Nguyên Thiện
Kinh Pháp Cú số 69 nêu một thực trạng đáng thương đáng trách của người si mê thiếu trí. Đó là việc đi tìm vị ngọt trong các hành động ác, chìm đắm mê say trong ác dục, không thấy hậu quả nguy hại của ác nghiệp, kết quả là người đó phải chịu khổ đau do các ác nghiệp mà mình đã làm, đã tích tập. Nguyên văn lời Phật như sau:
“Người ngu thấy là ngọt,
Khi ác chưa chín muồi;
Ác nghiệpchín muồi rồi
Người ngu chịu khổ đau”.
Cụ thể hơn trong khi giảng về một lối sống gọi là Pháp hànhhiện tại lạc, tương lai quả báo khổ”,
Đức Phật nói rõ cho chúng ta biết có những người sống tìm vui trong sát
sanh, trong lấy của không cho, trong tà hạnh, trong nói láo, trong nói hai lưỡi, trong nói lời độc ác, trong nói lời phù phiếm, trong tham ái, trong sân hận, trong tà kiến. Họ vui thú khi làm các ác nghiệp như vậy và sống với cảm giác vui thú ấy, quên mất rằng cảm giác vui thú nhất thời ấy là nguyên nhân của mọi bất hạnh khổ đau đang rình rập. Kết quả là chính các ác nghiệp ấy đưa đẩy họ rơi vào cõi dữ, ác thú, đạo xứ, địa
ngục:
“Này các Tỳ kheo, có người với lạc, với hỷ, sát sanh và do duyên
sát sanh, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ lấy của không cho và do duyên lấy của không cho, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc với hỷ sống theo tà hạnh trong các dục, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc với hỷ, nói lời vọng ngữ;
cảm thọ lạc và hỷ; với lạc với hỷ, nói lời hai lưỡi và do duyên nói lời
hai lưỡi, cảm thọ lạc và hỷ, với lạc với hỷ, nói lời ác ngữ, và do duyên nói lời ác ngữ, cãm thọ lạc và hỷ, và do duyên nói lời phù phiếm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc với hỷ có tâm tham ái, và do duyên có tâm tham ái, cảm thọ lạc và hỷ. Với lạc với hỷ, có tâm sân hận và do duyên có tâm sân hận, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc với hỷ, có tà kiến, cảm thọ lạc và hỷ. Vị này sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ địa ngục. Như vậy này các tỳ kheo, gọi là pháp hànhhiện tại lạc,
tương lai quả báo khổ” 1.
Giảng giải về lý dolối sốngchạy theoác dục hay say vui trong ác hạnh ấy, Đức Phật nói rằng, “do vô trí, do si mê nên không biết như chân: “đây
là pháp hànhhiện tại lạc, tương lai quả báo khổ”. Do vô trí với pháp này, do si mê co không tuệ trí như chân, nên phục vụ pháp này, không tránh né pháp này. Vì phục vụ pháp này, vì không tránh né pháp này, nên đối với vị này, các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý tăng trường:
các pháp khả ái, khả lạc khả ý bị tiêu diệt. Vì sao vậy? Như vậy, này các Tỳ kheo, là vì vị ấy không có trí đối với pháp này. Này các tỳ kheo,
ví như bình đồng đựng nước uống, có sắc, có hương, có vị mà nước uống ấy có tẩm thuốc độc. Rồi một người đến muốn sống, muốn không chết, muốn ưu lạc, hiềm ghét khổ, và có người nói với người ấy như sau: “Này bạn, bình đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và nước uống ấy có tẩm thuốc độc. Nếu bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị.. sau khi uống, bạn có thể đi đến chết
hay hayđau khổ gần như chết”: Người kia có thể uống, không suy nghĩ, không từ bỏ. Trong khi uống, người ấy được thích thú về sắc, về hương, về vị. sau khi uống, người ấy có thể đi đến cái chết hay đau khổ gần như
chết. Này các tỳ kheo, ta nói pháp hành động giống như ví dụ ấy, tức là
pháp hànhhiện tại lạc, tương lai quả báo khổ”2
Lời Phật dạy nói cho chúng ta biết rằng, sự thiếu hiểu biết về thiện hay bất thiện, hay sự mê mờ về nhân quảthiện ác là nguyên nhân của lối sốngác hạnh, khổ đau. Mặc khác lời Phật cũng gián tiếp lưu nhắc chúng ta cái xấu đôi khi cũng có sức hấp dẫn đối với con người, nghĩa là làm ác hay sống theo ác dục cũng có vị ngọt (hay nghĩ tưởng nhầm lẫn là ngọt?) nên mới có người chạy theocảm giác vui thú nhất thời
ấy mà bất chấp việc ác. Chỉ đến khi ác nghiệpchín muồi rồi thì (người vô trí, kẻ ác) mới thấy ác, nhưng mọi chuyện bây giờ đã quá muộn 3.Thái
độ mê nhầm này là hết sức đáng tiếc và có gốc rễ của nó. Đó là tà kiến hay quan điểmsai lầm cho rằng không có kết quả của các nghiệp thiện ác,
chẳng hạn, cũng theo lời Phật. “…Có một số Sa môn, Bà la mônthuyết
giảng như sau, có sở kiến như sau: ‘không có lỗi trong các dục’. Những vị này đắm mình trong các dục, hoan lạc với các cô gái lang thang có tóc
quấn trên đầu. Họ nói như sau: ‘Làm sao các tôn giảSa môn, Bà la môn kia thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Khoái lạc thay, sự xúc chạm với bàn tay
có lông mịn, của các cô gái lang thang trẻ trung này!”. Sau khi đắm mình trong các dục, khi thân hoại mạng chung, các vị ấy phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đây, họ cảm thọ những cảm giácđau khổ, khốc liệt, họ nói như sau: “ các tôn giảSa môn, Bà la môn này thấy
sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Nhưng chúng ta, do các dục này làm nhân, do các
dục này làm duyên, phải cảm thọ những cảm giácđau khổ, thống khổ khốc liệt”4.
Quả là hết sức nguy hại cho đời sống khi rơi vào ý tưởngđiên đảo cho rằng các dục không có lỗi hay nhầm tưởng vị của các dục là ngọt, vì sự mê lầm ấy sẽ mở cửa và khuyên khích lối sống buông thả theo bản năngdục vọng. Đức Phật gọi một ý tưởng hay cảm giác như vậy, là điên đảo, si
mê, vô tri, vì nó khiến cho con ngườihoàn toàn mê mờ, điên đảo, say vui trong tai họa khổ đau, không biết rõ ác dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn, nhầm lẫn cảm giác vui thú nhất thời với tai họa khổ đau lâu dài. Nói khác đi, do mê mờ về nhân quả không thấy rõ quy luậtnhân quả báo ứng hay không tin diễn tiếnnhân quả của các nghiệp thiện ác nên con người tự nuôi lấy tà kiến, có thái độxem thườngluật nhân quả, bất chấp đạo lý, dễ dàng làm mọi việc xấu ác để thỏa mãndục vọng. Kết quả là theo lời đức Phật dạy “các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý (tức khổ não) tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý (nghĩa là an lạc), bị tiêu diệt trong người ấy, và vị
ấy phải chịu khổ đau bất hạnh lâu dài”.
Để ngăn tránh lối sốngtai họa khổ đau như vậy, Phật khuyên dạy mọi người phải biết tu tập, tự kềm chếbản thân, không sống đời phóng dật, không mê say dục lạc, đồng thời nên thân cận gần gũi các bậc Thánh hay các bậc thiện trí thức để học hỏiChánh pháp và để phát khởiniềm tin về
thiện pháp. Nhờ học hỏichánh pháp nên thoát khỏità kiếnmê lầm, đặc biệt nhờ hiểu rõđạo lýnhân quả và được cũng cố bởi niềm tin về nhân quảthiện ác mà con người biết rõ đâu là thiện nên theo và đâu là ác nên
từ bỏ. Đó chính là thái độsáng suốt mở đường cho nếp sống hiền thiện an lạc của người hiền trí vậy.
Chú thích:
- Đại kinh Pháp hành, Trung Bộ.
- Đại kinh Pháp hành, Trung Bộ
- Kinh Pháp cú, Kệ số 119.
- Tiểu kinh Pháp hành, Trung Bộ.
- Tạp Chí Văn HóaPhật Giáo số 113 | NGUYÊN THIỆN























