Kinh Vô Lượng Nghĩa

0
9


KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA
Tam tạng pháp sư Đàm Ma Già Đà Da Xá, người Thiên-trúc,
dịch từ Phạn văn ra Hán văn tại Trung-quốc, vào đời
Tiêu-Tề
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn,
giới thiệu và chú thích, tại Gia-nã-đại, năm 2006


GIỚI
THIỆU

Kinh Vô Lượng Nghĩa
(Amitartha-sutra) do ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá (Dharmagatayasas) dịch ra Hán văn
tại chùa Triều-đình ở Quảng-châu, Trung-quốc, vào năm 481 (tức năm thứ 3 niên
hiệu Kiến-nguyên, đời vua Thái-tổ Tiêu Đạo Thành của vương triều Nam-Tề
[479-502], thời đại Nam-triều); được thu vào bộ
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển 9, mang số 276.

Ý chỉ của kinh này đặt trên cơ sở: Vì phiền não của hữu tình
chúng sinh nhiều vô lượng, nên đức Phật thuyết pháp cũng vô lượng; thuyết pháp
vô lượng nên nghĩa lí cũng vô lượng; nghĩa lí tuy vô lượng nhưng chỉ phát sinh
từ MỘT pháp: đó là pháp VÔ TƯỚNG.

Từ “vô lượng nghĩa” có ba ý nghĩa: 1) Tất cả các pháp đều có
đầy đủ vô lượng vô số nghĩa lí, cho nên gọi là “vô lượng nghĩa”. 2) Vô lượng
nghĩa
tức là “thật tướng”. Theo ngài Cát Tạng (549-623) giải thích trong bộ
Pháp Hoa Kinh Nghĩa Sớ, thì bản thể của thật tướng
không có hạn lượng, cho nên gọi là “thể vô lượng”; từ một pháp thật tướng
phát sinh ra tất cả pháp, cho nên gọi là “dụng vô lượng”; cả thể và dụng của
thật tướng đều vô lượng, cho nên gọi là “vô lượng nghĩa”. 3) Vô lượng nghĩa
chỉ cho kinh điển đại thừa. Trong phẩm
“Tựa” của kinh Pháp Hoa
nói: Đức Thế Tôn vì chư vị Bồ-tát mà nói kinh đại thừa tên là
Lượng
Nghĩa. Vì vậy, kinh này cũng có người gọi tên là Kinh Đại Thừa
Lượng Nghĩa
. Nhân nơi đây đề cập tới tên kinh, chúng tôi cũng xin nói
thêm một điều: Trong kinh văn (ở hai phẩm thứ hai và thứ ba) có ghi lời Phật
nói tên kinh này là
“Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Kinh”, nhưng tên kinh được
ghi trong
Tạng Đại Chánh thì không có hai chữ “Đại Thừa”, mà chỉ
có bốn chữ “
Vô Lượng Nghĩa Kinh”; có thể, “Vô Lượng Nghĩa”
mới là tên chính thức của kinh, còn từ “đại thừa” chỉ là tiếng bổ từ mà thôi.

Phẩm “Tựa”
của kinh
Pháp Hoa còn cho biết, tại đạo tràng Kì-xà-quật (gần thành
Vương-xá), đức Phật đã nói kinh
Vô Lượng Nghĩa này trước khi nói kinh Pháp
Hoa
. Sau khi nói kinh Vô Lượng Nghĩa – là pháp môn đã do tự Ngài
chứng đắc, đem giáo hóa hàng Bồ-tát đại thừa – Ngài liền nhập định “Vô lượng
nghĩa xứ”; và sau khi xuất định, Ngài đã nói kinh
Pháp Hoa. Vì vậy chư
vị cổ đức đều nói rằng, kinh
Vô Lượng Nghĩa này chính là tiền đề, là
phần mở đầu của kinh
Pháp Hoa; có thể nói, nội dung của toàn bộ kinh Pháp
Hoa
là khai triển ý chỉ của kinh Vô Lượng Nghĩa vậy.

Về ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá, dịch giả của kinh này, các sử
liệu đã không nói gì nhiều về tiểu sửhành trạng của ngài; chỉ biết đại khái
rằng, ngài là người Trung Thiên-trúc, có mặt ở Quảng-châu vào khoảng cuối nhà
Lưu-Tống đầu nhà Tiêu-Tề (tức khoảng thập niên 70 của thế kỉ thứ 5) của thời
đại
Nam-triều (420-589). Theo bài
“Tựa
Kinh Vô Lượng Nghĩa” của ẩn sĩ Lưu Cầu (437-495) viết để ở đầu cuốn kinh, có
tì kheo Tuệ Biểu ở núi Võ-đang (phía Nam huyện Quân, tỉnh Hồ-bắc), lập chí du
phương
cầu đạo, không nề hiểm nguy, lao nhọc. Năm thứ 3 niên hiệu Kiến-nguyên
(tức năm 481) nhà Tề, ông đến vùng Lĩnh-nam, được gặp sa môn Đàm Ma Già Đà Da
, người Trung Thiên-trúc, ở chùa Triều-đình, thành phố Quảng-châu. Vị sa môn
này có tài viết kiểu chữ “lệ” rất đẹp, đã dịch cuốn kinh
Vô Lượng Nghĩa,
muốn lưu truyền nhưng chưa biết giao phó cho ai. Tì kheo Tuệ Biểu bèn chí thành
cầu thỉnh, ngài bèn trao cho. Tuệ Biểu được bản kinh ấy, liền đem về lại núi
Võ-đang… Ngoài mấy nét giản dị đó ra, không ai biết gì thêm về cuộc đời hành
đạo
của ngài; cả năm sinh năm mất cũng không rõ.

Trước bản dịch của ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá, cũng đã có bản
dịch
Vô Lượng Nghĩa Kinh của ngài Cầu
Na Bạt Đà La
(394-468) ở đời Lưu-Tống (420-479), nhưng đã bị thất truyền rất
sớm.

Bản kinh Hán văn được dùng để dịch ra Việt văn sau đây là
bản Hán dịch của Tam tạng pháp sư Đàm Ma Già Đà Da Xá, rút ra từ
Tạng Đại Chánh, quyển 9, mang số 276.

Kính giới thiệu,

Cư sĩ Hạnh Cơ

Miền Tây Gia-nã-đại,

Tiết Thượng-nguyên năm Bính-Tuất,

2006 (PL 2549)

KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA

Tam tạng pháp sư Đàm Ma Già Đà Da Xá dịch từ Phạn văn ra Hán
văn

Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, giới thiệu và chú
thích

Phẩm 1

ĐỨC HẠNH

Tôi
nghe như vầy:

Một
thuở nọ, đức Phật ngự ở núi Kì-xà-quật[1],
gần thành Vương-xá[2],
cùng với sự hiện diện đông đủ của một vạn hai ngàn vị Tì-kheo lớn[3];
tám vạn vị Bồ-tát lớn[4];
tám bộ chúng[5]
Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già;
chư vị Tì-kheo, Tì-kheo-ni, Cận-sự-nam, và Cận-sự-nữ cũng đều tụ hội đầy đủ.

Các
vị đại Chuyển-luân vương, tiểu Chuyển-luân vương, Kim-luân vương, Ngân-luân
vương và các Luân vương khác;[6]
các vị quốc vương, vương tử, đại thần, quốc dân, quốc sĩ, phu nhân, đại trưởng
giả
, cùng quyến thuộc của họ đông đến hàng trăm, ngàn, vạn người, cùng nhau đi
đến nơi Phật ngự, đầu mặt lạy sát chân Phật, đi nhiễu quanh Phật hàng trăm ngàn
vòng, đốt nhiều loại hương, rải nhiều loại hoa để cúng dường Phật, sau đó thì
lui ngồi về một bên.

Các
vị Bồ-tát trong pháp hội như Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử [7],
Đại Uy Đức Tạng pháp vương tử, Vô Ưu Tạng pháp vương tử, Đại Biện Tạng pháp
vương tử
, Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Đạo Thủ, Bồ-tát Dược Vương, Bồ-tát Dược Thượng,
Bồ-tát Hoa Tràng, Bồ-tát Hoa Quang Tràng, Bồ-tát Đà La Ni Tự Tại Vương, Bồ-tát
Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Thường Tinh Tấn, Bồ-tát Bảo Ấn Thủ,
Bồ-tát Bảo Tích, Bồ-tát Bảo Trượng, Bồ-tát Việt Tam Giới, Bồ-tát Tì Ma Bạt La,
Bồ-tát Hương Tượng, Bồ-tát Đại Hương Tượng, Bồ-tát Sư Tử Hống Vương, Bồ-tát
Tử
Du Hí Thế, Bồ-tát Sư Tử Phấn Tấn, Bồ-tát Sư Tử Tinh Tấn, Bồ-tát Dũng Nhuệ
Lực, Bồ-tát Sư Tử Uy Mãnh Phục, Bồ-tát Trang Nghiêm, Bồ-tát Đại Trang Nghiêm,
vân vân, các vị Bồ-tát lớn như thế, đông đến tám vạn, cũng đều vân tập đầy đủ.

Các
vị Bồ-tát trên đây đều là các bậc Pháp-thân Đại-sĩ [8],
đã thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến[9];
tâm thường tĩnh lặng, an trụ nơi chánh định, an nhiên điềm đạm, dứt hết sợ hãi,
không còn vọng động, không còn ham muốn; mọi thứ điên đảo, loạn tưởng không thể
xâm nhập được. Các Ngài tâm tịch tĩnh lắng trong, chí trống rỗng huyền diệu,
hằng giữ không vọng động trải hàng trăm ngàn ức kiếp. Vô lượng pháp môn đều
hiện rõ trước mắt, mà với trí tuệ rộng lớn, các Ngài đều thông suốt tất cả,
phân biệt rành rẽ, tánh tướng chân thật, không có tốt xấu, rõ ràng minh bạch.
Các Ngài cũng biết rõ mọi căn tánh và ước muốn của chúng sinh, dùng biện tài[10]
tổng trì[11]
vô ngại, thỉnh Phật thuyết pháp, tùy thuận chúng sinhhóa độ, trước là làm
cho thấm nhuần pháp nhũ để dập tắt dục trần, mở cửa niết bàn, quạt gió giải
thoát
để trừ sạch phiền não nóng bứcthế gian, đạt được mọi điều tươi mát.
Thứ đến là nói pháp sâu xa Mười hai nhân duyên, rửa sạch vô minh cho đến già
bệnh chết, đốt cháy mãnh liệt mọi đau khổ từng tích tụ như ánh sáng mặt trời.
Sau đó thì tưới nước pháp đại thừa vô thượng, thấm nhuần tất cả chúng sinh
thiện căn, gieo chủng tử lành vào khắp ruộng công đức, khiến cho tất cả đều
phát sinh mầm mống bồ đề; lấy trí tuệ làm ánh sáng mặt trời mặt trăng, lấy
phương tiện làm thời tiết, giúp chúng sinh khai thông và tăng trưởng sự nghiệp
đại thừa, mau chứng quả Bồ-đề Vô-thượng, thường an trụ nơi cảnh giới an vui
nhiệm mầu chân thật, dùng tâm đại bi vô lượng để cứu khổ chúng sinh.

Các
vị đó đều là chân thiện tri thức. Các vị đó đều là ruộng phước tốt đẹp. Các vị
đó đều là bậc thầy không cần cầu thỉnh. Các vị đó là nơi nương tựa chắc chắn,
đầy an lành, vui vẻ, là nơi được cứu độ, hộ trì. Nơi nào cũng là bậc đạo sư của
mọi người, là cặp mắt sáng cho người mù tối, là tai cho người điếc, là mũi cho
người bị xẻo mất mũi, là lưỡi cho người câm ngọng; làm cho những người có các
căn bị khuyết tật thì lành lặn đầy đủ, những người điên khùng hoảng loạn được
chánh niệm; làm thuyền trưởng và thủy thủ để chở mọi người qua sông sinh tử,
đến bờ niết bàn; làm y sĩ, dược sĩ, chẩn đoán bệnh trạng, hiểu rõ dược tính,
tùy bệnh cho thuốc, giúp cho mọi người bình phục an vui; làm bậc điều ngự không
có các hành vi buông lung, giống như người điều khiển voi ngựa có thể điều phục
những voi ngựa khó điều phục, như sư tử hùng mạnh có uy lực khuất phục các loài
thú khác; đó là bậc không ai có thể phá hoại, là Bồ-tát du hí [12]
với đầy đủ các ba-la-mật[13],
ở nơi lãnh địa của Như Lai, tâm luôn kiên cố, không vọng động, an trú nơi
nguyện lực, làm cho khắp cõi Phật đều thanh tịnh, chẳng bao lâu được chứng quả
Giác ngộ cao tột. Các vị đại Bồ-tát đó đều có công đức không thể nghĩ bàn như
thế.

Các
vị Tì-kheo trong pháp hội như Đại-trí Xá Lợi Phất, Thần-thông Mục Kiền Liên,
Tuệ-mạng Tu Bồ Đề, Đại Ca Chiên Diên, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, A Nhã Kiều
Trần Như
, Thiên-nhãn A Na Luật, Trì-luật Ưu Ba Li, Thị-giả A Nan, Phật tử La
Vân
[14],
Ưu Ba Nan Đà, Li Bà Đa, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Châu Đà, Sa Già Đà,
Đầu-đà Đại Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp[15],
vân vân cả thảy một vạn hai ngàn vị Tì-kheo như vậy, đều là các bậc A-la-hán đã
dứt trừ hết phiền não, không còn bị lậu hoặc ràng buộc, được chân chánh giải
thoát
.

Bấy
giờ ngài Bồ-tát lớn Đại Trang Nghiêm quan sát khắp đại chúng, thấy mọi người
tâm ý đều đã an định, bèn cùng với tám vạn vị Bồ-tát lớn ở trong chúng hội, đều
từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến trước Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật, đi
nhiễu hàng trăm ngàn vòng, đốt hương trời, rải hoa trời; lại có áo cõi trời,
chuỗi anh lạccác loại ngọc quí báu vô giá khác của cõi trời, từ trên
không
từ từ rơi xuống bốn phía như mây tụ để dâng cúng Phật; các thức ăn cõi
trời
trăm vị trân quí đựng trong bát trời, tràn đầy sung mãn, chỉ cần thấy sắc
nghe mùi thì tự nhiên no đủ; cờ trời, phướn trời, lọng trời, nhạc khí vi diệu
cõi trời đặt khắp các nơi, cùng hòa tấu để dâng cúng Phật. Tất cả các vị Bồ-tát
lớn ấy cùng quì gối chắp tay trước Phật, một lòng đồng thanh nói bài kệ khen
ngợi Phật rằng:

“Cao
cả thay bậc Thánh Đại Ngộ!

Không
dơ, không nhiễm, không đắm trước.

Đấng
Điều Ngự của cả trời người,

Gió
đạo, hương đức xông tỏa khắp.

Trí,
tình bình lặng, ngưng suy lự,

Ý
diệt, thức tiêu, tâm tịch tĩnh,

Dứt
huyễn mộng, sạch hết vọng tưởng;

Không
còn các đại, ấm, giới, nhập,[16]

Thân
Phật chẳng có cũng chẳng không,

Chẳng
nhân, chẳng duyên, chẳng tự tha,

Chẳng
vuông, chẳng tròn, chẳng dài ngắn,

Chẳng
lộ, chẳng ẩn, chẳng sinh diệt,

Chẳng
tạo, chẳng khởi, chẳng tác vi,

Chẳng
ngồi, chẳng nằm, chẳng đi đứng,

Chẳng
động, chẳng chuyển, chẳng nhàn tịnh,

Chẳng
tiến, chẳng lùi, chẳng an nguy,

Chẳng
phải, chẳng quấy, chẳng được mất,

Chẳng
kia, chẳng đây, chẳng đi lại,

Chẳng
xanh, chẳng vàng, chẳng đỏ trắng,

Chẳng
hồng, chẳng tím bao màu sắc;

Giới,
định, tuệ, giải, tri kiến[17]
sinh,

Ba
minh[18],
sáu thông[19],
đạo phẩm[20]
phát,

Từ
bi
, mười lực[21],
vô úy[22]
khởi,

Chúng
sinh
nương tựa sinh nghiệp lành.

Hiện
thân
trượng sáu màu vàng kim,

Nghiêm
chỉnh
phương phi chiếu sáng ngời,

Mặt
đẹp trăng tròn sáng mặt trời,

Tóc
xoắn thẩm xanh, đỉnh nhục kế,

Mắt
sáng trong thấy suốt mọi chiều,

Lông
mày biếc, miệng vuông, má đầy,

Môi
lưỡi đỏ đẹp như trái đỏ,

Răng
bốn mươi chiếc trắng thanh khiết,

Trán
rộng mũi thẳng mặt sáng rỡ,

Ngực
hiện chữ “Vạn” (卍)[23],
ức sư tử,

Tay
chân mềm mại đủ ngàn xoáy,

Nách
tay trơn liền giữ trong ngoài,

Ngón
tay thon, cánh tay thẳng dài,

Da
mịn màng, lông xoáy bên phải,

Gót
gối không lộ, mã âm kín,

Gân
nhỏ, xương liền, ruột loài dê,

Trong
ngoài trong suốt sạch không dơ,

Như
nước sạch không hề dính bụi.

Dường
ấy ba mươi hai tướng tốt,

Tám
mươi vẻ đẹp có thể thấy,


thật không tướng, không sắc tướng,

Tất
cả tướng, mắt đối toàn không,

Từ
tướng không tướng, có tướng thân,

Thân
tướng
chúng sinh, tướng cũng vậy;

Khiến
cho chúng sinh vui mừng lạy,

Tâm
chí
thành cung kính ân cần,

Nhân
đó tiêu trừ lòng kiêu mạn.

Thành
tựu
sắc thân đẹp như thế,

Đệ
tử
chúng con gồm tám vạn,

Xin
cúi đầu kính lạy qui y,

Đấng
tư tưởng tâm ý tĩnh lặng,

Bậc
Thánh Điều Ngự không đắm trước.

Cúi
đầu qui y pháp, sắc thân,

Đủ
giới, định, tuệ, giải, tri kiến,

Cúi
đầu qui y bao tướng đẹp,

Cúi
đầu qui y khó nghĩ bàn.

Tiếng
sấm
Phạm âm vang tám thứ[24],

Vi
diệu
thanh tịnh rất sâu xa,

Bốn
đế, sáu độ, mười hai duyên,

Tùy
thuận
chúng sinh nghiệp tâm chuyển,

Ai
nghe được tâm ý đều mở,

Diệt
vô lượng phiền não sinh tử.

Người
nghe hoặc chứng Tu-đà-hoàn,

Tư-đà,
A-na, A-la-hán,

Bậc
Duyên-giác vô lậu vô vi,

Bậc
Bồ-tát không sinh không diệt;

Hoặc
được vô lượng đà-la-ni[25],

Đại
biện tài thuyết pháp vô ngại,

Diễn
nói kệ sâu xa nhiệm mầu,

Ao
pháp trong thảnh thơi tắm gội,

Hoặc
bay, hoặc nhảy, hiện thần túc,

Thân
tự tại ra vào nước lửa.

Pháp
luân
như thế, tướng như thế,

Thanh
tịnh
vô biên khó nghĩ bàn.

Chúng
con lại cùng nhau cúi đầu,

Qui
y
vào lúc xe pháp chuyển.

Cúi
đầu qui y tiếng Phạm âm,

Cúi
đầu qui y duyên, đế, độ [26].

Đức
Thế Tôn
vô lượng kiếp xưa,

Cần
khổ
tu tập bao đức hạnh,


chúng con: người, trời, rồng, thần,

Cùng
tất cả các loài chúng sinh,

Đã
từ bỏ những gì khó bỏ,

Của
báu
, vợ con và thành quách;


pháp, trong ngoài đều không tiếc,

Đầu,
mắt, tủy, não, đều cho người;

Phụng
trì tịnh giới của chư Phật,


cho mất mạng không trái phạm;


người dùng dao gậy làm hại,

Mắng
chưởi, nhục mạ, không hề giận;

Trải
bao kiếp nén mình không mỏi,

Ngày
đêm tâm trụ cảnh giới thiền;

Học
khắp tất cả các đạo pháp,

Trí
tuệ
vào sâu căn chúng sinh,

Cho
nên nay được sức tự tại,

Tự
tại
với pháp, là Pháp Vương.

Chúng
con xin cúi đầu qui y,

Đấng
thành tựu những việc khó làm.”

Phẩm 2

THUYẾT PHÁP

Khi
đức Bồ-tát lớn Đại Trang Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ-tát lớn khác nói bài kệ khen
ngợi Phật xong, lại cùng nhau đồng bạch Phật rằng:

“Bạch
Đức Thế Tôn! Tám vạn Bồ-tát chúng con, hôm nay, trong giáo pháp của đức Thế
Tôn
, có điều muốn hỏi, chẳng biết đức Thế Tôn có rủ lòng thương xót chỉ dạy cho
không?”

Phật
bảo
Bồ-tát Đại Trang Nghiêm và tám vạn vị Bồ-tát rằng:

“Lành
thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Thật là đúng lúc để các ông nêu câu hỏi.
Không bao lâu nữa Như Lai sẽ nhập niết bàn. Sau khi Như Lai nhập niết bàn thì
sẽ không còn ai có điều nghi ngờ gì nữa. Vậy các ông muốn hỏi gì thì nên hỏi.”

Bấy
giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ-tát, liền đồng thanh bạch Phật
rằng:

“Bạch
Đức Thế Tôn! Hàng Bồ-tát lớn muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột một cách nhanh
chóng, cần phải tu tập những pháp môn gì? Những pháp môn gì có thể giúp cho
hàng Bồ-tát lớn nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột?”

Phật
bảo
Bồ-tát Đại Trang Nghiêm và tám vạn vị Bồ-tát rằng:

“Này
thiện nam tử! Có một pháp môn có thể giúp cho hàng Bồ-tát nhanh chóng chứng
được quả vị Giác ngộ cao tột. Nếu có Bồ-tát nào tu tập pháp môn này thì có thể
nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột.”

“Bạch
Đức Thế Tôn! Pháp môn đó tên gọi là gì? Nghĩa lí ra sao? Bồ-tát nên tu tập như
thế nào?”

Phật
dạy:

“Này
thiện nam tử! Pháp môn đó được gọi là “Vô Lượng Nghĩa”. Bồ-tát
muốn được tu học pháp môn Vô Lượng Nghĩa, cần phải quán sát tất cả các
pháp, từ xưa đến nay, tánh tướng đều rỗng lặng; không lớn không nhỏ, không sinh
không diệt, không tiến không lùi, không đứng yên cũng không lay động; giống như
hư không, không có hai pháp. Nhưng chúng sinh thì hư vọng phân biệt chấp trước,
có đây có kia, có được có mất, rồi khởi niệm bất thiện, tạo các nghiệp ác, luân
hồi
trong sáu nẻo, chịu đủ mọi điều đau khổ, trải vô lượng ức kiếp không thể tự
thoát khỏi. Hàng Bồ-tát lớn quán sát thật kĩ càng như thế, sinh lòng thương
xót
, phát tâm từ bi rộng lớn, muốn đến cứu độ. Bồ-tát lại quán chiếu sâu xa,
thâm nhập vào tất cả các pháp để thấy rõ: pháp có pháp tướng như thế thì sinh
như thế; pháp có pháp tướng như thế thì trụ như thế; pháp có pháp tướng
như thế thì dị như thế; pháp có pháp tướng như thế thì diệt[27]
như thế; pháp tướng như thế thì hay sinh pháp ác, pháp tướng như thế thì hay
sinh pháp thiện; ba tướng trụ, dị, và diệt cũng giống như vậy. Bồ-tát cứ như
thế mà quán chiếu bốn tướng, từ lúc khởi đầu cho đến lúc cuối cùng, thảy đều
biết rõ. Thứ đến lại quán chiếu tất cả các pháp, từng niệm từng niệm không đứng
yên
, lúc nào cũng có cái mới sinh, lúc nào cũng có cái mới diệt; lại quán chiếu
để thấy rõ bốn tướng sinh trụ dị diệt đang xảy ra ngay trong giây phút hiện
tại
. Quán chiếu như thế rồi, Bồ-tát lại thâm nhập vào căn tánh ham muốn của
chúng sinh, để thấy rõ rằng, tánh ham muốn của chúng sinh thật là vô lượng, cho
nên nói pháp cũng phải vô lượng; nói pháp vô lượng thì nghĩa lí cũng vô lượng.
Lượng Nghĩa
là do từ một pháp sinh ra; một pháp đó tức là “vô
tướng”
. Vô tướng như thế tức là không có tướng nào mà chẳng có tướng,
chẳng có tướng nào là không tướng, đó gọi là “thật tướng”. Hàng
Bồ-tát lớn đã an trụ nơi tướng chân thật như thế rồi, thì tâm từ bi phát khởi
rõ ràng, chắc chắn, không hư dối; đối với chúng sinh thật có thể cứu khổ. Khổ
đã cứu rồi thì lại thuyết pháp, khiến cho chúng sinh được an vui.

“Này
thiện nam tử! Nếu hàng Bồ-tát lớn có thể tu tập một pháp môn Vô Lượng Nghĩa như
thế thì chắc chắn nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột.

“Này
thiện nam tử! Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, văn lí sâu xa trên hết như
thế, chân thật tôn quí không có gì sánh bằng, chư Phật ba đời đều cùng bảo hộ,
không một ma vương ngoại đạo nào xâm nhập được, tất cả tà kiến sinh tử đều
không thể phá hoại được. Cho nên, này thiện nam tử! Hàng Bồ-tát lớn nếu muốn
nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột, phải nên tu học Kinh Đại
Thừa
Vô Lượng Nghĩa
sâu xa trên hết này.”

Bấy
giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm lại bạch Phật:

“Bạch
Đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn nói pháp không thể nghĩ bàn, căn tánh chúng sinh cũng
không thể nghĩ bàn, pháp môn giải thoát cũng không thể nghĩ bàn. Đối với các
giáo pháp Đức Thế Tôn đã nói, chúng con không hề nghi hoặc; nhưng vì chúng sinh
vẫn còn sinh tâm mê hoặc, cho nên chúng con lại xin hỏi tiếp: Bạch Đức Thế Tôn!
Từ ngày Đức Thế Tôn thành đạo, cho đến nay đã hơn bốn mươi năm, thường vì chúng
sinh
mà nói ý nghĩa về bốn tướng của các pháp; những ý nghĩa về khổ, không,
thường
, vô ngã, không lớn, không nhỏ, không sinh, không diệt; tất cả đều là
tướng
; pháp tánh pháp tướng xưa nay vốn rỗng lặng, không đến, không đi, không
hiện, không ẩn. Nếu có người nghe mà chứng được pháp Noãn, pháp Đảnh, pháp Thế-đệ-nhất;[28]
hoặc chứng được các quả vị như Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán[29],
Bích-chi Phật;[30]
hoặc phát tâm bồ-đề tiến lên các bậc Sơ-địa, Nhị-địa, Tam-địa, cho đến
Thập-địa.[31]
Ý nghĩa của các pháp Đức Thế Tôn đã nói ngày trước, có khác gì với pháp nói
ngày hôm nay, mà Đức Thế Tôn nói đây là ‘kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu xa
trên hết, hàng Bồ-tát tu tập chắc chắn nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ
cao tột’
? Việc này thế nào, cúi xin Đức Thế Tôn thương xót tất cả chúng
sinh
phân biệt giảng giải, khiến cho ở đời này và trong đời vị lai, nếu có
ai nghe được pháp này thì không còn bị mắc trong lưới nghi nữa!”

Bấy
giờ đức Phật dạy Bồ-tát Đại Trang Nghiêm rằng:

“Lành
thay! Lành thay! Đại thiện nam tử! Ông đã có thể hỏi Như Lai được nghĩa lí đại
thừa
vi diệu sâu xa trên hết như thế, thì phải biết rằng ông là người có khả
năng làm nhiều điều lợi íchan lạc cho trời, người, cứu vớt đau khổ cho
chúng sinh, đúng thật là tâm từ bi rộng lớn, đáng tin tưởng, không hư dối; do
nhân duyên đó mà ông chắc chắn nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột,
và cũng giúp cho chúng sinh ở đời này và đời sau nhanh chóng chứng được quả vị
Giác ngộ cao tột.

“Này
thiện nam tử! Từ khi ta ngồi sáu năm ở cội cây bồ-đề, chứng được quả vị Giác
ngộ
cao tột, dùng Phật nhãn quán sát tất cả các pháp mà không thể tuyên nói, vì
sao vậy? Vì tánh ham muốn của chúng sinh không giống nhau. Vì tánh ham muốn mỗi
mỗi không giống nhau cho nên thuyết pháp phải dùng sức phương tiện, trải qua
hơn bốn mươi năm chưa từng nói rõ nghĩa lí chân thật, đạo quả chúng sinh từng
chứng được cũng sai khác, không nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột.

“Này
thiện nam tử! Giáo pháp ví như nước, có thể rửa sạch các nhơ uế. Dù là nước
giếng, nước ao, nước khe, nước suối, nước rạch, nước sông, hay nước biển cả,
đều có thể rửa sạch nhơ uế; nước pháp kia cũng như vậy, có thể tẩy trừ mọi cấu
uế
phiền não cho chúng sinh. Này thiện nam tử! Tính chất của nước chỉ có một,
nhưng nước giếng, nước ao, nước khe, nước suối, nước rạch, nước sông, nước biển
cả thì khác biệt nhau; tính của pháp kia cũng như vậy, khả năng tẩy trừ phiền
não
thì không khác nhau, nhưng ba pháp[32],
bốn quả[33],
hai đường[34]
thì không đồng nhau. Này thiện nam tử! Nước tuy rửa sạch tất cả, nhưng nước
giếng không phải là nước ao, nước ao không phải là nước sông rạch, nước suối
khe không phải là nước biển; Như Lai có hùng lực ở thế gian, đối với các pháp
đều tự tại, các pháp từng nói ra cũng giống như vậy. Các pháp nói ở lúc đầu,
nói ở lúc giữa, hay nói ở lúc sau, đều có thể tẩy trừ phiền não cho chúng sinh,
nhưng pháp nói ở lúc đầu không phải là ở lúc giữa, ở lúc giữa không phải ở lúc sau; pháp nói ở lúc đầu, lúc giữa và lúc sau, văn từ tuy một mà nghĩa lí
đều khác.

“Này
thiện nam tử! Khi ta từ cội cây bồ-đề đứng dậy, đi đến vườn Nai[35]
ở thành Ba-la-nại[36],
vì nhóm ông A Nhã Câu Lân vân vân năm người[37]
chuyển bánh xe pháp[38],
cũng nói các pháp xưa nay vốn rỗng lặng, chuyển biến không ngừng, sinh diệt
trong từng giây phút. Sau đó vào lúc giữa, ở tại đạo tràng này và nhiều nơi
khác
, ta vì chúng Tì-kheo và hàng Bồ-tát tuyên nói, biện giải Mười hai nhân
duyên
[39],
Sáu pháp qua bờ[40],
cũng nói các pháp xưa nay vốn rỗng lặng, chuyển biến không ngừng, sinh diệt
trong từng giây phút. Hôm nay lại ở nơi đây diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng
Nghĩa
, cũng nói các pháp xưa nay vốn rỗng lặng, chuyển biến không ngừng,
sinh diệt trong từng giây phút. Vì vậy cho nên, này thiện nam tử, các pháp nói
lúc đầu, nói lúc giữa, hay nói hôm nay, văn từ thì đồng nhất mà nghĩa lí thì
sai khác. Vì nghĩa lí sai khác cho nên kiến giải của chúng sinh cũng sai khác.
kiến giải sai khác nên sự đắc pháp, đắc quả, đắc đạo[41]
cũng sai khác.

“Này
thiện nam tử! Lúc ban đầu ta vì những người cầu các quả vị Thanh-văn mà nói
pháp Tứ đế[42],
vậy mà tám ức chư thiên đã hạ giáng nghe phápphát tâm Bồ-đề[43].
Lúc giữa ta vì những người cầu quả vị Bích-chi Phật mà nói pháp Mười hai nhân
duyên
ở khắp nơi, vậy mà đã có vô lượng chúng sinh phát tâm Bồ-đề, hoặc an trú
nơi các quả vị Thanh-văn. Tiếp đó ta nói các kinh phương đẳng[44],
mười hai bộ kinh[45],
các kinh Đại Bát Nhã, Hoa Nghiêm, nhằm nêu lên công hạnh tu hành của
hàng Bồ-tát trải qua nhiều đời kiếp, vậy mà đã có đến hàng trăm ngàn Tì-kheo,
vạn ức trời người, vô lượng chúng sinh chứng các quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán, hoặc an trụ nơi pháp nhân duyên của hàng Bích-chi Phật. Này
thiện nam tử! Do ý nghĩa này mà biết rằng, pháp nói ra thì đồng nhau mà nghĩa
lí thì sai khác; do nghĩa lí sai khác nên chúng sinh liễu ngộ khác nhau; do
liễu ngộ khác nhau nên sự đắc pháp, đắc quả, đắc đạo cũng khác nhau. Vì vậy cho
nên, này thiện nam tử, từ khi ta đắc đạo và khởi đầu nói pháp, cho đến hôm nay
diễn nói kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, chẳng có lúc nào ta không nói các
pháp khổ, không, vô thường, vô ngã, không phải chân, không phải giả, không phải
lớn, không phải nhỏ, xưa vốn không sinh, nay cũng không diệt, tất cả là
tướng
, pháp tướng pháp tánh không đến không đi, mà bốn tướng của chúng sinh[46]
thì cứ vẫn biến thiên.

“Này
thiện nam tử! Do ý nghĩa đó mà chư Phật không nói hai lời; chỉ dùng một âm mà
ứng khắp các thứ tiếng; dùng một thân mà thị hiện trăm ngàn muôn ức na-do-tha
vô lượng vô số hằng hà sa thân, trong mỗi một thân này lại thị hiện bao nhiêu
trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kì hằng hà sa các thứ hình loại, trong mỗi
một hình loại này lại thị hiện bao nhiêu trăm ngàn muôn ức na-do-tha a-tăng-kì
hằng hà sa hình loại khác nữa. Này thiện nam tử! Thế thì cái cảnh giới sâu xa
không thể nghĩ bàn của chư Phật, hàng Nhị-thừa[47]
không thể biết được, ngay cả hàng Bồ-tát ở cấp Mười-trụ[48]
cũng không theo kịp được, chỉ có Phật với Phật mới thấu rõ một cách rốt ráo
thôi. Này thiện nam tử! Vì vậy cho nên ta nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa vi
diệu
sâu xa trên hết, văn lí chân thật tôn quí không có gì hơn, chư Phật ba đời
đều cùng bảo hộ, không một ma vương ngoại đạo nào xâm nhập được, tất cả tà kiến
sinh tử đều không thể phá hoại được, hàng Bồ-tát lớn nếu muốn nhanh chóng chứng
được quả vị Giác ngộ cao tột, phải nên tu học Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu
xa
trên hết này.”

Đức
Phật
nói như thế rồi, ba ngàn đại thiên thế giới[49]
rung động sáu cách[50],
bỗng nhiên từ không trung mưa xuống rất nhiều thứ hoa trời như ưu-bát-la,
bát-đàm-ma, câu-vật-đầu, phân-đà-lị; lại rải xuống vô số các thứ hương trời, áo
trời, chuỗi anh lạc và các thứ châu báu vô giá khác của cõi trời; tất cả các
thứ ấy từ trên không trung xoay vòng rơi xuống, cúng dường Phật, chư vị Bồ-tát
đại chúng Thanh-văn[51];
các thức ăn cõi trời trăm vị trân quí đựng trong bát trời, tràn đầy sung mãn;
cờ trời, phướn trời, lọng trời, nhạc khí vi diệu cõi trời đặt khắp các nơi,
cùng hòa tấu để dâng cúng và khen ngợi Phật. Lại nữa, hằng hà sa thế giới chư
Phật ở phương Đông cũng rung động sáu cách, cũng có mưa hoa trời, hương trời,
áo trời, chuỗi anh lạc và các thứ châu báu vô giá khác của cõi trời; các thức
ăn
cõi trời trăm vị trân quí; cờ trời, phướn trời, lọng trời, nhạc khí vi diệu
cõi trời cùng hòa tấu để cúng dường và khen ngợi chư Phật, chư vị Bồ-tát và đại
chúng
Thanh-văn ở các thế giới ấy. Ở phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn
phương góc[52],
phương Trên và phương Dưới cũng đều như thế.

Bấy
giờ ở trong đại chúng có ba vạn hai ngàn vị Bồ-tát lớn chứng được chánh định
lượng nghĩa
, ba vạn bốn ngàn vị Bồ-tát lớn đạt được vô lượng vô số môn
đà-la-ni, có thể chuyển được bánh xe pháp bất thối chuyển của tất cả chư Phật
trong ba đời. Các chúng tì-kheo, tì-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ, trời, rồng,
dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già; các vua đại
Chuyển-luân, tiểu Chuyển- luân, Ngân-luân, Thiết-luân cùng các Luân vương khác;
các vị quốc vương, vương tử, đại thần, quốc dân, nhân sĩ, phu nhân, trưởng giả,
cùng hàng trăm ngàn quyến thuộc của họ, khi nghe Phật nói kinh này rồi, đều
chứng nhập được hoặc là các pháp Noãn, Đảnh, Thế-đệ-nhất; hoặc là các quả
Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi Phật; hoặc chứng được
Bồ-tát Vô sinh pháp nhẫn[53];
hoặc đạt được một môn đà-la-ni, hai môn đà-la-ni, ba môn đà-la-ni, hay bốn môn
đà-la-ni, cho đến năm, sáu, bảy, tám, chín, mười đà-la-ni; hoặc đạt được đến
trăm ngàn vạn ức, cho đến vô lượng vô số hằng hà sa a-tăng-kì đà-la-ni; tất cả
đều có thể tùy thuận chuyển bánh xe pháp bất thối chuyển, và vô lượng chúng
sinh
phát tâm bồ-đề vô-thượng.

Phẩm 3

MƯỜI CÔNG ĐỨC

Bấy
giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm lại bạch Phật rằng:

“Bạch
Đức Thế Tôn! Thế Tôn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa vi diệu sâu xa
trên hết này, đúng thật là sâu xa, rất sâu xa, vô cùng sâu xa! Sở dĩ như
thế là vì sao? Chư vị Bồ-tát lớn và bốn chúng[54],
cùng trời, rồng, quỉ thần, quốc vương và thần dân, cho đến tất cả chúng sinh,
khi được nghe Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa vi diệu sâu xa trên hết này,
không ai là không đạt được các môn đà-la-ni, hoặc ba pháp, bốn quả, cho đến
phát tâm bồ-đề vô-thượng. Nên biết rằng, kinh này văn lí chân chánh, được tôn
quí
không có gì sánh bằng, được chư Phật ba đời bảo hộ; các ma vương, ngoại đạo
không thể xâm nhập được, tất cả các thứ tà kiến sinh tử không thể phá hoại
được, vì sao? Vì một khi nghe được kinh này thì có thể gìn giữ tất cả pháp. Nếu
có một chúng sinh nào được nghe kinh này thì được lợi ích rất lớn, vì sao? Vì
chúng sinh đó nghe kinh này rồi tinh tấn tu tập, thì chắc chắn nhanh chóng
chứng được quả vị Giác ngộ cao tột. Còn những chúng sinh không được nghe kinh
này, phải biết rằng, những chúng sinh đó bị mất lợi ích rất lớn, trải qua
lượng
vô biên không thể nghĩ bàn a-tăng-kì kiếp, chắc chắn không thể chứng được
quả vị Giác ngộ cao tột, vì sao? Vì những chúng sinh ấy không biết đi thẳng
theo con đường lớn đến quả vị Giác ngộ cao tột, lại đi theo con đường nhỏ đầy
hiểm trở và mắc nhiều tai nạn.

“Bạch
Đức Thế Tôn! Kinh điển này không thể nghĩ bàn! Cúi xin Đức Thế Tôn thương xót
khắp cả đại chúng, giải bày những việc sâu xa không thể nghĩ bàn của kinh này.
Bạch Đức Thế Tôn! Kinh điển này do từ đâu đến, sẽ đi tới đâu, trụ ở nơi nào, mà
vô lượng năng lực công đức không thể nghĩ bàn như thế, khiến cho chúng sinh
nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột?”

Bấy
giờ Phật bảo Bồ-tát Đại Trang Nghiêm rằng:

“Lành
thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Đúng vậy. Đúng vậy. Đúng như ông đã nói. Này
thiện nam tử! Ta nói kinh này rất sâu xa, vô cùng sâu xa, chân thật sâu xa. Vì
sao như thế? Vì kinh này khiến cho chúng sinh nhanh chóng chứng được quả vị
Giác ngộ cao tột, một khi được nghe thì có thể gìn giữ tất cả pháp, đối với
chúng sinhlợi ích rất lớn, vì đi con đường thẳng lớn không có hiểm nạn.

“Này
thiện nam tử! Ông hỏi kinh này do từ đâu đến, sẽ đi tới đâu, trụ ở nơi nào; vậy
ông hãy nghe cho kĩ!

“Này
thiện nam tử! Kinh này do từ ngôi nhà của chư Phật mà đến, sẽ đi tới tất cả
chúng sinh nào phát tâm bồ-đề vô-thượng, trụ nơi chư Bồ-tát ở. Này thiện nam
tử! Kinh này đến như thế, đi như thế, trụ như thế; cho nên kinh này mới có
lượng
sức công đức không thể nghĩ bàn như thế, khiến cho chúng sinh nhanh chóng
chứng được quả vị Giác ngộ cao tột.

“Này
thiện nam tử! Ông có muốn nghe kinh này lại còn có mười sức công đức không thể
nghĩ bàn không?”

Bồ-tát
Đại Trang Nghiêm bạch:

“Bạch
Đức Thế Tôn! Chúng con xin muốn được nghe.”

Đức
Phật
dạy:

“Này
thiện nam tử! Thứ nhất là kinh này có thể khiến cho Bồ-tát chưa phát tâm thì
phát tâm bồ-đề; người không có lòng nhân từ thì phát khởi lòng nhân từ; người
từng thích giết hại thì khởi tâm đại bi; người hay ganh ghét thì khởi tâm tùy
hỉ
; người chỉ biết ôm giữ thì khởi tâm xả bỏ; người tham lam keo kiệt thì khởi
tâm
bố thí; người nhiều kiêu mạn thì khởi tâm hành trì giới luật; người sân hận
ngập tràn thì khởi tâm nhẫn nhục; người biếng nhác thì khởi tâm tinh tấn; người
thường bị rối loạn thì khởi tâm tu tập thiền định; người ngu si thì khởi tâm
trí tuệ; người chưa độ người khác thì khởi tâm độ người khác; người hay làm
mười điều ác thì khởi tâm làm mười điều thiện; người ưa thích tu pháp hữu vi
thì khởi tâm quyết chí tu pháp vô vi; người có tâm thối lui thì làm cho tâm
không
còn thối lui; người tu phước hữu lậu thì khởi tâm tu phước vô lậu; người
nhiều phiền não thì khởi tâm diệt trừ phiền não. Này thiện nam tử! Đó là sức
công đức không thể nghĩ bàn thứ nhất của kinh này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ nhì của kinh này, là nếu
chúng sinh nào được nghe kinh này, hoặc nghe một lần, hoặc một bài kệ, cho đến
chỉ một câu, thì có thể hiểu suốt trăm ngàn ức ý nghĩa, trải vô lượng vô số
kiếp mà không thể nói hết những pháp môn đã được thọ trì, vì sao thế? Vì nghĩa
lí của pháp này nhiều vô lượng vậy. Này thiện nam tử! Kinh này ví như từ một
hạt giống mà sinh ra trăm ngàn vạn, rồi từ mỗi một trong trăm ngàn vạn hạt
giống
kia lại sinh ra trăm ngàn vạn nữa, cứ như thế dần dà cho đến vô lượng.
Kinh điển này cũng giống như thế, từ một pháp sinh ra trăm ngàn nghĩa, rồi từ
mỗi một trong trăm ngàn nghĩa ấy lại sinh trăm ngàn vạn nghĩa nữa, cứ như thế
cho
đến vô lượng vô biên nghĩa. Vì vậy cho nên kinh này có tên là Vô Lượng
Nghĩa
. Này thiện nam tử! Đó là sức công đức không thể nghĩ bàn thứ nhì của
kinh này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ ba của kinh này, là nếu có
chúng sinh được nghe kinh này, hoặc nghe một lần, hoặc một bài kệ, cho đến chỉ
một câu, liền thông suốt trăm ngàn vạn ức nghĩa lí; thông suốt nghĩa lí như thế
rồi thì tuy có phiền nãonhư không phiền não, ra vào sinh tử mà không hề có
ý tưởng sợ sệt, đối với chúng sinh thì sinh tâm thương xót, đối với các pháp
được ý tưởng mạnh mẽ, như người lực sĩ có thể vác, cầm các vật nặng. Người hành
trì
kinh này cũng giống như thế, có thể gánh vác trách nhiệm nặng nề của đạo
quả
Bồ-đề Vô-thượng, có thể mang chúng sinh vượt ra khỏi con đường sinh tử.
Người đó tuy chưa độ được mình mà đã độ được người, giống như có ông thuyền
trưởng gặp lúc bệnh nặng, tay chân bải hoải, phải nằm nghỉ trên bờ, nhưng nhờ
có thuyền bè chắc chắn, lại có các vật dụng cần thiết, ông cũng có thể giúp cho
hành khách sang được bên kia sông. Người hành trì kinh này cũng giống như thế,
tuy thân bị ràng buộc trong năm nẻo hữu tình[55],
thường bị 108 thứ bệnh nặng[56]
hành hạ, phải nằm trên bờ vô minh già chết, nhưng nhờ có những trang bị chắc
chắn
của kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa này mà có thể cứu độ chúng sinh;
chúng sinh y theo kinh này mà tu hành thì vượt thoát được biển sinh tử. Này
thiện nam tử! Đó là sức công đức không thể nghĩ bàn thứ ba của kinh này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ tư của kinh này, là nếu có
chúng sinh được nghe kinh này, hoặc một lần, hoặc một bài kệ, cho đến chỉ một
câu, liền có được ý tưởng mạnh mẽ, dù chưa độ được mình, cũng có thể độ cho
người khác, được chư vị Bồ-tát coi như quyến thuộc, được chư Phật nói pháp cho
nghe. Người ấy nghe pháp rồi thì quyết tâm hành trì, luôn kính thuận mà không
trái nghịch; lại tùy duyên vì người mà tuyên dương rộng rãi. Này thiện nam tử!
Người ấy ví như vị phu nhân của vua vừa sinh vương tử, hoặc một ngày, hai ngày,
cho đến bảy ngày, hoặc một tháng, hai tháng, cho đến bảy tháng, hoặc một tuổi,
hai tuổi, cho đến bảy tuổi, vị vương tử ấy tuy chưa có thể đảm nhiệm việc nước,
nhưng đã được thần dân tôn kính, cùng sánh vai bạn bè với các vị vương tử lớn,
thường được vua và phu nhân cưng quí nói cười, yêu thương hơn các vương tử
khác, vì sao thế? Vì vị vương tử đó hãy còn quá bé nhỏ. Này thiện nam tử! Người
hành trì kinh này cũng giống như thế. Chư Phật là quốc vương, kinh này là phu
nhân
, hòa hợp cùng sinh ra con là Bồ-tát. Nếu Bồ-tát đó nghe được kinh này,
hoặc một câu hay một bài kệ, hoặc nghe một lần, hai lần, hoặc mười, một trăm,
một ngàn, một vạn lần, hoặc một ức, một vạn ức, hay hằng hà sa vô lượng vô số
lần, tuy chưa thể hội chân lí đến chỗ cùng cực, chưa làm chấn động được ba ngàn
đại thiên quốc độ bằng pháp âm chuyển bánh xe đại pháp như sấm vang, nhưng đã
được tất cả bốn chúng và tám bộ chúng tôn trọng kính ngưỡng, được chư vị Bồ-tát
lớn coi là quyến thuộc, được thâm nhập vào pháp bí mật của chư Phật, những gì
có thể nói ra đều không trái, không lỗi, thường được chư Phật hộ niệm, từ ái
che chở, vì Bồ-tát đó hãy còn là kẻ tân học. Này thiện nam tử! Đó là sức công
đức
không thể nghĩ bàn thứ tư của kinh này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ năm của kinh này, là nếu
người thiện nam hay thiện nữ nào, ở thời Phật đang tại thế, hoặc sau khi Phật
diệt
độ, được thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu
xa
trên hết này, người thiện nam hoặc thiện nữ ấy tuy vẫn còn bị phiền não trói
buộc
, chưa xa lìa được các sự việc phàm phu, nhưng có thể thị hiện đạo Giác
ngộ
, kéo dài một ngày ra bằng trăm kiếp, thu ngắn trăm kiếp lại bằng một ngày,
khiến cho chúng sinh vui mừng tin phục. Này thiện nam tử! Người thiện nam hoặc
thiện nữ ấy giống như rồng con mới sinh bảy ngày mà có thể làm nổi mây lên,
cũng có thể làm mưa rơi xuống. Này thiện nam tử! Đó là sức công đức không thể
nghĩ bàn thứ năm của kinh này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ sáu của kinh này, là nếu có
người thiện nam hoặc thiện nữ nào, ở thời Phật đang tại thế, hoặc sau khi Phật
diệt
độ, được thọ trì đọc tụng kinh điển này, tuy vẫn còn bị phiền não trói
buộc
nhưng có thể vì chúng sinh mà nói pháp, khiến cho chúng sinh tiêu trừ
phiền não, dứt hết khổ đau. Chúng sinh nghe rồi liền tu hành đắc pháp, đắc quả,
đắc đạo, sánh ngang bằng với chư Phật, không có gì khác biệt; ví như vị vương
tử, tuy tuổi vẫn còn nhỏ, nhưng nếu vua đi tuần du hay bị bệnh nặng, ủy thác
cho trách nhiệm trị nước, vị vương tử ấy, lúc bấy giờ sẽ y theo mạng vua mà ban
hành
mệnh lệnh đúng pháp, quần thần bá quan văn võ đem chánh lệnh giáo hóa,
khắp cả quốc dân đều được an bình, giống như chính đức vua cai trị, không khác
chút nào. Người thiện nam hay thiện nữ thọ trì kinh này cũng giống như thế;
hoặc thời Phật đang tại thế, hoặc sau khi Phật diệt độ, người thiện nam hay
thiện nữ ấy tuy chưa trụ nơi Sơ-địa[57]
cho đến Bất-động-địa[58],
nhưng y theo giáo pháp của Phật đã dạy mà diễn nói đúng như thế, chúng sinh
nghe xong liền nhất tâm tu hành, đoạn trừ phiền não, đắc pháp, đắc quả, cho đến
đắc đạo. Này thiện nam tử! Đó là sức công đức không thể nghĩ bàn thứ sáu của
kinh này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ bảy của kinh này, là nếu có
người thiện nam hay thiện nữ nào, ở thời Phật đang tại thế hoặc sau khi Phật
diệt
độ, được nghe kinh này mà vui mừng tin nhận, cho là điều ít có, bèn thọ
trì
đọc tụng, biên chép giảng giải, theo đúng giáo pháptu hành, phát tâm
bồ-đề, sinh các căn lành, khởi tâm đại bi muốn cứu vớt tất cả khổ não cho chúng
sinh
, thì tuy chưa tu tập sáu pháp qua bờ mà sáu pháp ấy đã tự nhiên hiện ở
trước mặt, và ngay nơi thân này mà chứng được pháp vô sinh nhẫn, mọi phiền não
sinh tử liền bị tiêu trừ trong phút chốc, tức khắc đạt đến bậc Thất-địa[59]
của hàng Bồ-tát lớn. Ví như người anh hùng vì vua dẹp giặc, khi giặc bị dẹp yên
rồi, nhà vua hết sức vui mừng, đem một nửa nước phong thưởng cho. Người thiện
nam
hoặc thiện nữ thọ trì kinh này cũng giống như thế. Đó là người dũng mãnh
nhất trong những người tu hành, sáu pháp qua bờ quí báu không cầu mà tự nhiên
đến, giặc oán sinh tử tự nhiên tiêu trừ, chứng vô sinh nhẫn, được phong thưởng
một nửa của báu ở nước Phật, an vui tự tại. Này thiện nam tử! Đó là sức công
đức
không thể nghĩ bàn thứ bảy của kinh này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ tám của kinh này, là nếu có
người thiện nam hay người thiện nữ, ở thời Phật đang tại thế hoặc sau khi Phật
diệt
độ, nghe được kinh điển này mà cung kính tin nhận, coi đó như chính thân
Phật không khác, yêu thích kinh ấy và thọ trì đọc tụng, biên chép, tôn kính như
đội trên đầu, theo đúng giáo pháp tu hành, chí giữ giới và tâm nhẫn nhục vững
chắc
, thực hành bố thí, phát tâm từ bi sâu xa, đem kinh Đại Thừa Vô Lượng
Nghĩa
trên hết này giảng nói rộng rãi cho mọi người nghe; nếu những người
đến trước là hạng người không tin tội phước, thì lấy kinh này mà chỉ dạy, dùng
các thứ phương tiện giáo hóa mạnh mẽ, khiến cho họ tin theo, dùng uy lực của
kinh này giúp cho tâm họ sáng suốtquay về với chánh đạo. Khi lòng tin đã
phát sinh thì tinh tấn dũng mãnh, được nhờ thế lựcoai đức của kinh này mà
đắc quả, đắc đạo. Vì vậy người thiện nam hay thiện nữ ấy liền ngay nơi thân này
mà chứng được vô sinh pháp nhẫn, ở bậc Địa-thượng[60],
trở thành quyến thuộc của chư vị Bồ-tát, nhanh chóng thành tựu cõi Phật thanh
tịnh
nơi cảnh giới chúng sinh, không bao lâu sẽ chứng được quả vị Giác ngộ cao
tột. Này thiện nam tử! Đó là sức công đức không thể nghĩ bàn thứ tám của kinh
này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ chín của kinh này, là nếu có
người thiện nam hay thiện nữ nào, ở thời Phật đang tại thế hay sau khi Phật
diệt
độ, nghe được kinh này thì vui mừng nhảy nhót, cho là được điều chưa từng
có, liền thọ trì đọc tụng, biên chép cúng dường, vì mọi ngườigiảng giải
nghĩa lí rõ ràng, thì bao nhiêu nghiệp chướng nặng nề từ nhiều kiếp trước còn
sót lại, tức khắc đều được tiêu trừ hết sạch, thân tâm thanh tịnh, được biện
tài
lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp qua bờ, đạt được các loại chánh định
như chánh định Thủ-lăng-nghiêm, vào cửa tổng trì, được sức tinh tấn chuyên cần,
nhanh chóng tiến lên bậc Địa-thượng, có thể phân thân vô số ở khắp mười phương
quốc độ, cứu vớt tất cả chúng sinh đang chịu đau khổ cùng cực trong khắp hai
mươi lăm cõi[61],
khiến cho tất cả đều được giải thoát; cho nên kinh này có năng lực như thế. Này
thiện nam tử! Đó là sức công đức không thể nghĩ bàn thứ chín của kinh này.

“Này
thiện nam tử! Sức công đức không thể nghĩ bàn thứ mười của kinh này, là nếu có
người thiện nam hay thiện nữ nào, ở thời Phật đang tại thế hoặc sau khi Phật
diệt
độ, được nghe kinh này liền sinh tâm vui mừng cho là điều ít có, rồi tự
mình thọ trì đọc tụng, biên chép cúng dường, y theo kinh dạy mà tu hành, sau đó
lại khuyến hóa rộng rãi mọi người trong hàng xuất gia cũng như tại gia cùng thọ
trì
đọc tụng, biên chép, giảng giải, cúng dường, theo đúng giáo pháptu
hành
. Những người xuất giatại gia này tu hành, nhờ năng lực của kinh này mà
đắc đạo, đắc quả, đó là đều do lòng từ bi và sức khuyến hóa của người thiện nam
hay thiện nữ kia; cho nên người thiện nam hay thiện nữ ấy ngay nơi thân này
liền đạt được vô lượng các môn đà-la-ni, ở địa vị phàm phutự nhiên ngay lúc
ban đầu có thể phát vô số a-tăng-kì thệ nguyện rộng lớn, thành tựu tâm đại bi,
cứu vớt đau khổ rộng khắp chúng sinh, huân tập thiện căn sâu dầy, làm lợi ích
cho tất cả, diễn nói giáo pháp làm cho thấm nhuần những chỗ khô cằn, lấy những
phương thuốc giáo pháp ban phát cho chúng sinh, làm cho tất cả đều được an vui,
dần dần tiến lên đến Pháp-vân-địa[62].
Ân đức của người thiện nam hay thiện nữ ấy thấm nhuần khắp nơi, lòng từ phủ
khắp không có gì bị bỏ sót, nhiếp thọ hết chúng sinh đau khổ, dẫn dắt tất cả
đều vào đường đạo. Cho nên chẳng bao lâu thì người thiện nam hay thiện nữ ấy
chứng được quả vị Giác ngộ cao tột. Này thiện nam tử! Đó là sức công đức không
thể nghĩ bàn thứ mười của kinh này vậy.

“Này
thiện nam tử! Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa có sức oai thần rộng
lớn cùng cực, trên hết là như thế, thật tôn quí không có gì sánh bằng, có thể
khiến cho kẻ phàm phu thành tựu được thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sinh tử, hoàn
toàn
tự tại; vì vậy mà nó có tên là Vô Lượng Nghĩa. Nó làm cho
tất cả chúng sinh ở ngay nơi địa vị phàm phusinh khởi vô lượng mầm mống của
đạo Bồ-tát, khiến cho cây công đức cứ tăng trưởng mãi cho đến khi tươi tốt sum
sê; cho nên kinh này có hiệu là Mười Sức Công Đức Không Thể Nghĩ Bàn”.

Lúc
bấy giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ-tát lớn đồng thanh bạch Phật
rằng:

“Bạch
Đức Thế Tôn! Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu xa mầu nhiệm hơn
hết mà Đức Thế Tôn vừa nói, văn lí chân chánh, tôn quí không gì sánh bằng, được
chư Phật ba đời cùng bảo hộ, ma vương ngoại đạo không thể xâm nhập được, tất cả
tà kiến sinh tử không thể phá hoại được; vì vậy cho nên kinh này mới có mười
sức công đức không thể nghĩ bàn, làm lợi ích rộng lớn cho tất cả chúng sinh,
giúp cho tất cả các vị Bồ-tát lớn đều được chánh định Vô lượng nghĩa, hoặc được
trăm ngàn môn đà-la-ni, hoặc được các địa, các pháp nhẫn của bậc Bồ-tát, hoặc
chứng được Duyên-giác, La-hán, và bốn đạo quả[63].
Đức Thế Tôn đã thương xót chúng con mà nói ngay giáo pháp như thế, khiến cho
chúng con hưởng được lợi ích lớn lao của giáo pháp, thật là kì diệu đặc biệt
chưa từng có! Từ ân của Đức Thế Tôn thật khó báo đáp!”

Lúc
ấy
cả ba ngàn đại thiên thế giới chấn động sáu cách, trên không trung mưa xuống
rất nhiều loại hoa trời, như hoa ưu-bát-la, hoa bát-đàm-ma, hoa câu-vật-đầu,
hoa phân-đà-lị; lại mưa xuống nhiều loại hương trời, áo trời, chuỗi anh lạc
các châu báu vô giá khác của cõi trời; tất cả các thứ ấy từ trên không trung
xoay vòng rơi xuống, cúng dường Phật, chư Bồ-tát và đại chúng Thanh-văn; các
thức ăn cõi trời trăm vị trân quí đựng trong bát trời, tràn đầy sung mãn, chỉ
cần thấy sắc nghe mùi thì tự nhiên no đủ; cờ trời, phướn trời, lọng trời, nhạc
khí vi diệu cõi trời đặt khắp các nơi, cùng hòa tấu để dâng cúng và khen ngợi
Phật. Lại nữa, hằng hà sa thế giới chư Phật ở phương Đông cũng rung động sáu
cách, cũng có mưa hoa trời, hương trời, áo trời, chuỗi anh lạc và các thứ châu
báu
vô giá khác của cõi trời; các thức ăn cõi trời trăm vị trân quí đựng trong
bát cõi trời, chỉ cần thấy sắc nghe mùi thì tự nhiên no đủ; cờ trời, phướn
trời, lọng trời, nhạc khí vi diệu cõi trời cùng hòa tấu để cúng dường và khen ngợi
chư Phật, chư vị Bồ-tát và đại chúng Thanh-văn ở các thế giới ấy. Ở phương Nam,
phương Tây, phương Bắc, bốn phương góc, phương Trên và phương Dưới cũng đều như
thế.

Lúc
bấy giờ Phật bảo Bồ-tát Đại Trang Nghiêm cùng tám vị Bồ-tát lớn rằng:

“Các
ông đối với kinh này nên đem lòng cung kính sâu xa, theo đúng giáo pháptu
hành
, ngày đêm gìn giữ ân cần, quảng bá giáo hóa rộng rãi với tất cả lòng siêng
năng, khiến cho tất cả chúng sinh đều được ích lợi của giáo pháp. Các ông thật
đại từ đại bi, lập nguyện với sức thần để bảo hộ kinh này, đừng để cho ngưng
trệ. Trong đời vị lai phải lưu hành rộng rãi kinh này ở khắp cõi Diêm-phù-đề,
khiến cho tất cả chúng sinh đều được thấy nghe, đọc tụng, biên chép, cúng
dường
. Những công hạnh đó cũng giúp cho các ông nhanh chóng chứng được quả vị
Giác ngộ cao tột.”

Khi
ấy Bồ-tát Đại Trang Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ-tát lớn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi
đến trước Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật, đi nhiễu trăm ngàn vòng, rồi quì
xuống trước Phật, đồng thanh bạch Phật rằng:

“Bạch
Đức Thế Tôn! Chúng con mong ơn Đức Thế Tôn thương xót, vì chúng con mà nói Kinh
Đại Thừa
Vô Lượng Nghĩa
sâu xa nhiệm mầu trên hết này, chúng con xin
cung kính thọ nhận lời dạy bảo của Đức Thế Tôn. Sau khi Đức Thế Tôn diệt độ,
chúng con sẽ đem kinh này lưu bố rộng rãi, khiến cho khắp cả chúng sinh thọ trì
đọc tụng, biên chép cúng dường. Cúi xin Đức Thế Tôn đừng lo lắng việc ấy. Chúng
con sẽ đem nguyện lực khiến cho tất cả chúng sinh được thấy nghe đọc tụng, biên
chép cúng dường, được ích lợi lớn do sức oai thần của kinh pháp này.”

Bấy
giờ đức Phật liền khen ngợi rằng:

“Lành
thay! Lành Thay! Này các thiện nam tử! Các ông hôm nay chân chánh là các Phật
tử! Tâm đại từ đại bi của các ông có thể cứu vớt mọi khổ ách. Các ông là những
người hướng đạo tốt, tất cả chúng sinh đều nương vào các ông làm nơi y chỉ. Các
ông thường đem lợi ích của giáo pháp ban phát rộng khắp cho tất cả chúng sinh,
cho nên các ông cũng là những vị thí chủ lớn, làm ruộng phước tốt của tất cả
chúng sinh.”

Khi
Phật nói xong, tất cả đại chúng trong pháp hội đều vui mừng cùng cực, xin
nguyện thọ trì, rồi đảnh lễ Phật và lui ra.


CHÚ
THÍCH
:

[1] Kì-xà-quật: là tiếng dịch âm từ chữ Phạn “Grdharakuta”,
dịch nghĩa ra Hán ngữ là Thứu-phong hay Linh-thứu, là tên một ngọn núi nằm về
phía Đông-Bắc, và cũng là ngọn núi lớn nhất trong năm ngọn núi bao quanh thành
Vương-xá. Đỉnh núi trông giống như đầu chim thứu (tức chim kênh-kênh, thích ăn
xác chết), lại trong núi có rất nhiều chim thứu, nên ngọn núi được đặt tên như
vậy. Cảnh trí trên núi rất đẹp đẽ, có khe suối chứa nước trong lành, có nhiều
hang động kín đáo, rất thuận tiện cho sự tu tập của chư tăng. Tu viện Trúc-lâm
vẫn là đạo tràng chính ở thành Vương-xá, nhưng khoảng 15 năm sau ngày thành
đạo
, mỗi khi trở về Vương-xá hoằng hóa, đức Phật thường ngự trên núi Linh-thứu.
Từ đó, núi này đã trở thành một đạo tràng nổi tiếng của đức Phật. Trên đỉnh núi
có đàn nói pháp, có tịnh thất của Phật và của các vị đệ tử lớn của Ngài. Vua
Tần Bà Sa La
(vua của nước Ma-kiệt-đà thời Phật tại thế) đã cho xây mấy trăm
bậc cấp bằng đá suốt từ chân núi lên đến đỉnh núi. Các thung lũng nhỏ được san
bằng
. Các khe suối thì vua cho bắc cầu để dễ qua lại. Đứng trên đỉnh núi có thể
nhìn thấy khắp thành Vương-xá. Các bậc cấp lên núi ngày nay vẫn còn. Các di
tích
khác từ thời Phật tại thế như nền đá của đàn nói pháp, các thạch thất của
Phật và chư vị tôn giả, nơi Phật bị mảnh đá văng trúng chân (do Đề Bà Đạt Đa từ
trên cao xô xuống để hại Phật), v.v… hiện nay vẫn còn.

[2] Thành Vương-xá: là kinh đô nước Ma-kiệt-đà thời Phật
tại thế (nay là xứ Rajgir, phía Nam thành phố Patna); và vị quốc vương đương
thời là Tần Bà Sa La. Trước vua Tần Bà Sa La, kinh đô của nước Ma-kiệt-đà được
đặt tại thành Thượng-mao-cung, cũng gọi là thành Cựu-vương-xá. Sau khi lên
ngôi
, vua Tần Bà Sa La đã chọn khu đất ở phía Bắc thành này, có năm ngọn núi
bao bọc
chung quanh, kiến tạo nên thành Vương-xá, rồi thiên đô về đó. Con của
vua Tần Bà Sa Lathái tử A Xà Thế, sau khi lên ngôi kế vị, vẫn giữ kinh đô
là thành Vương-xá; nhưng từ sau khi thôn tính nước Bạt-kì, đã thiên đô đến
thành Hoa-thị (tức thành Ba-tra-liên-phất) ở tả ngạn sông Hằng (nay là thành
phố Patna). Thành Vương-xá là một trong các trung tâm hóa đạo quan trọng nhất
trong thời Phật tại thế, mà Trúc-lâm, Linh-thứu ở ngoại thành là hai đạo tràng
trứ danh của đức Phật ở nước Ma-kiệt-đà. Thành này cũng là nơi thánh điển được
kết tập lần đầu tiên sau ngày đức Thế Tôn nhập diệt.

[3] Tì-kheo lớn (đại tì-kheo): chỉ cho các vị tì-kheo đã
chứng quả A-la-hán.

[4] Bồ-tát lớn (đại Bồ-tát): chỉ cho các vị Bồ-tát từ
bậc Sơ-địa trở lên.

[5] Tám bộ chúng (bát bộ chúng, hay thiên long bát bộ):
chỉ cho các vị thần phát tâm bảo hộ Phật pháp: Thiên, Long, Dạ-xoa (một loài
quỉ), Càn-thát-bà (thần âm nhạc), A-tu-la, Ca-lâu-la (loài chim thần cánh
vàng), Khẩn-na-la (thần xướng ca), Ma-hầu-la-già (thần rắn). Các loài trên, vì
được cảm hóa bởi uy đức của Phật cho nên đã trở thành quyến thuộc của Phật,
phát tâm hộ trì Phật pháp và bảo hộ tất cả các quốc độ của chư Phật.

[6] Chuyển-luân vương (hay Luân vương), nói cho đủ là
Chuyển- luân thánh vương, là từ dịch ý của tiếng Phạn “cakra-varti-rajan”,
nghĩa là người chủ của bánh xe báu xoay chuyển. Luân vương là vị có phước báo
bậc nhất ở nhân gian, là vua của tất cả vua chúa trong thiên hạ. Tùy theo chất
liệu làm thành bánh xe báu và giới hạn lãnh địa cai trị, nhất là phước báo
riêng của từng vị, mà phân biệt có bốn bậc Luân vương: Thấp nhất là Thiết Luân
vương
(Luân vương có bánh xe bằng sắt), thống trị một châu là Nam Thiệm-bộ (tức
châu Diêm-phù-đề); cao hơn là Đồng Luân vương (Luân vương có bánh xe
bằng đồng), thống trị hai châu là Nam Thiệm-bộ và Đông Thắng-thân; trên nữa là Ngân
Luân vương (Luân vương có bánh xe bằng bạc), thống trị ba châu là Nam
Thiệm-bộ, Đông Thắng-thân và Tây Ngưu-hóa; tối caoKim Luân vương
(Luân vương có bánh xe bằng vàng), thống trị cả bốn châu thiên hạ, gồm ba châu
trên và châu Bắc Câu-lô. (Xin xem thêm “Bài 4”, sách Giáo Khoa Phật Học Cấp
Hai, quyển Thượng, cư sĩ Hạnh Cơ dịch và chú thích bổ túc, Ban Bảo Trợ Phiên
Dịch
Pháp Tạng Việt Nam ấn hành, để biết rõ nhiều chi tiết hơn về Chuyển-luân
thánh vương.)

[7] Pháp vương tử: Đức Phật tự tại với tất cả các pháp,
nên xưng Ngài là Pháp vương; do đó, các đệ tử của Phật được gọi là “pháp vương
tử”.

[8] Pháp-thân Đại-sĩ: Bồ-tát cũng gọi là “Đại-sĩ”.
Pháp-thân Đại-sĩ tức là Pháp-thân Bồ-tát, là các vị Bồ-tát đã dầy công tu hành
trải bao số kiếp, đã diệt hết phiền não, chứng được sáu thần thông, đoạn trừ
một phần vô minh, hiển lộ một phần pháp tánh; một cách chính xác, đó là chư vị
Bồ-tát lớn từ bậc Thập-địa trở lên. Ngược lại, các vị Bồ-tát chưa đoạn trừ hết
phiền não thì gọi là “Sinh-thân Đại-sĩ”, hay “Sinh-thân Bồ-tát”.

[9] Giới, định, tuệ, giải thoátgiải thoát tri kiến
là năm thứ công đức vốn có đầy đủ trong tự thể của Phật, được gọi là “năm
phần pháp thân”
(ngũ phần pháp thân). 1) Giới (tức giới pháp
thân) là thân ngữ ý của Phật đều thanh tịnh, không bao giờ có một lầm lỗi nhỏ
nhặt nào.

2)
Định (tức định pháp thân) là chân tâm tịch tịnh của Phật, tự tánh bất
động
, hoàn toàn xa lìa mọi vọng niệm.

3) Tuệ (tức tuệ pháp thân) chính là căn bản trí, là
chân tâm rỗng sáng của Phật, tự thể không hôn ám, thấu suốt pháp tánh.

4) Giải thoát (tức giải thoát pháp thân) là tự thể
không
hệ lụy của Phật, giải thoát tất cả mọi ràng buộc.

5) Giải thoát tri kiến (tức giải thoát tri kiến pháp
thân
) là tuệ giác của Phật chứng biết tự thể xưa nay vốn không nhiễm ô, đã thật
sự giải thoát.

Đôi khi HƯƠNG được đem dùng để ví dụ cho pháp thân, cho nên
năm phần pháp thân cũng được gọi là “năm phần hương” (ngũ phần
hương
), tức giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, và giải thoát
tri kiến
hương.

Năm phần pháp thân giải thích như trên là theo Phật giáo đại
thừa
; còn theo cách giải thích của Phật giáo tiểu thừa thì giới, định, tuệ,
giải thoátgiải thoát tri kiến là năm thứ công đức vô lậu tập hợp thành cảnh
giới giác ngộ
cao tột của bậc Vô-học (tức quả vị A-la-hán của Thanh-văn thừa và
quả vị Phật-đà của Bồ-tát thừa), cho nên chúng được gọi là “năm uẩn vô
lậu”
(vô lậu ngũ uẩn).

1) Giới uẩn tức là hai nghiệp thân và ngữ vô lậu.

2) Định uẩn tức là ba thứ chánh định không, vô tướng
vô nguyện.

3) Tuệ uẩn tức là chánh tri, chánh kiến của bậc
Vô-học.

4) Giải thoát uẩn tức là sự thắng giải tương ưng với
chánh kiến.

5) Giải thoát tri kiến uẩn tức là tận trí
(đoạn diệt hết phiền nãochứng nhập trí tuệ vô lậu của bậc Vô-học) và
sinh trí
(trí tuệ biết rõ là trí tuệ của mình không bị thối thất.

Đối lại với năm uẩn vô lậu đó là năm uẩn hữu lậu
(tức sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là năm yếu tố làm thành hữu tình chúng sinh.

[10] Biện
tài
:
“Biện” là cách diễn bày bằng ngôn ngữ; “biện tài” là tài hùng biện,
trong thuật ngữ Phật họcđặc biệt được dùng để chỉ cho tài năng thuyết pháp.
Chư Phật và Bồ-tát, trải từ bao nhiêu kiếp, do ngữ nghiệp thanh tịnh mà có đầy
đủ các thứ biện tài như: thuyết mọi pháp môn không bị chướng ngại; giải rõ mọi
nghĩa lí không bị chướng ngại; dùng từ để diễn đạt không bị chướng ngại; diễn
nói một cách chính xác, tự tại, không bị chướng ngại.

[11] Tổng
trì
là dịch ý từ tiếng Phạn “đà-la-ni”, tức là sức trí tuệ ghi nhớ có thể
tổng nhiếp nhớ giữ vô lượng Phật pháp mà không để bị quên mất.

[12] Du hí:
Người đời thường dùng từ “du hí” để chỉ cho việc đi đây đó vui chơi không mục
đích
; trong Phật giáo, “du hí” có nghĩa là đi đó đây để giáo hóa độ sinh. Những
ai đi đây đó giáo hóa độ sinh một cách tự tại, không bị bất cứ sức mạnh nào làm
cho trở ngại, chùng bước, gọi là có “thần thông du hí”.

[13] Các
ba-la-mật:
Tiếng Phạn “ba-la-mật” hay “ba-la-mật-đa”, dịch ra Hán ngữ là
“cứu cánh” (rốt ráo), “độ” (qua sông), hay “đáo bỉ ngạn” (đến bờ bên kia), dùng
để chỉ cho các pháp môn tu tập của hàng Bồ-tát. Bồ-tát tu tập các pháp môn này
để tự mình đạt được giác ngộ giải thoát và giúp cho mọi người giác ngộ giải
thoát
. Một cách căn bản, có sáu pháp môn như vậy, được gọi là “lục ba-la-mật”, hay
“lục độ” (sáu pháp qua bờ), gồm có: bố thí ba-la-mật, trì giới ba-la-mật, nhẫn
nhục
ba-la-mật, tinh tấn ba-la-mật, thiền định ba-la-mật, và trí tuệ ba-la-mật.
(Xem chú thích số 40 ở sau.)

[14] La Vân
tức là tôn giả La Hầu La.

[15] Trong số
các vị Tì-kheo được nêu tên trên đây, 10 vị tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên,
Tu Bồ Đề, Đại Ca Chiên Diên, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, A Na Luật, Ưu Ba Li, A
Nan
, La Vân, và Đại Ca Diếp, được tôn xưng là “mười vị đệ tử lớn” (thập
đại đệ tử
) của Phật. (Để biết rõ tiểu sử, hành trạng của quí vị tôn giả này,
xin xem sách Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật, cư sĩ Hạnh Cơ dịch, ấn bản mới nhất
năm 2005 của chùa Liên Hoa và hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County.)

[16] Đại,
ấm, giới, nhập:

1) “Đại” tức là những nguyên tố lớn, có cùng
khắp, hòa hợp với nhau mà làm nên vạn pháp trong vũ trụ; ví dụ: toàn thể sắc
pháp
(vật chất) trong vũ trụthân thể của các loài hữu tình (rõ nhất là thân
thể
con người) là do bốn nguyên tố lớn (tứ đại) sau đây hợp
thành: đất (địa đại), nước (thủy đại), lửa (hỏa đại) và gió
(phong đại); nếu thêm nguyên tố hư không (không đại) thì có “ngũ
đại”
. Nếu kể cả phần tinh thần của các loài hữu tình (rõ nhất là con
người
) thì phải thêm hai nguyên tố kiến (kiến đạitánh thấy) và thức
(thức đại – nhận thức phân biệt), như thế là có bảy nguyên tố lớn (thất
đại
)
. Lại nữa, vạn vật trong vũ trụ luôn luôn trôi chảy, cho nên đã có
nguyên tố không gian thì đồng thời cũng có nguyên tố thời gian,
vậy thời gian cũng là một nguyên tố lớn góp phần hình thành vạn pháp trong
trụ
; do đó, nói về “đại” thì có tất cả là 8 đại (bát đại):
địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, kiến và thức.

2) “Ấm” tức là “uẩn”, là các yếu
tố tinh thần
vật chất cùng hòa hợp để cấu tạo nên con người, gồm có 5 yếu tố
(ngũ ấm, hay ngũ uẩn): sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Trong năm
yếu tố này thì sắc thuộc về sắc pháp (vật chất); còn thọ, tưởng, hành
và thức
thì thuộc về tâm pháp (tinh thần).

3) Nhập là chỉ cho 6 căn (nhãn,
nhĩ, tị, thiệt, thân, và ý) và 6 cảnh (hay 6 trần:
sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp). Chữ “nhập” ở đây có nghĩa là tiếp
xúc
với nhau, tức là 6 căn và 6 cảnh tiếp xúc với nhau, như nhãn căn tiếp xúc
với sắc cảnh, nhĩ căn tiếp xúc với thanh cảnh, ý căn tiếp xúc với pháp cảnh
v.v… Ở đây, cảnh là đối tượng của căn, và vì căn với cảnh, mỗi bên đều có 6
pháp, cho nên gọi là “6 nhập” (lục nhập); lại vì căn thì ở trong
tự thân con người, còn cảnh thì ở bên ngoài tự thân con người, nên 6 căn được
gọi là “6 nhập trong” (lục nội nhập), và 6 cảnh thì được gọi là
“6 nhập ngoài” (lục ngoại nhập). Cộng 6 nhập trong và 6 nhập
ngoài thì có 12 nhập, nên “6 nhập” (lục nhập) cũng tức là “12 nhập” (thập
nhị nhập
)
.

4) Giới nghĩa là khu vực, tức là mỗi pháp có
khu vực, giới hạn riêng của nó, pháp này không lẫn lộn được với pháp kia. Vạn
pháp
trong vũ trụ được bao hàm trong 18 khu vực (thập bát giới)
gồm có: 6 căn, 6 cảnh (như vừa nói trên) và 6 thức. Khi một căn tiếp xúc với
đối tượng của nó (cảnh) thì phát hiện ra một thức; ví dụ, khi nhãn căn tiếp xúc
với sắc cảnh thì liền có nhãn thức, ý căn tiếp xúc với pháp cảnh thì liền có ý
thức
, v.v… Tóm lại, 6 căn (nhãn căn, nhĩ căn, tị căn, thiệt căn, thân
căn
, ý căn), 6 cảnh (sắc cảnh, thanh cảnh, hương cảnh, vị cảnh, xúc
cảnh
, pháp cảnh) và 6 thức (nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân
thức
, ý thức), cộng lại là 18 khu vực. Tất cả mọi sự mọi vật trong
trụ
đều bao gồm trong 18 khu vực này.

[17] Giới,
định, tuệ, giải, tri kiến:
tức giới, định, tuệ, giải thoátgiải thoát
tri kiến
(như vừa trình bày trong chú thích số 9 ở trên).

[18] Ba
minh (tam minh):
cũng gọi là “tam đạt”, là ba thứ trí sáng suốt của phật,
biết rõ mọi sự việc phân minh rõ ràng; đó là:

1) Túc mạng minh: biết rõ từ một cho đến trăm
ngàn vạn ức kiếp trước của chính mình và của chúng sinh.

2) Thiên nhãn minh: biết rõ tất cả các tướng
trạng sinh tử của chúng sinh, như chúng sinh nào do tà pháp làm nhân duyên
tạo ra các hành động ác, để rồi khi chết đi phải đọa vào các đường ác; hoặc
chúng sinh nào do chánh pháp làm nhân duyên mà tạo ra các hành động thiện, sau
khi chết
được sinh về các nẻo thiện; v.v…

3) Lậu tận minh: chứng nhậptứ đế, thấy rõ
tướng như thật của vạn pháp, diệt trừ hết sạch mọi thứ phiền não, hoàn toàn
giác ngộ giải thoát.

[19] Sáu
thông (lục thông)
tức là sáu thần thông, là sáu năng lực mầu nhiệm, tự tại
vô ngại, siêu việt thế gian, không thể nghĩ bàn, do công phu tu tập thiền định
đạt được.

1) Thần túc thông: tùy ý muốn đi đâu thì tự
khắc đến đó; tùy ý muốn chuyển biến tướng trạng như thế nào thì tức khắc có
tướng trạng đó; riêng đức Phật còn có năng lực tùy ý biến cải đối cảnh, tự tại
vô ngại.

2) Thiên nhãn thông: thấy suốt các tướng khổ
vui, sinh tử của chúng sinh trong sáu đường; thấy tất cả mọi loài mọi vật trong
thế gian, bất luận xa gần, lớn nhỏ, có hình sắc hay không có hình sắc, không có
gì ngăn cách, chướng ngại.

3) Thiên nhĩ thông: nghe rõ tất cả âm thanh,
ngôn ngữ, những tiếng kêu than đau khổ, những lời mừng vui sung sướng của mọi
loài chúng sinh trong sáu đường.

4) Tha tâm thông: biết rõ tâm ý, những
tưởng
lành dữ của mọi loài chúng sinh trong sáu đường.

5) Túc mạng thông: thấy rõ đời sống cùng những
việc làm của chính mình và của mọi chúng sinh khác trong nhiều kiếp quá khứ.

6) Lậu tận thông: đoạn trừ tất cả phiền não
(kiến tư hoặc) trong ba cõi, vĩnh viễn thoát li sinh tử luân hồi.

Trong sáu thần thông trên, riêng pháp lậu tận thông
thì chỉ có bậc A-la-hán và Phật mới chứng được; năm pháp thần thông còn lại,
được gọi là “ngũ thông”, thì bất cứ ai, kể cả ngoại đạo, tu định đạt đến
Tứ-thiền đều chứng được, nhưng không thù thắng bằng các bậc A-la-hán và Phật.
Lại nữa, trong sáu thần thông trên, ba pháp thiên nhãn thông, túc mạng thông
lậu tận thông của Phật
được gọi là “ba minh” (tam minh),
như vừa trình bày trong chú thích số 18 kế trên.

[20] Đạo
phẩm
:
tức là 37 phẩm trợ đạo (tam thập thất trợ đạo phẩm), được coi là 37
pháp môn tu tập căn bản của đạo Phật, là 37 yếu tố làm trợ lực lớn cho hành giả
trên đường tu tập cho đến khi đạt được đạo quả Giác ngộ cao tột. 37 pháp môn ấy
được chia thành 7 nhóm:

1) 4 lãnh vực quán niệm (tứ niệm xứ):


quán niệm rằng thân thể là không trong sạch (quán thân bất tịnh);


quán niệm rằng mọi cảm thọ đều chỉ là đau khổ (quán thọ thị khổ);


quán niện rằng tâm ý là vô thường (quán tâm vô thường);


quán niệm rằng vạn phápvô ngã (quán pháp vô ngã).

2) 4 sự cần mẫn chân chánh (tứ chánh cần):


phải chấm dứt triệt để các hành động xấu (của cả thân, ngữ và ý) đã làm, không
tái phạm, không để cho chúng tăng trưởng thêm (đoạn dĩ sinh chi ác);


phải ngăn ngừa, chận đứng các hành động xấu có thể, nhưng chưa xảy ra (sử vị
sinh chi ác bất sinh);


phải thực hiện các việc tốt đáng thực hiện, nhưng chưa thực hiện (sử vị sinh
chi
thiện năng sinh);


phải tiếp tục đẩy mạnh và hoàn tất các việc tốt đang được thực hiện (sử dĩ sinh
chi thiện năng tăng trưởng).

3) 4 pháp như ý (tứ như y túc):


lòng mong muốn đạt được đạo quả Giác ngộ (dục như ý túc);


tâm chuyên chú vào đạo quả Giác ngộ (niệm, hay định như ý túc);


chí kiên trì tiến tới đạo quả Giác ngộ (tinh tấn như ý túc);


tham cứu, tư duy, quán chiếu về thực tại để đạt được đạo quả Giác ngộ (quán,
hay tư duy như ý túc).

4) 5 khả năng (ngũ căn):


lòng tin tưởng sâu đậm vào Ba Ngôi Báu (tín căn);


chí kiên trì tu họchành đạo (tinh tấn căn);


thường trực sống trong chánh niệm (niệm căn);


tâm ý tập trung, tĩnh lặng, không vọng động (định căn);


quán chiếu để thấy rõ thật tướng của vạn pháp (tuệ căn).

5) 5 sức mạnh (ngũ lực): Khi tu tập năm khả
năng như trên thì chính chúng sẽ trở thành năm sức mạnh để đánh tan mọi phiền
não
, chướng ngại:


lòng tin tưởng vào Tam Bảo trở nên lớn mạnh (tín lực) thì đánh tan mọi tin
tưởng
sai lầm;


chí kiên trì tu họchành đạo trở nên lớn mạnh (tinh tấn lực) thì đánh tan
tính lười biếng, buông lung, hôn trầm nơi bản thân;


nếp sống chánh niệm trở nên lớn mạnh (niệm lực) thì không còn những tư tưởng
sai quấy, không nghĩ đến những điều vô ích;


sự tập trung tâm ý trở nên lớn mạnh (định lực) thì mọi loạn tưởng, vọng động sẽ
tan biến hết;


trí tuệ quán chiếu trở nên lớn mạnh (tuệ lực) thì mọi phiền não, kiến chấp,
kiến
, vô minh đều bị bật hết gốc rễ, thật tướng của vạn pháp hiển lộ.

6) 7 yếu tố giác ngộ (thất giác chi):


an trú trong chánh niệm (niệm giác chi);


chọn lựa pháp môn (trạch pháp giác chi), cũng tức là tư duy, quán sát, phân
biệt
để thấy rõ thiện và bất thiện (phân biệt giác chi);


kiên trì tu tập (tinh tấn giác chi);


vui vẻ, ôn hòa (hỉ giác chi);


tâm thư thái nhẹ nhàng (khinh an giác chi);


tâm ý tĩnh lặng, không vọng động (định giác chi);


buông bỏ mọi kiến chấp về nhân ngã, bỉ thử để tâm được trong sáng (xả giác
chi
).

7) 8 nguyên tắc hành động chân chính (bát chánh đạo):


thấy biết chân chánh (chánh tri kiến);


suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy);


nói năng chân chánh (chánh ngữ);


hành động chân chánh (chánh nghiệp);


mưu sinh chân chánh (chánh mạng);


siêng năng chân chánh (chánh tinh tấn);


nhớ nghĩ chân chánh (chánh niệm);


thiền định chân chánh (chánh định).

[21] Mười
lực
(thập lực): cũng gọi là mười trí lực (thập trí lực) hay mười
thần lực
(thập thần lực), là mười sức trí tuệ chỉ có Phật mới có đầy đủ. Đó
trí tuệ chân thật, thấy rõ, thấu suốt tất cả, không ai có thể hơn được,
không gì có thể phá hủy được. Mười sức trí tuệ đó là:

1) Sức trí tuệ biết rõ mọi điều đúng đạo lí hay không đúng
đạo lí của chúng sinh.

2) Sức trí tuệ biết rõ nghiệp báo suốt ba đời của chúng
sinh
.

3) Sức trí tuệ biết rõ tiến trình giải thoát bằng thiền định
của chúng sinh.

4) Sức trí tuệ biết rõ các căn tánh cao thấp của chúng sinh.

5) Sức trí tuệ biết rõ mọi hiểu biết của chúng sinh.

6) Sức trí tuệ biết rõ mọi lãnh vực khác nhau ở thế gian.

7) Sức trí tuệ biết rõ mọi đường đi chỗ đến của sáu nẻo luân
hồi
cảnh giới niết bàn.

8) Sức trí tuệ biết rõ mọi việc đời vị lai của chúng sinh,
như dùng thiên nhãn, không bị chướng ngại (tức là thiên nhãn minh).

9) Sức trí tuệ biết rõ các kiếp trước xa xôi của chúng sinh
(tức là túc mạng minh).

10) Sức trí tuệ biết rõ tất cả các tập khí đều đã dứt tuyệt
(tức lậu tận minh).

[22] Vô úy
là không sợ sệt, tức là đức tính tự tin, dũng mãnh, không có gì làm cho mình sợ
sệt; nhờ đức tính này mà công việc giáo hóa độ sinh được dễ dàng, không
bị trở ngại. Phật và Bồ-tát đều có bốn đức tính (tứ vô úy, hay tứ vô
sở úy
) này, nhưng không giống nhau:

a. Bốn đức vô úy của Phật:

1)
Phật biết rõ tất cả các pháp, luôn luôn trụ nơi chánh kiến, rất tự tin, không
có gì làm cho sợ sệt.

2)
Phật đã dứt tuyệt mọi phiền não, không một thứ chướng nạn nào làm cho sợ sệt.

3)
Phật chỉ rõ các phương pháp tu tập để vượt chướng ngại, không một lời cật vấn
nào làm cho sợ sệt.

4)
Phật chỉ bày cặn kẽ con đường dứt tuyệt khổ đau mà không có gì làm cho sợ sệt.

b. Bốn đức vô úy của Bồ-tát:

1)
Bồ-tát thọ trì giáo pháp không xao lãng, cho nên rất tự tin khi thuyết pháp
trước đại chúng, không có gì làm cho sợ sệt.

2)
Bồ-tát biết rõ căn tánh của chúng sinh, cho nên khéo léo hướng dẫn chúng sinh
tu tập, lòng rất tự tin, không có gì làm cho sợ sệt.

3)
Bồ-tát khéo léo giải đáp tất cả mọi câu hỏi đúng như chánh pháp, không có gì
làm cho sợ sệt.

4)
Bồ-tát khéo léo giải tỏa tất cả mọi nghi nan đúng như chánh pháp, không có gì
làm cho sợ sệt.

[23] Chữ
“VẠN” (
): Thật ra đây không phải là một chữ, mà là hình dạng của một
tướng tốt của đức Phật và chư vị Bồ-tát ở bậc Thập-địa và Đẳng-giác; biểu hiện
cho đức cát tường. Người Trung-quốc còn viết nó thành chữ “萬” (vạn) để biểu ý rằng Phật có đủ vạn công đức thù thắng.
Nguyên vào thời tối cổ của Ấn-độ, hình “卍” được coi là một phù hiệu, chính là sợi lông xoắn ở trên
ngực trời Phạm Thiên, tiêu biểu cho sự cát tường, thanh tịnhviên mãn. Trong
thời Phật tại thế, phù hiệu ấy được cả Phật giáo, Bà-la-môn giáo và Kì-na giáo
đều sử dụng. Riêng trong Phật giáo, nó được coi là một tướng tốt hiện trước
ngực của Phật và chư vị Pháp-thân Bồ-tát; về sau nó dần dần trở thành một phù
hiệu đặc biệt đại biểu cho Phật giáo. Ngoài Ấn-độ ra, các dân tộc thuộc giống
người Aryan thời cổ như Ba-tư, Hi-lạp, Phổ (Đức) v.v… cũng dùng hình trên làm
phù hiệu, tượng trưng cho ánh sáng mặt trời, ánh sáng điện, ánh sáng lửa v.v…

[24] Tám
thứ Phạm âm
(bát Phạm, hay bát chủng Phạm âm thanh) cũng gọi là tám thứ
âm thanh tịnh
(bát chủng thanh tịnh âm), tức là âm thanh đức Phật phát ra,
ngôn từ thanh nhã, có đủ tám thứ công đức thù thắng, khiến cho những ai được
nghe liền hiểu rõ ràng; đó là:

1) Âm thanh hay cùng cực, nghĩa là, chư vị Bồ-tát,
Thanh-văn, Duyên-giác, trời và người, tuy cũng có âm thanh hay nhưng chưa đạt
đến
chỗ cùng cực, chỉ có âm thanh của Phật là hay hơn hết, đạt đến chỗ cùng
cực, khiến cho người nghe không biết nhàm chán, được thâm nhập vào đạo nhiệm
mầu.

2) Âm thanh mềm mỏng, nghĩa là, đức Phật lấy từ bi làm tâm,
âm thanh phát ra khéo léo thuận tình, khiến cho người nghe vui mừng, xả bỏ tính
ương ngạnh.

3) Âm thanh hòa nhã, nghĩa là, đức Phật thường giữ mức trung
đạo
, dịu dàng thung dung, âm thanh phát ra hòa nhã, thích hợp, khiến cho người
nghe đều được vừa ý, nhân âm thanh đó mà thể hội nghĩa lí.

4) Âm thanh tôn quí rõ suốt, nghĩa là, công đức của Phật ở
địa vị tôn quí tối cao, tuệ tâm rỗng suốt, âm thanh phát ra làm cho người nghe
tôn trọng, trí tuệ sáng tỏ.

5) Âm thanh không nhàm chán, nghĩa là, đức Phật thường an
trú
trong định “Thủ-lăng-nghiêm” (dũng mãnh kiên cố), có đức đại hùng, âm thanh
phát ra khiến cho người nghe đều kính sợ, thiên ma ngoại đạo đều qui phục.

6) Âm thanh không lầm lẫn, nghĩa là, trí tuệ của Phật sáng
suốt
toàn vẹn, chiếu soi vô ngại, âm thanh phát ra rõ ràng chân thật, không
chút sai lầm lẫn lộn, khiến cho người nghe đều đạt được chánh kiến.

7) Âm thanh thâm diệu, nghĩa là, trí tuệ của Phật sâu thẳm,
địa vị tu hành cực cao, âm thanh phát ra từ gần đến xa, suốt đến mười phương,
khiến cho tiếng gần mà nghe không lớn, tiếng xa mà nghe không nhỏ, ai nghe được
đều tỏ ngộ nghĩa lí sâu xa.

8) Âm thanh không khô cạn, nghĩa là, Phật trụ nơi pháp tạng
vô tận, hạnh nguyện của Phật vô tận, âm thanh phát ra khiến cho người nghe đều
tìm hiểu ý nghĩa của lời nói không thể cùng tận.

[25] Đà-la-ni
là tiếng dịch âm của tiếng Phạn “dharani”, dịch nghĩa ra Hán ngữ là “tổng
trì”
, là tuệ lực ghi nhớ và gìn giữ vô lượng Phật pháp, không để cho quên
mất. Đà-la-ni có công năng gìn giữ tất cả pháp thiện, cho nên cũng được dịch
nghĩa là “năng trì”; lại có công năng ngăn ngừa tất cả pháp ác, cho nên cũng
được dịch nghĩa là “năng già”. Bồ-tát lấy hạnh lợi tha làm chủ, cho nên, để
giáo hóa chúng sinh một cách hữu hiệu, Bồ-tát cần phải đạt được đà-la-ni. Khi
đã có được đà-la-ni, Bồ-tát sẽ ghi nhớ vô lượng Phật pháp, ở trước đại chúng sẽ
thuyết giảng một cách tự do tự tại, không có gì làm cho lo lắng, sợ sệt.

Luận Đại Trí Độ nói rằng: đà-la-ni là một thuật kí
ức, nghĩa là ở trong một pháp mà giữ gìn tất cả pháp, ở trong một văn mà giữ
gìn
tất cả văn, ở trong một nghĩa mà giữ gìn tất cả nghĩa; do ghi nhớ một pháp,
một văn, một nghĩa mà có thể liên tưởng đến tất cả pháp, giữ gìn vô lượng Phật
pháp
không để tản mất. Do vậy, về hình thức, đà-la-ni thường là ngắn, giống như
thần chú, cho nên người sau đã lẫn lộn giữa đà-la-ni với thần chú, và gọi thần
chú
là đà-la-ni. Tuy nhiên, người ta thường y cứ vào câu dài ngắn để phân biệt:
câu dài là “đà-la-ni”; câu ngắn là “chân ngôn” (tức thần chú); chỉ một hai chữ
thì gọi là “chủng tử” (tức chữ Phạn mà các hành giả Mật tông dùng để quán
tưởng
).

Về chủng loại, theo luận Đại Trí Độ, đà-la-ni có bốn
loại:

1) Văn trì đà-la-ni: người có được đà-la-ni,
nghe sự việc gì đều ghi nhớ hết.

2) Phân biệt tri đà-la-ni: người có được
đà-la-ni sẽ có khả năng phân biệt rõ ràng tất cả những việc chánh tà, tốt xấu
v.v…

3) Nhập âm thanh đà-la-ni: người có được
đà-la-ni, nghe tất cả âm thanh ngôn ngữ đều hoan hỉ, không bao giờ sinh tâm
buồn giận.

4) Tự nhập môn đà-la-ni: người có được
đà-la-ni, khi nghe các mẫu tự (Phạn ngữ) như a, la, ba, già, na v.v…,
liền thể nhập thật tướng các pháp.

Luận Du Già Sư Địa thì ghi bốn loại đà-la-ni như sau:

1) Pháp đà-la-ni: sức ghi nhớ câu kinh, không
quên mất.

2) Nghĩa đà-la-ni: sức lí giải nghĩa kinh,
không quên mất.

3) Chú đà-la-ni: nương nơi định lựcphát
khởi
chú thuật, có thể tiêu trừ khổ ách cho chúng sinh.

4) Nhẫn đà-la-ni: thông đạt thật tướng các
pháp, xa lìa ngôn thuyết, an trú nơi pháp tánh.

[26] Duyên,
đế, độ:
tức các giáo pháp thập nhị nhân duyên, tứ đế, và lục độ. (Xin
xem các chú thích số 39, 42 và 40 ở sau.)

[27] Sinh,
trụ, dị, diệt
là bốn tướng trạng (tứ tướng) của các pháp hữu vi: sinh ra,
hiện hữu một thời gian, biến đổi hư hao, và hủy diệt.

[28] Noãn,
Đảnh, Thế-đệ-nhất:
là các căn lành (thiện căn) mà người tu hành cần phải
gia công tu tập để chuẩn bị tiến lên bậc Kiến-đạo (tức Sơ-địa Bồ-tát), tức là
vượt khỏi hẳn địa vị phàm phu để bước vào dòng thánh. Trong thời gian tu tập
các căn lành này, hành giả được ở vào một địa vị tu tập gọi là địa vị Gia-hạnh
(Gia-hạnh vị); địa vị này, từ thấp lên cao, gồm có bốn bậc:

1) Bậc Noãn (Noãn vị): Ở bậc này, tuy ngọn lửa
trí tuệ vô lậu chưa đủ sức phát sinh, nhưng hơi ấm của ánh sáng
trí
tuệ cũng đủ sức giúp hành giả tiêu trừ phiền não, sinh thiện căn hữu lậu,
tiếp cận với trí tuệ vô lậu.

2) Bậc Đảnh (Đảnh vị): Ở bậc này, thiện căn
của hành giả chưa thực sự vững vàng, còn giao động; nhưng từ chỗ giao động đó
mà phát sinh được thiện căn tối thượng, quán sát và thấy rõ bốn sự thật, như
đứng trên đỉnh núi mà nhìn thấy bốn phương.

3) Bậc Nhẫn (Nhẫn vị): Ở bậc này hành giả xác
nhận
rõ ràng bốn sự thật đúng là chân lí (đích thực là khổ, đích thực là nguyên
nhân
của khổ v.v…); thiện căn đã được an định, không còn bị
thối lui vào các đường dữ.

4) Bậc Thế-đệ-nhất (Thế-đệ-nhất vị): Đây là
địa vị cao tột (đệ nhất) trong thế gian, là đỉnh cao nhất của trí
tuệ
hữu lậu. Nhờ thiền định không gián đoạn mà phát sinh trí như thật, quán sát
thấy rõ cả năng thủsở thủ đều không; chỉ trong sát na kế tiếp là nhập vào
địa vị Kiến-đạo, thực sự bước vào dòng thánh.

Bốn loại thiện căn trên đây tuy vẫn còn thuộc trong phạm vi
thế gian hữu lậu, nhưng lại có công năng phát sinh loại thiện vô lậu của bậc
Kiến-đạo, cho nên chúng được gọi là “thiện căn”, tức là gốc
rễ
của thiện pháp.

[29] Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán:
là bốn quả vị tu chứng của hành giả thừa
Thanh-văn.

1) Sơ-quả Tu-đà-hoàn: dịch nghĩa
ra Hán ngữ là Dự-lưu (dự vào dòng thánh), Nhập-lưu (vào dòng thánh), hay
Nghịch-lưu (ngược dòng sinh tử). Nếu tu theo hạnh Thanh-văn, thì đây là bước
đầu
tiên hành giả ở vào dòng thánh. Khi còn ở địa vị phàm phu, hành giả phải tu
tập
để đoạn trừ 88 sử kiến hoặc của ba cõi (xem chú thích số 56 ở sau), mới
chứng được quả này.

2) Nhị-quả Tư-đà-hàm: dịch ra
Hán ngữ là Nhất-lai. Hành giả (ở cõi Người) sau khi đã chứng quả Tu-đà-hoàn
(tức đã đoạn dứt kiến hoặc ba cõi), đến lúc mạng chung sẽ sinh lên một cõi trời
Dục giới
, rồi từ đó lại phải sinh trở lại cõi Người một lần nữa để tiếp tục tu
tập
đoạn trừ 6 phẩm đầu của tư hoặc cõi Dục. Tư hoặc cõi Dục gồm 4
thứ phiền não tham, sân, si, mạn (xem chú thích số 56 ở sau), vì có sâu có cạn,
có phần vi tế khó đoạn trừ, có phần thô sơ dễ đoạn trừ, cho nên được chia làm 9
phẩm, từ nhẹ nhàng cho đến nặng nề nhất: thượng thượng (nhẹ nhàng nhất), thượng
trung, thượng hạ, trung thượng, trung trung, trung hạ, hạ thượng, hạ trung, hạ
hạ
(nặng nề nhất). 6 phẩm tư hoặc đầu, từ thượng thượng cho đến trung hạ, là
phần dễ đoạn trừ hơn 3 phẩm cuối.

3) Tam-quả A-na-hàm: dịch ra Hán nghữ là
Bất-hoàn. Hành giả (ở cõi Người) đã đoạn trừ 6 phẩm đầu của tư hoặc cõi Dục,
chứng quả Tư-đà-hàm, sau khi mạng chung liền sinh lên một cõi trời Dục giới,
tiếp tục tu tập để đoạn trừ nốt 3 phẩm tư hoặc cuối cùng (hạ thượng, hạ trung,
hạ hạ) của cõi Dục thì chứng quả A-na-hàm; sau đó lại sinh lên cõi trời Tịnh-cư
Sắc giới (không trở lại Dục giới nữa) để tiếp tục tu tập cho đến khi chứng
quả
A-la-hán.

4) Tứ-quả A-la-hán: Đây là quả vị cao tột của
thừa Thanh-văn. Sau khi chứng quả A-na-hàm, hành giả tiếp tục tu tập để đoạn
dứt tư hoặc trong ba cõi, mới chứng được quả vị này. Như vậy, A-la-hán là vị
thánh đã dứt hết mọi thứ phiền não thuộc kiến tư hoặc trong ba cõi, nên danh
xưng “A-la-hán” có nghĩa là “sát tặc” (tức đã diệt trừ hết giặc phiền
não
). Vì đã diệt trừ hết kiến tư hoặc trong ba cõi, nên vị thánh ấy giải thoát
ra khỏi thế gian, không còn tái sinh vào ba cõi nữa, do đó, danh xưng
“A-la-hán” cũng có nghĩa là “vô sinh”. Vị thánh ấy đã giải thoát khỏi ba
cõi
, vĩnh viễn sống trong cảnh giới niết bàn, không còn phải tu tập gì nữa, cho
nên được xưng là bậc “vô học”; và xứng đáng được thọ nhận sự cúng dường của cả
trời, người làm ruộng phước cho thế gian, cho nên danh xưng “A-la-hán” cũng còn
có nghĩa là “ứng cúng”.

[30] Bích-chi
Phật
:
quả vị chứng đắc của hành giả thừa Duyên-giác. Quí vị hành giả
trực tiếp được nghe Phật dạy nguyên lí “Mười hai nhân duyên”, hoặc sau
khi Phật diệt độ mà có phước duyên được học tập giáo lí ấy, rồi theo đó mà quán
chiếu
tu tập, đạt được trí tuệ giác ngộ, gọi là hàng “Duyên-giác”,
quả vị chứng đắc của quí vị ấy được gọi là “Bích-chi Phật”. Mặt khác,
quí vị hành giả sinh vào thời không có Phật, cũng không có Phật pháp, nhưng nhờ
công phu tu học sâu dầy từ đời trước, mà ở đời này, đứng trước cảnh biến
chuyển
sinh diệt của vạn pháp mà tự phát trí tuệ, thấy rõ tính chất vô thường
của thế gian, tính chất vô ngã của mọi vật, tính chất duyên sinh của vạn pháp,
nhân đó mà diệt trừ được tâm thức vô minh; hoặc giả họ ẩn cư trong chốn núi
rừng
, trông thấy cảnh hoa rơi lá rụng, rồi do một niệm sáng suốt làm cho tâm ý
khai mở, màn vô minh bỗng chốc tiêu tan, tuệ giác hiển lộ; đó là những vị
“Độc-giác”, và quả vị chứng ngộ của quí vị ấy cũng được gọi là “Phật
Bích-chi”
.

[31] Sơ-địa,
Nhị-địa, Tam-địa cho đến Thập-địa:
tức là các bậc trong mười bậc Địa
của Bồ-tát.:

1) Sơ-địa, tức Hoan-hỉ-địa: Bồ-tát đã diệt trừ
hết kiến hoặc ba cõi, thấy rõ tâm tánh, vượt khỏi địa vị phàm phu, bước vào
dòng thánh, chứng ngộ chân lí “hai không” (ngã và pháp đều không), thành
tựu
bố thí độ, phát sinh niềm hoan hỉ lớn.

2) Nhị-địa, tức Li-cấu-địa: Bồ-tát đã dứt trừ
tư hoặc, không còn phạm giới, thành tựu trì giới độ, thân tâm thanh
tịnh
.

3) Tam-địa, tức Phát-quang-địa: Bồ-tát diệt
trừ
vô minh si ám, chứng được ba minh, thành tựu nhẫn nhục độ,
tâm sáng chiếu phát sinh.

4) Tứ-địa, tức Diễm-tuệ-địa: Bồ-tát tu tập
trọn vẹn 37 phẩm trợ đạo, thành tựu tinh tấn độ, trí tuệ sáng rỡ.

5) Ngũ-địa, tức Cực-nan-thắng-địa: Bồ-tát
lợi ích
chúng sinh, ngoài thì học tập các thứ kĩ thuật, trong thì định lực vững
chắc
, thành tựu thiền định độ; đạt được địa vị này thật là khó khăn.

6) Lục-địa, tức Hiện-tiền-địa: Bồ-tát tu tập
an trú trong ba pháp tam muội không, vô tướngvô nguyện, bao nhiêu
ý niệm phân biệt về vạn hữu đều diệt hết, thật tướng của vạn pháp hiển lộ
trước mắt, thành tựu trí tuệ độ (trí tuệ thấy rõ thật tướng các pháp,
thấu suốt diệu lí bình đẳng của vạn pháp).

7) Thất-địa, tức Viễn-hành-địa: Bồ-tát dứt trừ
các nghiệp quả, thị hiện các hành tướng một cách tinh tế, phát khởi hạnh nguyện
thù thắng để hóa độ chúng sinh, thành tựu phương tiện độ, chuẩn bị hành
trang lương thực cho cuộc đi xa trên đường hóa độ chúng sinh.

8) Bát-địa, tức Bất-động-địa: Bồ-tát dứt hết
mọi sự dụng công, thành tựu nguyện độ, trú trong “vô sinh nhẫn”, thân
tâm
tĩnh lặng, không còn xao động.

9) Cửu-địa, tức Thiện-tuệ-địa: Bồ-tát dứt bỏ
cả tướng của tâm, chứng nhập trí tuệ tự tại, đầy đủ thần thông rộng lớn, khéo
léo hộ vệ pháp tạng của chư Phật, thành tựu lực độ, khéo léo vận dụng
trí tuệ để soi sáng mọi việc.

10) Thập-địa, tức Pháp-vân-địa: Bồ-tát tập hợp
rộng lớn vô lượng pháp môn, tăng trưởng vô biên phước đứctrí tuệ, thấu suốt
mọi tâm hành của tất cả chúng sinh, tùy căn cơ mà nói pháp ba thừa, thành tựu trí
độ
(trí tuệ biết rõ các pháp, giữ vững trung đạo, không chán sinh tử, không
ham niết bàn, tâm xả rộng lớn), giống như đám mây lớn, đổ xuống những trận mưa
pháp lớn.

[32] Ba
pháp (tam pháp):
tức ba phương diện của Phật pháp là:

1) Giáo pháp: tất cả những lời dạy của đức
Phật
;

2) Hành pháp: người học Phật y theo giáo pháp
tu hành;

3) Chứng pháp: người tu hành chứng ngộ chân
. – Nói tắt là “giáo hành chứng”.

Mặt khác, tâm, Phật và chúng sinh cũng được
gọi là “ba pháp không sai khác” (tam pháp vô sai).

[33] Bốn
quả (tứ quả):
tức bốn quả vị của Thanh-văn thừa: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, và A-la-hán. (Xin xem chú thích số 29 ở trên.)

[34] Hai
đường (nhị đạo):
Có nhiều thuyết về “hai đường” khác nhau:

1) Hai đường đoạn hoặcchứng ngộ chân lí,
phát xuất từ luận Câu Xá, gồm có:

a)
Đường không gián cách (vô gián đạo hay vô ngại đạo): vận dụng trí tuệ để
đoạn trừ lậu hoặc (phiền não); trí tuệ này được vận dụng thường trực, không để
cho lậu hoặc xen vào gián cách, trở ngại.

b)
Đường giải thoát (giải thoát đạo): vận dụng trí tuệ quán chiếu và chứng
ngộ
chân lí; trí tuệ này thoát khỏi sự ràng buộc của lậu hoặc, chứng nhập chân
một cách tự tại. Vô gián đạo được coi là nhân đạoniệm trước; giải thoát
đạo
là quả đạo ở niệm sau.

2) Hai đường khó tu và dễ tu, nguyên là cách
phán giáo của tông Tịnh Độ, phát xuất từ Bồ-tát Long Thọ:

a)
Đường khó tu (nan hành đạo): chỉ cho các giáo pháp không thuộc trong
phạm vi tông Tịnh Độ; ví dụ: ở thế giới Ta-bà này mà tu tập “lục độ vạn hạnh”
để chứng được quả thánh, là con đường khó tu.

b)
Đường dễ tu (dị hành đạo): chỉ cho giáo pháp thuộc tông Tịnh Độ; tức là
niệm Phật cầu vãng sinh về cõi Tịnh-độ, rồi ở nơi cõi đó tiếp tục tu tập cho
đến
khi thành Phật, đó là con đường dễ tu.

3) Hai đường hữu lậuvô lậu, cũng phát xuất
từ luận Câu Xá:

a)
Đường hữu lậu (hữu lậu đạo): chỉ cho tất cả các pháp môn tu tập của hành
giả
khắp ba thừa trước khi bước vào dòng thánh (tức còn trong vòng phàm phu,
chưa lên được địa vị Kiến-đạo).

b)
Đường vô lậu (vô lậu đạo): chỉ cho các pháp môn tu tập của hành giả khắp
ba thừa sau khi đã thoát khỏi địa vị phàm phu, bước lên địa vị Kiến-đạo, nhập
vào dòng thánh.

4) Hai đường giáo và chứng, xuất phát từ luận Thập
Địa Kinh
:

a)
Đường giáo (giáo đạo): chỉ cho các giáo thuyết do đức Phật phương tiện
chỉ bày.

b)
Đường chứng (chứng đạo): chỉ cho lí chân thật mà chư Phật đã chứng ngộ.

[35] Vườn
Nai
(Lộc-uyển, hay Lộc-dã, nay là Sarnath): là một khu rừng nằm cách khoảng
6 cây số về hướng Tây-Bắc của thành Ba-la-nại (nay là Varanasi, Ấn-độ), kinh đô
của vương quốc Ca-thi (xem chú thích số 36 kế tiếp ở sau). Theo sự tích,
vào thời quá khứ xa xăm, có vị quốc vương từ kinh thành Ba-la-nại đến khu rừng
này săn bắn, đã giăng lưới bắt được cả ngàn con nai, trong đó có một con nai mẹ
đang mang thai. Vì quá thương tâm, con nai chúa bèn xin nhà vua tha cho con nai
đang có thai, rồi tự hủy mình trước nhà vua để chết thế. Quá cảm động trước sự
việc bất ngờ, nhà vua tâm thần rúng động, liền truyền lệnh thả hết bầy nai, và
dành hết khu rừng ấy cho nai ở, cấm tất cả thần dân không ai được tới đó săn
bắn. Từ đó, bầy nai được sống an bình, và khu rừng đó được mọi người gọi là
“Lộc-uyển” (hay Lộc-dã-uyển, Lộc-viên, nghĩa là vườn Nai). Ngày nay, nó là một
trong các thánh tích quan trọng của Phật giáo.

[36] Thành
Ba-la-nại:
là kinh đô của vương quốc Ca-thi (Kasi), một trong 16 nước lớn
của bán đảo Ấn-độ thời Phật tại thế. Trong 16 nước đó thì Ma-kiệt-đà và
Kiều-tát-la là hai nước phát triển hùng mạnh và giàu có nhất. Hai đạo tràng
quan trọng nhất của Phật thời đó là tu viện Trúc-lâm ở kinh thành Vương-xá của
nước Ma-kiệt-đà, và tu viện Kì-viên ở kinh thành Xá-vệ của nước Kiều-tát-la.
Ma-kiệt-đà nằm ở phía Nam sông Hằng, Kiều-tát-la nằm ở phía Bắc sông Hằng; nước
Ca-thi thì nằm giữa hai nước này, cho nên kinh thành Ba-la-nại của nó nghiễm
nhiên
trở thành một điểm nối liền, một địa phương quan trọng trên đường đi lại
của đức Phậtgiáo đoàn từ Ma-kiệt-đà đến Kiều-tát-la, và ngược lại. Trước
khi hai đạo tràng Trúc-lâm và Kì-viên được xây dựng thì thành Ba-la-nại đã nổi
tiếng
, vì vườn Nai ở cách đó khoảng 6 cây số về hướng Tây-Bắc, đã là nơi đức
Phật
chuyển Bánh Xe Pháp lần đầu tiên sau ngày Thành Đạo, độ cho nhóm sa môn 5
người của ngài Kiều Trần Như, đều được chứng quả A-la-hán, trở thành những vị
thánh tăng đầu tiên của giáo đoàn Phật giáo. Chính nơi vườn Nai của thành
Ba-la-nại, ngôi Tam Bảo lần đầu tiên xuất hiệnthế gian. Ba-la-nại và vườn
Nai
đã từng là thánh địa của Phật giáo trong một thời gian dài. Đến cuối thế kỉ
12, khi quân Hồi giáo xâm lăng Ấn-độ, Phật giáo ở vùng này nói riêng, và trên
khắp lãnh thổ Ấn-độ nói chung, đã bị đám quân tàn bạo ấy tàn hại và hủy diệt,
cơ hồ không một vết tích gì còn tồn tại. Trong thời kì cận đại, thành phố này
được gọi là Benares, và hiện nay thì đổi tên lại là Varanasi như cũ, Phật giáo
và Ấn giáo hiện tại cùng được thịnh hành ở đó.

[37] A Nhã
Câu Lân
tức tôn giả A Nhã Kiều Trần Như. Đó là vị đệ tử lớn, nổi tiếng
người đệ tử xuất gia làm tì kheo và chứng quả A-la-hán đầu tiên của đức Phật.
Từ lúc còn là đạo sĩ Bà-la-môn, cho đến lúc theo Phật xuất gia, ngài luôn luôn
có bốn người bạn nữa cùng tu hành, làm thành một nhóm 5 người, mà trong các
kinh thường gọi là “ngũ tì kheo”, gồm có: Kiều Trần Như (hoặc Câu Lân), A thị
Thuyết (hoặc Át Bệ), Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp, và Ma Ha Nam Câu Lị.

[38] Chuyển
bánh xe pháp
(chuyển pháp luân):
Bánh xe pháp (pháp luân) tức là Phật pháp.
Cái bánh xe được dùng để thí dụ cho Phật pháp vì nó mang nhiều ý nghĩa: 1)
Người Ấn-độ vào thời cổ đại đã dùng chữ “bánh xe” (cakra) để chỉ cho loại chiến
xa dùng trên chiến trường. Nó có thể càn quét, đẩy lui quân địch; Phật pháp
cũng vậy, có thể giúp chúng sinh diệt trừ tất cả vô minh phiền não để đạt được
an lạc giải thoát. 2) Bánh xe là một vòng tròn đầy đặn, không có chỗ nào
khuyết; Phật pháp cũng vậy, giáo pháp do đức Phật chỉ dạy thật tròn đầy, trọn vẹn,
chân thật, không có bất cứ một khuyết điểm hay sai lầm nào. 3) Trách vụ của
bánh xe là di chuyển không ngừng; Phật pháp cũng vậy, những lời Phật dạy không
bao giờ nằm bất động ở một người nào hay đứng yên ở một mơi chốn nào, nhờ thế
mà giúp ích cho tất cả chúng sinh ở mọi thời và mọi chỗ. Đức Phật hoằng dương
giáo pháp của Ngài để chuyển mê khai ngộ cho chúng sinh, gọi là “chuyển pháp
luân”. Sau khi thành đạo, Ngài đã đến vườn Nai ở gần thành Ba-la-nại trước
tiên
, khai mở giáo pháp “TỨ ĐẾ” để độ cho nhóm sa môn Kiều Trần Như 5 người; đó
lần chuyển pháp luân đầu tiên của Ngài ở thế gian.

[39] Mười
hai nhân duyên
(thập nhị nhân duyên):
là mười hai điều kiện tương liên, là
giáo lí căn bản của đạo Phật dùng để giải thích cái “bí ẩn” của hiện tượng sinh
tử luân hồi
, tức là sự hiện hữu của chúng sinh – mà trực tiếp là con
người
. Mười hai điều kiện ấy gồm có:

1) Vô minh:trạng thái mê lầm, không sáng
suốt
, không nhận chân được thực tướng của vạn pháp, không thấy rõ tự tính của
chính mình, do đó mà dẫn tới các hành động sai lầm, u tối.

2) Hành:tác động vô thức của ý chí sinh
tồn
theo hướng vô minh đã thúc đẩy tạo nghiệp. Nó là khát vọng muốn sống một
cách mù quáng. Tất cả những tư tưởng (ý), lời nói (ngữ)
hành động (thân)
thiện hay bất thiện đều thuộc về hành.

3) Thức: Tất cả nghiệp nhân đã tạo ra đều được
huân tập vào nghiệp chủng thức (hay nghiệp thức, tức a-lại-da
thức
). Thức này đi đầu thai và bắt đầu một sinh mạng mới. Lúc bà mẹ thụ
thai, chính đó là lúc nghiệp thức kết hợp với tinh trùng và noãn châu
của cha mẹ mà làm nên bào thai. Như vậy, THỨC chính là yếu tố nối tiếp giữa
kiếp quá khứ và kiếp hiện tại, và là giai đoạn đầu tiên của đời
sống
hiện tại.

4) Danh sắc: Do nghiệp thức phát động mà phát
hiện ra các hiện tượng tinh thần (danh)vật chất (sắc)
của bản thân con người. Đây là giai đoạn thứ hai của đời sống
hiện tại. Trong giây phút đầu tiên khi bà mẹ thụ thai — tức là lúc nghiệp thức
kết hợp với tinh trùng và noãn châu của cha mẹ, thì DANH chính là nghiệp
thức
, và SẮC chính là tinh trùng và noãn châu.

5) Lục nhập: Sáu giác quan (lục căn:
nhãn, nhĩ, tị. thiệt, thân, ý) dần dần hiện rõ theo sự phát triển của bào thai,
từ chỗ thật giản dị lúc mới được tượng hình, trở thành vô cùng phức tạp khi con
người
đã trưởng thành toàn diện. Chúng hoạt động một cách hoàn toàn tự nhiên,
mầu nhiệm, như một guồng máy tinh diệu. Những giác quan đều có những hoạt động
và đối tượng riêng biệt. Sáu giác quansáu chỗ để cho sáu đối tượng (lục
cảnh
:
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) phản ảnh vào, gọi chung là “lục
nhập”.

6) Xúc: là sự tiếp xúc giữa các giác quan (căn) và
đối tượng (cảnh) của chúng, như mắt tiếp xúc với cảnh vật, tai tiếp xúc với âm
thanh
, v.v…

7) Thọ:cảm giác gây nên do sự tiếp xúc giữa các
căn và cảnh. Có loại cảm giác dễ chịu, vui sướng, hạnh phúc, gọi là “lạc thọ”;
có loại cảm giác khó chịu, buồn phiền, khổ đau, gọi là “khổ thọ”; có loại cảm
giác
trung tính, không dễ chịu cũng không khó chịu, gọi là “xả thọ”.

8) Ái: hay “ái dục”, là sự ham muốn, luyến áí, khao
khát. Do có cảm giác mà sinh ra ái. Đối trước dục vọng trần cảnh (ngũ dục), con
người
sinh tâm luyến ái. Ái chính là sự luyến ái đối với sự sống, cho nên cái
gì thích thì khao khát muốn có, cái gì không thích thì muốn tống khứ đi; đó là
động cơ chính yếu thúc đẩy thân, ngữ ý tạo nghiệp.

9) Thủ: Khi đã luyến ái thì cố bám giữ lấy đối tượng.
luyến ái sự sống cho nên cố bám giữ sự sống; từ đó mà phát sinh những
tưởng
sai lầm“có TÔI và có những cái THUỘC VỀ TÔI”. Mục đích của mọi
ý nghĩ, ngôn ngữ, hành động, dù thiện hay bất thiện, đều nhằm bảo vệcủng cố
cho cái TÔI và những cái CỦA TÔI đó.

10) Hữu:đam mê và cố bám giữ lấy đối tượng cho
nên phải vướng mắc vào nghiệp báo do sự sống của mình tạo ra. “Hữu”
nghĩa là , tức là có những nghiệp nhân (thiện hay bất
thiện
) đã tạo ra ở kiếp này, và dĩ nhiên, có những nghiệp quả (vui sướng
hay khổ đau, cũng tức là những cảnh giới của các loài chúng sinh khác nhau) sẽ
thọ nhận ở kiếp sau.

11) Sinh: Nghiệp nhân đã tạo (hữu) ấy
lại được huân tập vào nghiệp chủng thức (a-lại-da thức), và chính đó là
dẫn lực đưa tới việc ra đời của sinh mạng mới ở kiếp sau.

12) Lão tử: Đã có sinh ra thì phải có già và chết.

[40] Sáu
pháp qua bờ (lục độ)
là sáu hạnh tu tập lớn lao của hàng Bồ-tát. Nhờ tu tập
sáu đại hạnh này mà Bồ-tát có thể tự mình đến bờ giải thoát (tự độ) và đưa bao
nhiêu người khác cùng đến bờ giải thoát (độ tha), gồm có:

1) Bố thí: san sẻ, giúp đỡ người khác bằng
những gì mình có; có thể là những phương tiện vật chất như tiền bạc, của cải,
cơm áo, thuốc men, v.v…; hay những phương tiện tinh thần như sự dạy dỗ, giảng
thuyết
để nâng cao trí tuệ, thấy rõ điều hay lẽ thật, quay về nếp sống cao
thượng; hoặc bằng những lời hòa ái, khuyến khích, trấn an, và cả những hành
động dũng cảm, đáng tin cậy để đưa người ra khỏi những nỗi sợ hãi, nghi nan, lo
lắng
, những tình trạng bế tắc, bối rối, khủng hoảng v.v… Tóm lại, trong tất
cả mọi trường hợp, hành giả biết đem khả năng, thì giờtâm lực để phục vụ
giúp đời, đều là những hành động bố thí chính đáng của người tu tập hạnh
Bồ-tát.

2) Trì giới: giữ gìn giới hạnh để ngăn ngừa
những hành động gây tội lỗi, tạo cho mình cái phong cách đoan trang, hành vi
chánh đáng. Giới có khả năng giúp cho hành giả sống thường xuyên trong chánh
niệm
, tăng trưởng định lực và phát huy trí tuệ.

3) Nhẫn nhục: nhịn nhục và chịu đựng. Khi gặp nghịch
cảnh
không sinh tâm oán giận, không chất chứa oan cừu, gặp thuận cảnh không say
mê tham đắm; tâm vững vàng, không bị lay động trước sức quyến rũ của ái dục,
giàu sang, danh lợi, địa vị; không kiêu căng, tự mãn với những thành quả tốt
đẹp
do chính mình đạt được. Tóm lại, người có đức nhẫn nhục là người luôn luôn
thái độ hòa nhã, tâm an nhiên tự tại trong mọi trường hợp, nghịch cảnh cũng
như thuận cảnh, thất bại cũng như thành công, chưa chứng đắc cũng như đã chứng
đắc
.

4) Tinh tấn: ý chí kiên trì, dũng mãnh của
hành giả luôn luôn thăng tiến trên sự nghiệp giác ngộ. – Sống giữa hoàn cảnh
xấu xa mà không bị ô nhiễm, gọi là “tinh”; tâm niệm lúc nào cũng hướng
về sự nghiệp giác ngộ, gọi là “tấn”.

5) Thiền định:trạng thái tĩnh lặng của tâm
ý khi mọi loạn tưởng, vọng động đã hoàn toàn lắng đọng.

6) Trí tuệ:tuệ giác sáng tỏ sau khi đã
diệt trừ mọi phiền não, kiến chấp, vô minh, tâm ý hoàn toàn tĩnh lặng, thanh
tịnh
.

[41] Đắc
pháp
, đắc quả, đắc đạo:
“Đắc pháp”tâm đắc về một pháp
môn
, hiểu rõ yếu nghĩa, tông chỉhành trì trọn vẹn pháp môn ấy, từ đó mà đạt
được
thành quả giác ngộ. “Đắc quả”chứng đắc các quả vị của ba
thừa
như Tu-đà-hoàn, A-la-hán, Bích-chi Phật v.v… “Đắc đạo”
do tu tập giới định tuệ viên mãnchứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, tức quả
vị
Phật.

[42] Tứ đế:
là bốn chân lí, bốn sự thậtthế gian. Đó là bài pháp đầu tiên đức Phật thuyết
tại vườn Nai, thành Ba-la-nại, sau khi thành đạo. Tôn giả Kiều Trần Như và bốn
người bạn đồng tu nhờ nghe được bài pháp này mà chứng quả A-la-hán, trở thành
năm vị đệ tử xuất gia và chứng thánh quả đầu tiên của đức Phật. Có thể nói, đó
giáo lí căn bản của đạo Phật. Tất cả kinh điển, giới luật, hay luận thuyết
(thuộc tiểu thừa cũng như đại thừa) đều nhằm phát huy ý nghĩa sâu xa của giáo
Bốn Sự Thật mầu nhiệm này.

1) Sự thật thứ nhất: sự có mặt của khổ đau (khổ đế). Sự
có mặt của khổ đau trong đời sống thế giansự thật hiển nhiên, không ai có
thể chối bỏ được. Cứ nhìn những việc xảy ra trong đời sống hằng ngày của chính
mình, của gia đình mình, của bạn bè mình, của mọi người chung quanh mình, và
của nhân loại toàn thế giới; cho đến các loài động vật, cả các loài thực vật,
không chỗ nào là không tràn ngập khổ đau; dù giàu, dù nghèo, dù sang, dù hèn,
dù già, dù trẻ, dù nam, dù nữ, tất cả, không ai là không có kinh nghiệm về khổ
đau. Ngoài những nỗi khổ về sinh, già, bệnh, chết, còn vô lượng nỗi khổ đau
khác, không thể kể hết được!

2) Sự thật thứ hai: nguyên nhân sinh ra khổ đau (tập
đế
).
Bất cứ một hiện tượng khổ đau nào cũng đều do một hoặc nhiều
nguyên nhân sinh ra. Khổ đau vô lượng thì nguyên nhân của khổ đau cũng
lượng
; nhưng một cách tổng quát, Phật dạy rằng, sự thiếu sáng suốt (vô minh),
tâm tham dục, sân hận, oán thù, kiêu căng, nghi ngờ, tà kiến, chấp trước, là
những nguyên nhân căn bản nhất, to lớn nhất đã sinh ra mọi đau khổ.

3) Sự thật thứ ba: sự chấm dứt khổ đau, hay sự
có mặt của an lạc giải thoát (diệt đế).
Tuy khổ đau là sự thật hiển
nhiên
của cuộc sống, nhưng đó không phải là những sự kiện bền chắc, vĩnh cửu
đến độ không thể phá vỡ được; trái lại, đó là những sự kiệnchúng ta có thể
làm cho vơi bớt, thậm chí có thể tiêu diệt, chấm dứt, vượt thoát được. Khổ đau
càng vơi bớt thì niềm vui càng lớn lên, chấm dứt được khổ đau thì liền có an
lạc
, vượt thoát được khổ đau thì được giải thoát. Cho nên, nếu khổ đau là sự
thật
hiển nhiên của cuộc sống, thì an lạc giải thoát cũng là sự thật hiển nhiên
của cuộc sống.

4) Sự thật thứ tư: con đường diệt khổ để đạt được an
lạc
giải thoát (đạo đế).
Muốn chấm dứt khổ đau để có được an lạc giải
thoát
, người tu học Phật phải biết cách tu tập bằng những phương pháp cụ thể
hữu hiệu. Các giáo lí nói về ba môn học giải thoát (tam vô lậu học), bốn
lĩnh vực quán niệm (tứ niệm xứ), năm khả năng (ngũ căn), sáu pháp qua bờ (lục
độ
), bảy yếu tố giác ngộ (thất giác chi), tám nguyên tắc hành động chân chính
(bát chánh đạo),
v.v… đều có thể coi là những hướng dẫn căn bản, cặn kẽ,
chính đáng, cụ thể và hữu hiệu mà người tu học phải áp dụng triệt để trong đời
sống hằng ngày, để vượt thoát khổ đau, đem lại nếp sống an lạc, hạnh phúc cho
bản thân, cho gia đình, cho xã hội, cho đến cả muôn loài.

[43] Phát
tâm
bồ-đề hay bồ-đề vô-thượng:
tức là phát tâm dũng mãnh tu hành cho đến
khi thành Phật.

[44] Kinh
phương đẳng
:
Phương đẳng, phương quảng, đại phương đẳng, hay đại phương
quảng
, là danh xưng dùng để chỉ chung cho các kinh điển đại thừa, có ý nói
rằng, đó là những bộ kinhvăn từ phong phú, ý nghĩa vô cùng sâu xa, rộng
lớn. Đó là một trong 12 bộ kinh (xin xem chú thích tiếp theo sau).

[45] Mười
hai bộ kinh
:
là 12 thể loại của toàn bộ kinh điển Phật dạy:

1) Khế kinh (trường hàng): những lời dạy của
đức Phật bằng văn xuôi, thường được gọi tổng quát là “Kinh”.

2) Ứng tụng (trùng tụng): những bài kệ tụng
(hình thức thơ cổ) dùng để tóm tắt ý nghĩa của Khế kinh, cho nên thường
được đặt ở sau và luôn luôn tương ứng với phần Khế kinh.

3) Kí biệt (thọ kí): lời Phật thọ kí cho các
đệ tử sẽ thành Phật trong đời vị lai.

4) Phúng tụng (cô khởi): một bài kinh Phật dạy
toàn dùng kệ tụng để diễn đạt, nhưng không phải là những bài kệ tụng tóm tắt
kinh văn Trường hàng như thể loại Trùng tụng (số 2 ở trên).

5) Tự thuyết: đức Phật tự mở lời khai thị mà
không đợi có người thỉnh cầu chỉ dạy.

6) Nhân duyên: nêu lên cái nhân duyên đưa đến
trường hợp thuyết giáo của Phật — thường là phẩm “Tựa” ở đầu mỗi bộ
kinh
.

7) Thí dụ: những ví dụ Phật đưa ra trong lúc
giảng thuyết để giúp thính chúng hiểu ý kinh dễ dàng hơn.

8) Bản sinh: các kiếp tu hành đời trước của
đức Phật do chính Ngài thuật lại.

9) Bản sự: những hành vi cùng phẩm hạnh của
các vị Bồ-tát và thánh chúng đệ tử trong các kiếp trước do đức Phật thuật lại.

10) Phương quảng: kinh điển Phật nói có văn từ
phong phú, giáo nghĩa sâu xa rộng lớn; đặc biệt chỉ cho toàn thể kinh điển đại
thừa
.

11) Hi pháp (vị tằng hữu): những sự việc ít có
của Phật và chư vị đệ tử được ghi chép trong kinh.

12) Luận nghị: những lời nghị luận rành mạch,
rõ ràng của đức Phật nhằm giúp thính chúng hiểu rõ về thể tánh của vạn pháp.

[46] Bốn
tướng của chúng sinh:
tức bốn tướng trạng sinh, già, bệnh, chết của
tất cả chúng sinh.

[47] Nhị-thừa:
tức hai thừa Thanh-văn và Duyên-giác. Quả vị tối cao của thừa Thanh-văn là
A-la-hán, và của thừa Duyên-giác là Bích-chi Phật. “Bậc Nhị-thừa”
danh xưng thường thấy trong kinh điển, dùng để chỉ chung cho các hành giả
Thanh-văn và Duyên-giác.

[48] Mười-trụ
(Thập-trụ):
Thể nhậpbát nhã gọi là “trụ”. Mười-trụ là cấp thứ
nhì (sau cấp Mười-tín) trong 7 cấp (gồm 52 bậc) trên tiến trình tu tập của hàng
Bồ-tát. Cấp Mười-trụ gồm có 10 bậc như sau:

1) Trụ Phát-tâm: Hành giả phát khởi 10 lòng
tin
(thập tín), tín phụng Tam Bảo, không khởi tà kiến, không gây trọng tội, tu
tập
các pháp môn, học rộng, trí tuệ cao, ngộ nhập cảnh giới chân không, trụ ở
tánh không.

2) Trụ Trì-địa: Hành giả đã trụ nơi tánh không
cho nên tâm thường sáng tỏ, trong sạch; được như vậy là vì trong lúc hành giả
mới phát tâm thì tâm ấy liền trở thành vi diệu, dùng làm nền tảng vững bền như
đất.

3) Trụ Tu-hành: Trí tuệ từ hai bậc trước đã
sáng tỏ, hành giả du hành trong mười phương mà không bị trở ngại.

4) Trụ Sinh-quí: Thọ nhận một phần khí lực của
Phật, thông tỏ sâu xa, được nhập vào dòng giống Như Lai.

5) Trụ Phương-tiện cụ-túc: Tu tập vô lượng căn
lành, tự lợi lợi tha, phương tiện đầy đủ, tướng mạo không chỗ nào khiếm khuyết.

6) Trụ Chánh-tâm: Tâm đồng với Phật.

7) Trụ Bất-thối: Thân tâm hòa hợp, ngày càng
thăng tiến đến quả Phật, không còn thối lui.

8) Trụ Đồng-chân: Mười thân tướng thiêng liêng
của Phật (thân bồ đề, thân nguyện, hóa thân, thân trụ trì, thân tướng tốt trang
nghiêm
, thân thế lực, thân như ý, thân phước đức, trí thân, pháp thân) đồng
thời
đầy đủ.

9) Trụ Pháp-vương-tử: Hành gỉa trở thành đứa
con tinh thần của bậc Pháp Vương (Phật), thừa tiếp sự nghiệp của Phật.

10) Trụ Quán-đảnh: Với thân phận
Pháp-vương-tử, hành giả được Phật rưới nước trí tuệ lên đầu, như vị hoàng tử
dòng Sát-đế-lị, lúc lên ngôi chịu lễ Quán-đảnh do một đạo sĩ Bà-la-môn chủ trì.

[49] Ba
ngàn đại thiên thế giới (tam thiên đại thiên thế giới):
Trong kinh nói,
trong cõi hư khôngvô lượng vô số thế giới. Đơn vị nhỏ nhất của thế giới
được gọi là “tiểu thế giới”, gồm có một quả núi Tu-di ở trung
tâm
; vây quanh bốn phía núi là bốn châu thiên hạ (Đông Thắng-thân châu, Nam
Thiệm-bộ châu, Tây Ngưu-hóa châu, Bắc Câu-lô châu); phía trên có sáu cõi trời
Dục-giới và cõi trời Sơ-thiền của Sắc-giới; phía dưới là các tầng địa-luân,
kim-luân, thủy-luân, và phong-luân. Đó là phạm vi của một tiểu thế giới. Hợp
lại
một ngàn tiểu thế giới như thế, với cõi trời Nhị-thiền của Sắc-giới bao
trùm ở trên, làm thành một “tiểu thiên thế giới”. Hợp lại một
ngàn tiểu thiên thế giới như thế, với cõi trời Tam-thiền của Sắc-giới bao trùm
ở trên, làm thành một “trung thiên thế giới”. Hợp lại một ngàn
trung thiên thế giới như thế, với cõi trời Tứ-thiền của Sắc-giới và bốn cõi
trời
Vô-sắc-giới bao trùm ở trên, làm thành một “đại thiên thế giới”.
Như vậy, một đại thiên thế giới gồm 3 bội số của một ngàn tiểu thế giới, tức
bằng một tỉ tiểu thế giới; vì có ba bội số của một ngàn như thế cho nên
được gọi là “ba ngàn đại thiên thế giới” (chứ không phải ba
ngàn đại thiên thế giới là bằng ba ngàn tỉ tiểu thế giới).
Dù tính ra được
con số như thế, nhưng trong kinh điển, ba ngàn đại thiên thế giới cũng được gọi
“một đại ba ngàn thế giới” (nhất đại tam thiên thế giới), hoặc “ba
ngàn thế giới”
(tam thiên thế giới), chứng tỏ rằng, danh xưng “ba ngàn đại
thiên
thế giới” (hay “ba ngàn thế giới” v.v…) chỉ nói lên cái ý nghĩa vô hạn,
chứ không phải là một con số nhất định; ngay chữ “đại” () trong danh xưng này cũng đã nói lên
cái ý nghĩa rộng lớn, vô lượng vô số ấy. Và trong cõi hư không vô biênvô số
cái “ba ngàn đại thiên thế giới” như thế. Cũng theo trong kinh nói, ba ngàn đại
thiên thế giới
phạm vi giáo hóa của một đức Phật, như vậy có nghĩa là, ba
ngàn đại thiên thế giới là một Phật quốc.

[50] Rung
động
sáu cách (lục chủng chấn động):
Những lúc có sự việc vĩ đại xảy ra,
như Phật đản sinh, thành đạo, chuyển pháp luân v.v… thì khắp đại địa rung
động
. Sự rung động này xảy ra sáu cách, được gọi là sáu tướng. Kinh Đại Phẩm
Bát Nhã
nêu ra sáu phương rung động như sau: bên Đông vọt lên bên Tây chìm
xuống; bên Tây vọt lên bên Đông chìm xuống; bên Nam vọt lên bên Bắc chìm xuống;
bên Bắc vọt lên bên Nam chìm xuống; bốn bên vọt lên chính giữa chìm xuống;
chính giữa vọt lên bốn bên chìm xuống. Kinh Tân Hoa Nghiêm nêu ra sáu
tướng rung động của đại địa gồm có: rung động, vùng dậy, vọt lên, vang dội, gầm
rống, khua đập.

[51] Đại
chúng
Thanh-văn:
tức chư vị tì-kheo và tì-kheo-ni đã chứng hoặc chưa chứng
quả
A-la-hán.

[52] Bốn
phương góc (tứ duy):
tức bốn hướng ở xen kẽ giữa bốn hướng chính (Đông,
Nam, Tây, Bắc), đó là: Đông-Nam, Tây-Nam, Đông-Bắc, và Tây-Bắc.

[53]
sinh pháp nhẫn
(hay vô sinh nhẫn):
Thật tướng chân như xa lìa hẳn các
tướng sinh diệt, gọi là “vô sinh pháp”; chân trí tuệ an trú nơi pháp vô sinh
này, không còn bị xao động, gọi là “vô sinh pháp nhẫn” — gọi tắt là “vô sinh
nhẫn”. Bồ-tát dùng trí tuệ bát nhã quán chiếu thấy rõ tự tánh các pháp vốn là
không, các pháp không hề có sinh khởi (cũng không có tiêu diệt), cho nên không
hề bị xao động trước các pháp, gọi là Bồ-tát chứng “vô sinh pháp nhẫn”.

[54] Bốn
chúng
(tứ chúng):
tức là bốn chúng đệ tử Phật, gồm có: chúng tì-kheo,
chúng tì-kheo-ni, chúng cận-sự-nam, và chúng cận-sự-nữ.

[55] Năm
nẻo hữu tình (ngũ thú, hay ngũ đạo):
tức năm nơi hay năm cảnh giới trong
vòng
luân hồi sinh tử mà các loài hữu tình cứ tới lui quanh quẩn mãi; đó là: Trời,
Người, Bàng-sinh, Ngạ-quỉ, và Địa-ngục
. Trong kinh luận thường nói tới “sáu
nẻo hữu tình” (lục đạo)
, tức ngoài năm cảnh giới trên lại lập thêm cảnh
giới
A-tu-la. Nhưng vì loài A-tu-la sống lẫn lộn trong loài Trời, loài
Người
và loài Ngạ-quỉ (được gọi là loài “phi thiên phi nhân” – chẳng phải
Trời chẳng phải Người), cho nên tùy chỗ, nếu kể đó là một cảnh giới riêng biệt
thì có danh xưng “sáu nẻo” (lục đạo), còn nếu không kể đó là một
cảnh giới riêng biệt thì có danh xưng “năm nẻo” (ngũ đạo).

[56] 108
thứ bệnh:
tức 108 phiền não (bách bát phiền não). Phiền não của chúng sinh
vô lượng, nhưng trên thực tế, kinh luận đã phân tích và liệt kê thành 108
thứ. Theo luận Đại Trí Độ, 108 phiền não gồm có 10 triền (ràng buộc) và
98 kết (kết tụ, đóng cục, khó tiêu trừ, làm nguyên nhân cho sinh tử luân hồi).

10 triền là 10 thứ phiền não trói buộc thân
tâm
con người, khiến cho không được tự do tự tại, gồm có: phẫn (nóng
giận, bực tức, cộc cằn), phú (che dấu tội lỗi của mình), tật (ganh
ghét
), xan (bỏn sẻn, keo kiệt), vô tàm (làm lỗi mà không biết tự
xấu hổ), vô quí (tài đức không bằng người mà không biết tự thẹn), trạo
cử
(thân tâm chao động không yên), hôn trầm (tâm mê muội, nặng nề, trì
trệ), hối (tiếc nuối những việc xấu đã làm, hối hận về những việc thiện
đã làm), miên (mê ngủ, suốt ngày dật dờ).

98 kết cũng là 98 thứ phiền não trói buộc
chúng sinh cứ phải luân chuyển trong sinh tử luân hồi. 98 kết gồm có 88 thứ
kiến hoặc và 10 thứ tư hoặc trong ba cõi.

a)
Kiến hoặcmê lầm về LÍ, tức con ngưòi không thấy rõ chân lí về
Bốn Sự Thật (tứ đế)ba cõi thế gian. Sở dĩ gọi là “kiến hoặc”
là vì các hành giả tu học Phật pháp cần phải đoạn trừ những thứ phiền não này
mới tiến lên được địa vị Kiến-đạo (tức thoát khỏi địa vị phàm phu mà bước vào
dòng thánh). Luận Câu Xá (tiểu thừa) phân tích rằng, tất cả phiền não
của chúng sinh, dù nhiều đến đâu cũng chỉ bao gồm trong 10 loại phiền não
gốc rễ
(căn bản phiền não, hay căn bản hoặc), là tham, sân, si, mạn,
nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, và giới cấm thủ kiến
.
10 thứ phiền não căn bản này luôn luôn đeo dính và sai sử chúng sinh tạo muôn
vàn
tội lỗi, cho nên chúng cũng được gọi là “10 sử” (thập sử). Kiến
hoặc
gồm trọn cả 10 sử ấy
, dẫn chúng sinh trong ba cõi đến chỗ mê muội,
chấp trước, không nhận chân được chân lí Bốn Sự Thật (tứ đế). Bốn sự
thật
Khổ, Tập, Diệt, Đạo đều bị mê hoặc khắp trong ba cõi, cho nên hành
giả
phải ra sức đoạn trừ sạch hết kiến hoặc mới chứng ngộ bốn chân lí ấy. Tuy
nhiên
, công phu quán chiếuđoạn hoặc đối với mỗi sự thật (Khổ, Tập, Diệt,
Đạo) và ở mỗi cõi (Dục, Sắc, Vô-sắc) có khác nhau:

a1) Ở cõi Dục, sự thật KHỔ đế bị mê hoặc
sinh ra đủ 10 sử (nói trên); TẬP đế bị mê hoặc mà sinh ra 7 sử (tham, sân,
si, mạn, nghi, tà kiến, và kiến thủ kiến)
; DIỆT đế cũng giống như Tập đế;
ĐẠO đế bị mê hoặc mà sinh ra 8 sử (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, kiến
thủ kiến
, và giới cấm thủ kiến)
. Hợp chung lại, ở cõi Dục có cả thảy
(10+7+7+8 =) 32 sử.

a2) Ở cõi Sắc, sự thật KHỔ đế bị mê hoặc
sinh ra 9 sử (không có phiền não sân); TẬP đế bị mê hoặc mà sinh ra 6 sử
(tham, si, mạn, nghi, tà kiến, và kiến thủ kiến); DIỆT đế cũng giống như
Tập đế; ĐẠO đế bị mê hoặc mà sinh ra 7 sử (tham, si, mạn, nghi, tà kiến,
kiến thủ kiến, và giới cấm thủ kiến)
. Hợp chung lại, ở cõi Sắc có cả thảy
(9+6+6+7 =) 28 sử.

a3) Ở cõi Vô-sắc, giống như ở cõi Sắc.

Cộng chung cả ba cõi (Dục, Sắc và Vô-sắc), có
tất cả là (32+28+28 =) 88 sử.

b)
Tư hoặc mê lầm về SỰ, tức là con người đem tình cảm mê chấp
suy nghĩ, nhận thức mọi sự vật trong thế gian. Những thứ phiền não loại này,
các hành giảđịa vị Tu-đạo (cao hơn Kiến-đạo) phải đoạn trừ , cho nên chúng
cũng được gọi là “tu hoặc”. Theo Luận Câu Xá (tiểu thừa),
trong 10 sử kể trên thì 4 sử tham, sân, si, và mạn vừa thuộc kiến hoặc
mà cũng vừa là tư hoặc. Bốn sử tư hoặc này cũng có khắp trong ba cõi: riêng cõi
Dục thì có đủ cả 4 sử là tham, sân, si, và mạn; còn hai
cõi Sắc và Vô-sắc, mỗi cõi chỉ có 3 sử tham, si, mạn
thôi. Hợp chung cả ba cõi, có cả thảy là (4+3+3 =) 10 sử tư hoặc.

Vậy, hợp chung lại 88 sử kiến hoặc10 sử
hoặc
thì có cả thảy là 98 phiền não; kể luôn cả 10
triền thì tất cả là 108 phiền não.

[57] Sơ-địa:
tức bậc đầu tiên của 10 bậc Địa Bồ-tát (xem lại chú thích số 31 ở trên).

[58] Bất-động-địa:
tức bậc thứ tám của 10 Địa Bồ-tát (xem lại chú thích số 31 ở trên).

[59] Thất-địa:
(Xem lại chú thích số 31 ở trên.)

[60] Địa-thượng:
chỉ chung cho các địa vị tu tập của Bồ-tát từ bậc Sơ-địa trở lên. Trái lại, ở
các địa vị tu tập trước khi lên được Sơ-địa thì được gọi chung là Địa-tiền.
Theo đó, danh xưng “Bồ-tát Địa-tiền” là chỉ chung cho các hành giả tu tập hạnh
Bồ-tát ở a-tăng-kì kiếp thứ nhất, từ lúc mới phát tâm, trải qua các cấp
Mười-tín (Thập-tín), Mười-trụ (Thập-trụ), Mười-hạnh (Thập-hạnh), và
Mười-hồi-hướng (Thập-hồi-hướng); cả thảy là 40 bậc. Danh xưng “Bồ-tát
Địa-thượng” chỉ cho các hành giả tu tập hạnh Bồ-tát ở a-tăng-kì kiếp thứ nhì và
thứ ba, gồm có cấp Mười-địa (Thập-địa), và 2 bậc Đẳng-giác, Diệu-giác; cả thảy
là 12 bậc. Tính chung tất cả thời gian tu hành của Bồ-tát từ lúc mới phát tâm
cho đến khi thành Phật là 3 a-tăng-kì kiếp; trải qua một con đường dài gồm 52
bậc từ thấp lên cao.

[61] Hai
mươi lăm cõi (nhị thập ngũ hữu):
Từ ba cõi mở rộng ra thì có 25 cõi:

Dục giới có 14 cõi: 6 tầng trời cõi Dục
(Tứ-vương, Đao-lợi, Dạ-ma, Đâu-suất, Hóa-lạc, và Tha-hóa-tự-tại); 4 châu loài
người
(Đông Thắng-thân, Nam Thiệm-bộ, Tây Ngưu-hóa, và Bắc Câu-lô); 4 nẻo ác
(A-tu-la, Bàng-sinh, Ngạ-quỉ, và Địa-ngục).

Sắc giới có 7 cõi: Sơ-thiền thiên, Đại-phạm
thiên, Nhị-thiền thiên, Tam-thiền thiên, Tứ-thiền thiên, Vô-tưởng thiên, và
Tịnh-cư thiên.

Vô-sắc giới có 4 cõi: Không-xứ thiên,
thức-xứ thiên, Vô-sở-hữu-xứ thiên, và Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ thiên.

Chữ “HỮU” (有) trong từ Hán ngữ “nhị thập ngũ
hữu”,
có nghĩa là do nhân quả nối tiếp không dứt mà có sự sống chết nối
tiếp không dứt trong ba cõi luân hồi.

[62] Pháp-vân-địa:
(Xem lại chú thích số 31 ở trên.)

[63] Bốn
đạo quả:
Quá trình tu tập của hàng Bồ-tát từ lúc mới phát tâm cho đến khi
thành Phật, phải trải qua 7 cấp (Mười-tín, Mười-trụ, Mười-hạnh, Mười-hồi hướng,
Mười-địa, Đẳng-giác và Diệu-giác), nhưng theo giáo lí “viên giáo”, nếu hành giả
tu tập tinh tấn vượt bậc, thì có thể thành Phật ngay ở cấp đầu tiên là Mười-tín
(Thập-tín). Do đó, tùy theo công phu và cường độ của sự quyết tâm, hàng Bồ-tát
có thể thành Phật ở bốn giai vị: 1) khi đã viên mãn giai vị Mười-tín, gọi là “Tín
mãn thành Phật”
; 2) khi đã viên mãn giai vị Mười-trụ, gọi là “Giải
mãn thành Phật”
; 3) khi đã viên mãn giai vị Mười-địa, gọi là “Hành
mãn thành Phật”
; 4) khi đã viên mãn giai vị cao tột là Diệu-giác, gọi
“Chứng mãn thành Phật”.