ của con người trong sự hướng đến giải thoát khổ đau, xây dựnghạnh phúc cho con người quả là giá trịvô cùngthù thắng, không thể nghĩ bàn.
Thực tếchứng minh, lịch sửĐức PhậtThích Ca là lịch sử của con người. Nhờ công phutu tập tự thân, Ngài đã trở thành bậc Giác ngộgiải thoát giữa cõi đời này. Chính Đức Phật từng tuyên bố hoài bão lớn nhất của Ngài là xây dựngnếp sốnghạnh phúcan lạc cho mọi người, ngay khi Ngài vừa thị hiện: “Ta ra đời vì sự hạnh phúc, vì sự an lạc cho chư Thiên và loài Người”. Tại đây, Đức Phật đã xác định giá trịhạnh phúc chính là giá trịhiện tại lạc trú qua cuộc đời tự thân tu tập, tự thân chứng ngộ, hoằng hoá độ sinh của chính mình.
Với nếp sốnghướng thượng, thiết thựchiện tại, Ngài đã mở toang cánh cửa giải thoát cho những ai có tai để nghe, có mắt để thấy đạo giải thoát của Ngài đã tự thân chứng ngộ, tự thân hành trì. Cho nên, vấn đềhạnh phúc hay khổ đau đều do tự thân mỗi người quyết định. Giá trịhiện tại lạc trú cũng được Đức Phậtthiết lập theo quan điểm này khởi đầu bằng lời tuyên bố mang tính thực nghiệm: “Con người là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp” hay “hãy tự mình làm hòn đảo nương tựa cho chính mình, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”.
Và như thế, sống với hiện tại lạc trú như vậy, khổ đau không bao giờ hiện hữu. Khổ đau chỉ có mặt khi tâm thứccon người còn chẻ chia phân biệt, so sánhhiện tại với quá khứ, tương lai. Pháp hiện tại lạc trú sẽ giúp con người nhìn thẳng vào sự thậthiện tại để đối diệnhiện tại và thoát khỏi nỗi khổ trong hiện tại. Chỉ có nếp sốnghiện tại lạc trú mới đem lại sự bình an nội tại cho tự thân, đồng thời là nguồn lực cho sự sáng tạotrong đời sống xã hội bây giờ và tại đây. Vì vậy, Đức Phật đã phản bác tất cả các vấn đề siêu hình không có khả năng đưa đến sự giải thoát khổ đau mà con người phải giáp mặt, gánh chịu hằng ngày, hằng giờ, hằng phút. Trầm tư về pháp thoại giữa Ngài với chàng Malunkyaputta trong Tiểu kinh Malunkya [1] thì ta sẽ hiểu giá trịquyết định sự hạnh phúcan lạc của mỗi người chính là tính hiện tại lạc trú của đạo Phật được thực thi trọn vẹnmột cách cụ thể, rõ ràng. Tất cả vấn đề siêu hình thông qua 16 câu hỏi được Malunkyaputta đề cập đến, như: “Thế giới là thường? Hay là vô thường? Như Lai có tồn tạisau khi chết hay không tồn tại?”… được Đức Phậttrả lời bằng một thái độim lặng. Ngài đã chỉ rõ cho Malunkyaputta rằng: Thực tại của cuộc sống thực chất là “Sống với” chứ không phải “nói về”.
Cũng như câu chuyện người bị trúng mũi tên độc, vấn đềcấp thiết nhất, có ý nghĩa nhất trong giờ phút hiện tại đó và tương lai về sau là phải giải phẫu mũi tên độc không cho chất độc thấm vào cơ thể. Thật sai lầm khi phải truy tìm tận nguồn gốc mũi tên độc từ đâu đến, người bắn mũi tên độc là ai… trước khi ngăn chặn chất độc xâm chiếm lan tràn khắp cơ thể. Mục đíchtối hậu của con người là giải thoát tất cả các vấn đề khổ đau đang vây bủa, áp lực từ muôn phía, xây dựnghạnh phúcthiết thực ngay trong hiện tại, không cần phảitìm kiếm ở một thế giới bên ngoài nơi con người đang hiện hữu. Cho nên, toàn bộgiáo lý của Ngài chỉ nói lên một chân lý sống rất đơn giản nhưng rất thiết thựchiện tại, đó là “sự thật khổ đau và con đường đoạn tận khổ đau”. Tại đây, thái độ sống theo một tinh thầnhướng thượng, giải thoát khổ đau, xây dựngnếp sốnghạnh phúcan lạc được thiết lập, duy trì như là một lẽ sống hợp Chánh đạo. Chính Đức Phật từng khuyến cáo mọi người hãy sống theo tinh thầnthiết thựchiện tại đầy trí tuệ soi rọi:
“Quá khứ không truy tìm
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai lại chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính nơi đây” [2].
Hay:
“Không than việc đã qua
Không mong việc sắp tới
Sống ngay với hiện tại
Do vậy sắc thù diệu.
Do mong việc sắp tới
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn
Như lau xanh lìa cành”.
Như dòng sông luôn trôi chảy không ngừng, cũng vậy, sự sống con người phải tuân theoquy luật đó, tức là vẫn phải “đang là”. Đây chính là ý nghĩa của sự sống. Một sự sống luôn luôn hiện hữu trong cơ chế “vận hành” và “chuyển hoá”. Cho nên, giá trịhạnh phúc chỉ được thiết lập ngay trong hiện tại. Hay nói cách khác, chỉ có hiện tại mới định hình cho sự sống và sự sống thực sự có ý nghĩa khi biết sống cho hiện tại với thực tại “đang là”. Do đó, tất cả hình ảnh u buồn, những âm thanh sắc, đường nét biểu lộtâm lý chán chường, than thở của “một tâm hồn bé nhỏ, mang mangthiên cổ sầu” cần phải xua tan, đoạn tận. Thậm chí, mọi sự mơ tưởng về viễn cảnh tương lai hão huyềncần phải có thái độ khép lại cánh cửa tư duy hữu ngã, để khỏi rơi vào thế giớiphi thực giả tạo. Cả hai nếp sống “kéo về nếp sống quá khứ” và “mơ màng về viễn cảnh tương lai” đều dẫn dắt con ngườiđi vàocon đường ngõ cụt của sự giải thoát khổ đau ngay trong hiện tại đầy sống động.
Trong khi đó, sự sống thực tếcần phảibước ra ngoài những tác nhân gây rối loạntâm lý, đi từ sự ly tham, ly sân, ly si. Tại đây, tất cả mọi ý tưởng, suy tư từ bên trong tâm thứccho đếnhành vi, việc làmbiểu lộ bên ngoài đều được Tuệ soi rọi. Nơi nào có Tuệ xuất hiện nơi đó thiết lập được giá trịhạnh phúcchân chính, thông qua sự hành trì bởi định lực và giới luật có khả năng tháo gỡ những gông cùm khổ đau xiềng xích con người. Thực tế, đời sốnghiện thực cho chúng ta thấy rõ những tâm hồnbệnh hoạn, chứa chất những tâm lýđố kỵ, ganh ghét, tham lam, nuối tiếc, lo âusợ hãi hay mơ mộng về viễn cảnh tương lai hão huyền… thường cóthái độ sống bất cần và buông thả theo dòng đời. Họ không phân biệt đâu là điều bất thiệncần phải tránh xa để đoạn tận; đâu là điều thiện cần phảinỗ lực học tập để hành trìthực hiện để đem lại sự lợi ích cho mình, cho mọi người.
Thật sinh động và đầy tính hiện thực khi Đức Phật dùng hình ảnh: “Như cây lau xanh lìa cành” để ví von cho những kẻ ngu đi vào ngõ tối không có đuốc trí tuệsoi sángdẫn đường. Ngài từng dạy bảomọi người về một cuộc sống hướng thượng được khởi đầu bằng thái độ sống đi từ Giới đức, Tâm đức, Tuệ đức để chuẩn hoá, phân biệt thiện hay bất thiện. Thái độ sống này cũng được Thế Tônphân biệtrõ ràng, cụ thể khi Ngài xác định thế nào là sự nguy hại của sự bất thiện và cái lợi ích của thiện đem tới: “Ta tuyên bố một cách dứt khoát: Này A Nan Đà, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác là điều không nên làm. Nếu làm những điều không nên làm ấy thời có những nguy hại như sau được chờ đợi: Tự mình chê trách mình, sau khi biết thời kẻ trí chê trách, tiếng ác đồn xa, bị si ám khi mệnh chung, sau khi chết bị sinh vào cõi dữ, cõi ác”.
Ngược lại, Đức Phật cũng dạy: “Này A Nan Đà, Ta tuyên bốdứt khoát rằng thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, là điều nên làm. Nếu làm những điều nên làm ấy thì những lợi ích như sau được chờ đợi: Tự mình không chê trách mình, khi được biết kẻ trí sẽ tán thán, tiếng lành đồn xa, khi mệnh chung không bị si ám, sau khi chết được tái sinh vào cõi trời, cõi đời này” [3]. Như vậy, giá trịhiện tại lạc trú của đạo Phật có tác dụng hướng dẫn con ngườitừ bỏnếp sốngbất thiện dẫn đến khổ đau, thực hànhnếp sống thiện đem lại hạnh phúcan lạc. Muốn đạt kết quả ấy, Đức Phậtthường xuyên khuyên bảo mỗi người cần phảiphản tỉnh và phản tỉnh nhiều lần để nhận rathiện ác vàng thau lẫn lộn giữa lớp sương mù che phủ cuộc đời vốn “bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, bất nhất, bất nhị”. Đức Phật thiết tha kêu gọi chúng ta phàm việc gì cần phảiphản tỉnh nhiều lần từ khi khởi sự, đến lúc đang tiến hành, sau cùng là kết thúc một công việc.
Có như vậy, mỗi việc làm về thân, về lời nói hay ý nghĩ đều được xác định rõ ràng về thiện hay bất thiện. Nếu việc làm ấy dẫn đến kết quả bất thiện hại mình, hại người, hại cả hai thì nên chấm dứttừ bỏ. Nếu việc làm ấy là thiện thì nên nỗ lựctinh tấn, sinh tâm hoan hỷ làm cho tăng trưởng để lợi mình, lợi người, lợi cả hai. Chính Đức Phật đã khuyến tấn cho La Hầu La nên làm như vậy để xác định giá trị tự thân con người: “Này La Hầu La, khi nhà ngươi đang làm, đã làm thân nghiệp, nhà ngươi cần phảiphản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: Thân nghiệp ngày ta đang làm, đã làm đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến khổ đau, đem quả báođau khổ. Một thân nghiệp như vậy, này La Hầu La, nhà ngươi cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày các vị Đạo sư hay các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày cần phải phòng hộ trong tương lai”. “Lại nữa, nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, nhà ngươi phải biết như sau: Thân nghiệp này ta đã làm, không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báoan lạc. Do vậy, này La Hầu La nhà ngươi phải trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tu học ngày đêm trong các thiện pháp” [4].
Với lời dạy quý báu này, lần nữa, Đức Phật đã xác định rõ giá trị cao cả nhất của đạo Phật là giá trịthiết thựchiện tại. Chính giá trị này đã đưa con người từ địa vịphàm phutục tửtrở thành bậc Thánh giữa cõi đời này nếu tự thân biết tu tập, biết sống theo nếp sốngđạo đứchướng thượng đầy an lạc. Nếp sống này mở ra cho chúng ta một cái nhìn vào thực tại “đang là” đầy sống động của hiện tại. Tự mình nhìn ra những nguyên nhân gây nên khổ đau, những lo âusợ hãi để rồi tự mình dập tắt những nguyên nhân khổ đau bất hạnh.
Thế thì, tất cả mọi giá trị của con người đều được xác lập trên mọi hành vi, việc cụ thể được quy chiếu vào cặp phạm trùnhân quảbiện chứng. Đức Phật cũng như mọi người đều phải sống theo nguyên lý này đã thực thi quá trình chuyển hoánội tâm đi từ đời sống thiện đến sự thăng hoa của thiện, từ đời sống đầy nhân bản chuyển sang Phật bản. Đây chính là ý nghĩa sống cao cả nhất của đạo Phật, là mục đíchtối hậu của con người trong suối nguồn hạnh phúc thực sự. Tại đây, đời sống của chúng ta được lý giải bằng thuyết Nghiệp của đạo Phật rất thiết thựchiện tại. Kinh Pháp Cú, kệ 67 ghi:
“Việc làm không chánh thiện
Mắt nhuốm lệ không than
Và nghiệp làm chánh thiện
Hoan hỷ, ý đẹp lòng”.
Trong ý nghĩ này, tự thân mỗi người bắt đầu bước vào suối nguồn Tuệ giácvô thượng. Chính tại nơi đây, bức tường vọng kiến của “tư duy hữu ngã” hoàn toàn sụp đổ, mở ra một lối đi về băng qua những lối mòn được giới hạn ở hai đầu “sanh” và “diệt”, “đoạn” và “thường”, “đi” và “đến”, “đồng nhất” và “dị biệt” của không gianvô tận, thời gianvô cùng của giây phút “thiết thực hiện tại” miên trường nhiệm mầu. Quá khứ, hiện tại, vị lai của một sinh mệnh thực chất là một đời sống sinh độngtrôi chảy không ngừng không có điểm khởi đầu cũng như kết thúc. Thế thì, từ trong thực tánh Duyên khởibước ra, vấn đềNhân quả, Nghiệp báo của một sinh mệnh con người được quyết định tại giây phút hiện tại “đang là” của sự vận hành đối với thực thể đang “sống về”. Đến đây, chúng ta có thể nói, giá trịthiết thựchiện tại trong đạo Phật chính là điều kiện và đủ để xác lập nên giá trịhạnh phúc vĩnh hằng trong thế giớiVô sanhbất diệt ngay giữa cõi đời này.
Tóm lại, sống trong thế giới đầy biến động của thế kỷ XXI này, con người phải đối diện với sự sống và sự chết trong khoảnh khắc vô thường của nạn dịch COVID-19 gây ra thì mới thấy hết giá trịnếp sốnghiện tại lạc trú của đạo Phật. Khi mọi giá trị trên đời này được một số người nhận thức sai lệch về ý nghĩa của sự sống bằng cách chuẩn hoá thước đo đồng tiền đã làm băng hoại các giá trịđạo đứctruyền thống mà báo chígần đâyđưa tin thì con người mới nhận chân và ý thứcchân giá trịhiện tại của đạo Phật là suối nguồn quyết địnhhạnh phúcloài người. Vấn đềcuối cùng là chúng tacần phải tự mình chiêm nghiệm, tự mình hành trì theo nếp sốnghướng thượng, theo lời Phật dạy, chắc rằng ai ai cũng được hạnh phúcan lạc ngay cõi đời này.
Chú thích:
* TT.TS Thích Phước Đạt – Ủy viên Hội đồng Trị sự, Phó ban kiêm Chánh Thư ký Ban Giáo dụcPhật giáo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
[1] Kinh Trung bộ II. Tiểu kinh Malunkya, Thích Minh Châu dịch, Trường Cao cấp Phật họcViệt Namấn hành 1986, tr.139.
[2] Kinh Trung bộ III. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, Thích Minh Châu dịch, Trường Cao cấp Phật họcViệt Namấn hành 1986, tr.336-337.
[3] Kinh Tăng Chi I, số 70, Thích Minh Châu dịch, Trường Cao cấp Phật họcViệt Namấn hành 1986.
[4] Kinh Trung Bộ II và III. Kinh số 61, 62 và 147, Thích Minh Châu dịch, Trường Cao cấp Phật họcViệt Namấn hành 1986.

























