Kinh Viên Giác

0
12
KINH VIÊN GIÁC
Tỳ kheo Thích Hằng Đạt Việt dịch

Tôi
nghe như vầy: Một thuở Phật nhập định Thần Thông Đại Quang Minh Tạng, là nơi
trụ trì Thường Tịch Quang Trang Nghiêm của tất cả Như Lai, cũng là giác địa vốn
trong sạch của tất cả chúng sanh, tất cả thánh phàm đều tùy thuận bản thể bình
đẳng
bất nhị của tự tánh đầy khắp mười phương không gianthời gian, thân tâm
tịch diệt mà hiện cảnh bất nhị nơi các cõi tịnh độ, cùng với mười vạn Đại Bồ
Tát
, bậc thượng thủ là: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Nhãn Bồ
Tát
, Di Lặc Bồ Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát, Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát, Oai Đức Tự Tại
Bồ Tát
, Biện Âm Bồ Tát, Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát, Phổ Giác Bồ Tát, Viên
Giác
Bồ Tát, Hiền Thiện Thủ Bồ Tát, v.v… cùng các môn đồ đều nhập chánh định,
đồng dự pháp hội bình đẳng của Như Lai.

Bấy giờ Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát
trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhi­u quanh Phật ba
vòng, đảnh lễ chân Phật, chắp tay qùy gối bạch Phật rằng:

-Xin Đại Bi Thế
Tôn
pháp chúng dự hội này giảng về nhân địa phát tâm trong sạch của Như Lai
phải dựa theo pháp nào, tu theo hạnh gì mà được thành Phật. Và những Đại Thừa Bồ
Tát
đã phát tâm trong sạch nguyện độ chúng sanh thành Phật, nhưng chẳng biết
dụng tâm tu hành như thế nào mới được chánh tri kiến, xa lìa các thiền bệnh,
khiến cho mạt pháp chúng sanh đời vị lai cầu pháp đại thừa chẳng đọa tà
kiến”.

Ngài Văn Thù Bồ
Tát
nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Văn Thù Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tát hỏi về nhân địa phát tâm của
Như Lai dựa theo pháp nào, tu hạnh gì, lại vì tất cả chúng sanh đời mạt pháp
cầu pháp đại thừa được trụ nơi chánh pháp, chẳng đọa tà kiến. Nay ngươi hãy
lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy Văn Thù
Bồ Tát
đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

-Thiện nam tử!
pháp môn Tổng trì của Vô Thượng Pháp Vương gọi là Viên Giác. Từ pháp này
kiến lập tất cả thanh tịnh, Chơn Như, Bồ Đề, Niết BànBa La Mật để dạy Bồ
Tát
chúng sanh về nhân địa phát tâm của tất cả Như Lai, đều nên y theo giác
tướng
trong sạch chiếu soi đầy đủ, dứt hẳn vô minh mới thành Phật đạo.

Thiện nam tử!
Thế nào là vô minh? Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay đủ thứ điên đảo, ví như
kẻ lạc đường nhận lầm phương nam thành phương bắc, vọng cho tứ đạithân tướng
thật của mình, cho vọng tâm tạo huy­n ảnh thành lục trầntâm tướng thật của
mình, ví như kẻ bị nhặm thấy hoa đốm trên không và thấy mặt trăng thứ
hai.

Thiện nam tử!
Hư không vốn chẳng hoa đốm, vì bệnh nhặm vọng chấp thành có. Do vọng chấp ấy,
chẳng những không biết tánh hư không, lại còn lầm nhận chỗ sanh ra hoa đốm là thật.
Từ cái vọng này thành có sanh tử luân hồi, nên gọi là vô minh.

Thiện nam tử!
Vô minh này chẳng có thật thể, như người trong mộng lúc chiêm bao thì có, đến
khi thức tỉnh thì chẳng còn gì cả. Cũng như hoa đốm diệt nơi hư không, chẳng
thể nói nhất định có chỗ diệt. Tại sao? Vì chẳng có chỗ sanh vậy.

Tất cả chúng
sanh
ở nơi pháp vô sanh vọng thấy có sự sanh diệt, cho nên gọi là sanh tử luân
hồi
.

Thiện nam tử!
Như Lai nơi nhân địa tu theo tự tánh Viên Giác, chiếu soi bản thể của tự tánh
vốn tịch diệt, biết rõ thân tâm thế giới như hoa đốm trên không, vậy thì thân
tâm
vốn không, lấy gì để thọ sanh tử luân hồi? Cái KHÔNG này là vì bản tánh vốn
không, chẳng phải do tạo tác thành không. Cái biết đó ví như hư không, kẻ biết
như hư không đó tức là tướng hoa đốm cũng chẳng thể nói không có tánh tri giác,
CÓ với KHÔNG đều lìa, ấy mới gọi là tùy thuận giác tánh trong sạch.

Tại sao? Vì
tánh hư không thường trụ chẳng động. Trong Như Lai Tạng vốn chẳng có sự sanh
diệt
nên chẳng có sự tri kiến sanh diệt trong đó, cũng như pháp giới tánh, rốt
ráo
viên mãn đầy khắp mười phương không gian và giờ gian, ấy mới gọi là nhân
địa
phát tâm theo chánh pháp, tu hành theo chánh hạnh.

Bồ Tát vì thế ở
nơi đại thừa phát tâm trong sạch, chúng sanh trong đời mạt pháp theo đó tu hành
chẳng đọa tà kiến.

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Văn Thù ngươi
nên biết,
Tất cả các Như
Lai
,
Từ nơi bản nhân
địa
,
Đều nhờ trí huệ
giác.
Thông đạt nơi
minh
,
Cũng như hoa đốm
kia.
Thì khỏi bị luân
hồi
.
Cũng như người
trong mộng,
Thức tỉnh cảnh
mộng mất.
Giác ngộ như
không
,
Bình đẳng chẳng
lay động.
Bản giác khắp mười
phương
,
Liền được thành
Phật
đạo.
Huy­n chẳng chỗ
sanh diệt,
Thành đạo cũng vô
đắc,
bản tánh viên
mãn
.
Bồ Tát ở trong
đó,
Khéo phát tâm Bồ
Đề
.
Chúng sanh đời mạt
pháp
,
Tu theo lìa
kiến

Khi ấy Phổ Hiền
Bồ tát
ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng,
đảnh lễ chân Phật, chắp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Xin đại bi Thế
Tôn
vì các Bồ Tát trong hội này và tất cả chúng sanh đời mạt pháp, người tu đại
thừa
khai thị cảnh giới trong sạch của Viên Giác này nên tu hành như thế nào? Bạch
Thế Tôn! Nếu chúng sanh ấy đã biết thế giới như huyễn, thân tâm cũng huyễn, tại
sao lại dùng huyễn để tu huyễn?

Nếu các tánh
huyễn đều diệt hết thì chẳng có tâm, vậy còn ai tu hành? Tại sao lại nói tu
hành
như huyễn?

Nếu những chúng
sanh
vốn chẳng tu hành thường chịu sanh tử nơi huyễn hoá, thì chẳng biết ấy là
cảnh giới như huyễn, làm sao khiến tâm vọng tưởng được giải thoát?

Xin Thế Tôn
tất cả chúng sanh đời mạt pháp chỉ dạy nên dùng phương tiện nào để tu tập theo
thứ lớp, lìa hẳn các huyễn.

Ngài Phổ Hiền
Bồ Tát
nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Phổ Hiền Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi kheó vì các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp,
hỏi Như Lai về phương tiện và thứ lớp tu tập chánh định như huyễn của Bồ Tát,
khiến cho chúng sanh được lìa các huyễn. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì
ngươi mà thuyết .

Lúc ấy Phổ Hiền
Bồ Tát
đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

-Thiện nam tử!
Tất cả chúng sanh đủ thứ huyễn hoá đều sanh nơi diệu tâm Viên Giác của Như Lai,
ví như hoa đốm từ hư không mà có, hoa đốm dù diệt, tánh hư không chẳng hoại,
huyễn tâm của chúng sanh dù theo huyễn diệt, các huyễn diệt hết, bản giác chẳng
động. Do Huyễn nói Gíac, giác cũng là huyễn, nếu nói Có Giác vẫn chưa lìa
huyễn, nói không Có Giác thì cũng như thế, nên nói các huyễn diệt hết gọi là
bản giác chẳng động.

Thiện nam tử!
Tất cả Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp nên xa lìa tất cả huy­n hoá, những
cảnh giới hư vọng do vọng tâm cố chấp mà sanh. Nay xa lìa vọng tâm, cái tâm
năng lìa cũng là huyễn, cũng phải xa lìa. Có sự xa lìa cũng là huyễn cũng phải
xa lìa. Có sự xa lìa để lìa vẫn là huyễn, cũng phải lìa luôn, lìa rồi lại lìa
nữa, đến chỗ chẳng có sở lìa mới dứt hẳn các huy­n. Ví như dùi cây lấy lửa, hai
cây chà xát vào nhau, lửa ra thì cây cháy thành tro, khói diệt tro bay, đất chỗ
nơi đốt vốn chẳng động; vậy dùng huy­n tu huyễn cũng như thế, các huyễn diệt
hết nhưng chẳng phải đoạn diệt.

Thiện nam tử!
Biết huyễn tức là lìa, chẳng lập phương tiện; lìa huyễn tức là giác, cũng chẳng
thứ lớp. Tất cả Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp theo đó tu hành, như thế mới
được lìa hẳn các huy­n .

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Phổ Hiền ngươi
nên biết,
Tất cả các chúng
sanh
.
Vô thủy huyễn
minh
,
Đều nương tâm Viên
Giác
,
Của Như Lai kiến
lập
.
Ví như những hoa
đốm
,
Nương hư không
tướng.
Hoa đốm nếu diệt
rồi,
Hư không vốn chẳng
động,
Huyễn từ bản giác
sanh,
Huy­n diệt giác
viên
mãn.
Bản giác vốn chẳng
động,
Như tất cả Bồ
Tát
,
mạt pháp chúng
sanh
.
Thường nên xa lìa
huyễn,
Các huyễn thảy đều
lìa,
Như dùi cây lấy
lửa,
Cây hết lửa cũng
diệt.
Giác vốn chẳng thứ
lớp,
Phương tiện cũng
như thế.

Khi ấy Phổ Nhãn
Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng,
đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Xin đại bi Thế
Tôn
vì các Bồ Tát trong hội này và tất cả chúng sanh đời mạt pháp giảng về sự
tu hành theo thứ lớp của Bồ Tát, nên quán như thế nào? An trụ tâm như thế nào? Những
chúng sanh chưa ngộ, dùng phương tiện gì khiến đều được khai ngộ? Bạch Thế Tôn!
Nếu những chúng sanh ấy chẳng biết phương tiệnthiền quán của Chánh Pháp,
nghe Phật thuyết chánh định này tâm sanh mê muội, thì ở nơi Viên Giác chẳng thể
ngộ nhập. Xin Phật từ bi vì chúng con và chúng sanh đời mạt pháp giả thiết
phương tiện để được vào cửa tu hành.

Ngài Phổ Nhãn
Bồ Tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Phổ Nhãn Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp
hỏi Như Lai về thiền quán và an trụ tâm như thế nào, phải nên theo thứ lớp tu
hành
như thế nào, cho đến giả thuyết đủ thứ phương tiện. Nay ngươi hảy lắng
nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy, Phổ
Nhãn
Bồ Tátđại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

Thiện nam tử!
Những Bồ Tát sơ họcchúng sanh đời mạt pháp muốn cầu tâm Viên Giác trong
sạch
của Như Lai, nên dùng chánh niệm để xa lìa các
huyễn.

Lược giải:

Chánh niệm
tức là vô niệm, vô niệm tức là lìa niệm, lìa niệm tức là lìa huyễn, lìa huyễn
tức là tùy thuận bản giác trong sạch, phàm có khởi tâm động niệm, nơi bản thể
Viên Giác đều thuộc về huyễn hoá. Ý Phật ở đây là: Ngoài bản niệm ra chẳng sanh
một niệm nào thì các huyễn tự diệt, nên nói: “Xa lìa các


huyễn
“.

(Lược giải
hết.)

Muốn giữ chánh
niệm
, trước tiên phải nương theo hạnh Sa Ma Tha (bằng như chỉ quán) của Như
Lai
, kiên trì giới cấm, cho đồ chúng an cư, tĩnh tọa trong tịnh thất. Hành giả
trước tiên hãy quán tâm này do tứ đại hoà hợp, những thứ tóc, lông, móng, răng,
da, thịt, gân, xương, tủy, não, chất bẩn đều thuộc về địa đại. Nước mắt, nước
mũi, mồ hôi, mỡ, máu, mủ, đờm, dãi, tiểu tiện, v.v… đều thuộc về thủy đại.
Hơi ấm là hoả đại, hơi thởphong đại. Nếu tứ đại lìa nhau thì thân này ở
đâu? Nếu quán xét như thế thì biết thân này vốn chẳng co tự thể, do hoà hợp
thành có tướng, thật ra đồng như huyễn hoá. Vì bốn duyên giả hợp mới vọng có
lục căn, từ tứ đại sanh khởi lục căn, căn trần hoà hợp sanh khởi lục thức, do
lục thức phân biệt lục trần, ghi nhớ tích tụ bên trong, tựa như có tướng nhân
duyên
hiện ra nên giả gọi là tâm.

Thiện nam tử!
Cái vọng tâm này nếu chẳng có lục trần thì chẳng thể có, tứ đại tan rã thì cảnh
trần cũng không còn. Nhân duyên căn trần đều tự tiêu tán, rốt cuộc cũng chẳng
thấy có gì là tâm phan duyên.

Thiện nam tử!
Những chúng sanh ấy nếu huy­n thân diệt huy­n tâm cũng diệt, huy­n tâm diệt rồi
huyễn trần cũng diệt, huyễn trần diệt rồi huyễn diệt cũng diệt, cái biết huyễn
diệt diệt rồi thì phi huyễn (bản giác) chẳng diệt, ví như chùi gương, bụi sạch
gương sáng.

Thiện nam tử!
Phải biết thân tâm đều là cấu bẩn của huyễn, tướng cấu bẩn diệt hẳn thì mười
phương
trong sạch (bản giác trong sạch khắp mười phương
không gianthời
gian
).

Thiện nam tử!
Ví như hạt châu Ma Ni, bản thể trong sạch vốn chẳng màu sắc, tùy theo màu sắc
bên ngoài mà hiện ra màu sắc ấy, kẻ mê chẳng biết, thấy hạt châu Ma ni thật có
màu sắc.

Thiện nam tử!
Tánh trong sạch của Viên Giác (bản giác) cũng như thế, tùy loại cảm ứng hiện ra
thân tâm, kẻ mê chẳng biết, lại cho bản thể Viên Giác thật có thân tâm sắc
tướng
, chấp thành tự tướng cũng như vậy. Chúng sanh do đó chẳng thể xa lìa
huyễn hoá, nên ta nói thân tâm là cấu bẩn của huyễn hoá. Đối với người đã lìa
được cấu bẩn của huyễn hoá gọi là Bồ Tát. Cấu bẩn là sở lìa, Bồ Tát là năng
lìa, cấu bẩn sạch (sở lìa hết), đối đãi trừ (năng lìa hết), vậy tức chẳng còn
năng sở tương đối để lìa cấu bẩn và tên gọi người năng lìa ( Bồ Tát ).

Thiện nam tử!
Bồ Tát nầy với chúng sanh đi mạt pháp, do quán xét diệt được những bóng hình
của vọng tâm tạo ra thì chứng được các pháp đều huyễn. Lúc ấy liền thấy mười
phương
trong sạch, vô biên hư khôngbản giác sở hiện, bản giác tròn đầy sáng
tỏ
, hiển hiện chơn tâm trong sạch. Vì tâm trong sạch nên kiến trần trong sạch
(có năng thấy tức là trần, chẳng phải sắc trần). Kiến trong sạch (chẳng còn năng
kiến sở kiến) nên nhản căn trong sạch, nhãn căn trong sạch nên nhãn thức trong
sạch
, do nhãn thức trong sạch nên văn trần trong sạch (có năng văn tức là
trần), văn trong sạch nên nhĩ căn trong sạch, nhĩ căn trong sạch nên nhĩ thức trong
sạch
, do nhĩ thức trong sạch nên giác trần trong sạch (có năng giác tức là
trần), như thế cho đến tỷ, thiệt, thân, ý đều cũng trong sạch như vậy.

Thiện nam tử!
Do lục căn trong sạch nên sắc trần trong sạch, sắc trần trong sạch nên thanh
trần
trong sạch, cho đến hương, vị, xúc pháp đều trong sạch như thế.

Thiện nam tử!
Do lục trần trong sạch nên địa đại trong sạch, địa đại trong sạch nên thủy đại
trong sạch, hỏa đại, phong đại cũng đều trong sạch như thế.

Thiện nam tử!
Do tứ đại trong sạch nên thập nhị xứ, thập bát giới, cho đến nhị thập ngũ hữu
(gồm dục giới, sắc giới, vô sắc giới, tức là tam giới) đều trong sạch.

Vì các pháp thế
gian
của lục phàm trong sạch nên các pháp xuất thế gian của tứ thánh như: Thập
lực
, tứ vô sở úy, tứ vô ngại trí, mười tám pháp bất cộng của Phật, ba mươi bảy
phẩm trợ đạo
, v.v… đều trong sạch. Như thế cho đến tám mươi bốn ngàn pháp môn
tổng trì, tất cả đều trong sạch.

Thiện nam tử!
Nói tóm lại tất cả pháp đều là tướng, tánh vốn trong sạch. Vậy thì một thân
trong sạch nên nhiều thân trong sạch; vì nhiều thân trong sạch như thế cho đến
mười phương chúng sanh Viên Giác trong sạch.

Thiện nam tử!
Theo sự trong sạch kể trên, do một thế giới trong sạch nên nhiều thế giới trong
sạch
, vì nhiều thế giới trong sạch như thế cho đến khắp không gianthời
gian
, tất cả bình đẳng trong sạch chẳng động.

Thiện nam tử!
hư không bình đẳng chẳng động nên biết giác tánh bình đẳng chẳng động; vì tứ
đại
bình đẳng chẳng động nên biết giác tánh bình đẳng chẳng động, như thế cho
đến tám mươi bốn ngàn pháp môn tổng trì bình đẳng chẳng động, nên biết giác
tánh
bình đẳng chẳng động.

Thiện nam tử!
Giác tánh cùng khắp, trong sạch chẳng động, tròn đầy chẳng có ngằn mé. Nên biết
lục căn cùng khắp pháp giới, căn cùng khắp nên biết lục trần cùng khắp pháp
giới
, trần cùng khắp nên biết tứ đại cùng khắp pháp giới, như thế cho đến pháp
môn
tổng trì đều cùng khắp pháp giới.

Thiện nam tử!
Do diệu giác ấy tánh vốn cùng khắp, nên tánh căn tánh trần chẳng hoại chẳng
nhiễm. Vì căn trần chẳng hoại chẳng nhiễ, như thế cho đến pháp môn tổng trì
chẳng hoại chẳng nhiễm, như ánh sáng của trăm ngàn ngọn đèn chiếu trong một phòng,
ánh sáng ấy cùng khắp, chẳng hoại chẳng nhiễm.

Thiện nam tử!
bản giác vốn thành tựu, nên biết Bồ Tát chẳng bị pháp trói buộc, chẳng cần
pháp giải thoát, chẳng chán sanh tử, chẳng ưa Niết Bàn, chẳng kính trì giới,
chẳng ghét phá giới, chẳng trọng tu lâu, chẳng khinh sơ học. Tạo sao? Vì tất cả
đều ở trong bản giác, ví như con mắt sáng tỏ, thấy rõ cảnh tượng trước mắt, ánh
sáng ấy viên mãn chẳng sanh yêu ghét. Tại sao? Vì bản thể ánh sáng bất nhị nên
chẳng sanh yêu ghét vậy.

Thiện nam tử!
Bồ Tát này và chúng sanh đời mạt pháp tu tập tâm này đều được thành tựu. Vì bản
giác
vốn đầy đủ, dù nói tu tập thành tựu, thật vốn vô tu, cũng vô thành tựu. Vì
Viên Giác phổ biến chiếu soi, tịch diệt bất nhị, trong đó bao gồm trăm ngàn
muôn ức a tăng kỳ bất khả thuyết vô số hằng sa thế giới của chư Phật, ví như
hoa đốm hiện trên hư không, khởi diệt lăng xăng, chẳng hợp chẳng lìa, chẳng
trói buộc, chẳng giải thoát, vì thế mới biết chúng sanh bổn lai thành Phật,
sanh tử Niết Bàn đều như việc trong mộng.

Thiện nam tử!
Do các pháp như việc trong mộng, nên biết sanh tửNiết Bàn chẳng sanh chẳng
diệt, chẳng khứ chẳng lai, những sở chứng ấy chẳng đắc chẳng thất, chẳng thủ chẳng
xả, những năng chứng kia vô tác vô chỉ vô nhậm vô diệt, nơi pháp chứng này rốt
cuộc
vô năng chứng vô sở chứng, tất cả pháp tánh đều bình đẳng chẳng
hoại.

Thiện nam tử!
Những Bồ Tát ấy nên tu hành như thế, theo thứ lớp như thế, quán tưởng như thế,
an trụ tâm như thế, phương tiện như thế, khai ngộ như thế, cầu pháp như thế,
tất cả thực hành đúng theo chánh pháp chánh hạnh như thế thì tâm chẳng
muội
.

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Phổ nhản ngươi
nên biết,
Tất cả những chúng
sanh
,
Thân tâm đều như
huyễn
,
Thân tướng thuộc
tứ đại,
Tâm tánh về lục
trần
.
Thể tứ đại lìa
nhau,
Ai là kẻ hoà
hợp?
Dần dần quán như
thế,
Tất cả đều trong
sạch
.
Khắp giới pháp
chẳng động,
Vô tác, chỉ, nhậm,
diệt,
Cũng chẳng kẻ năng
chứng.
Tất cả thế giới
Phật,
Như hoa đốm trên
không.
Tam thế đều bình đẳng,
Rốt cuộc chẳng khứ
lai.
Những Bồ Tát
học
,
chúng sanh mạt
pháp
.
Muốn cầu vào Phật
đạo
,
Nên tu tập như thế

Khi ấy Kim Cang
Tạng Bồ Tát
ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhi­u quanh Phật ba
vòng, đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế
Tôn! Khéo vì tất cả Bồ Tát giảng dạy viên giác trong sạch đại tổng trì về nhân
địa
phát tâm đúng theo chánh pháp, và phương tiện thứ lớp tu theo chánh hạnh
của Như Lai, khai phá ám muội cho chúng sanh, pháp chúng trong hội nhờ sự từ bi
chỉ dạy của Phật, được trí huệ trong sạch, mắt nhặm
sáng tỏ.

1. Bạch Thế
Tôn! Nếu các chúng sanh bổn lai thành Phật, tại sao lại có tất cả vô
minh?

2. Nếu những
minh
chúng sanh sẵn có, do nhân duyênNhư Lai lại nói bổn lai thành Phật?

3. Nếu mười
phương
chúng sanh bổn lai thành Phật, rồi sau mới khởi vô minh, vậy tất cả Như
Lai
đến lúc nào sanh lại tất cả phiền não?

Xin Phật rủ
lòng đại từ, vì những Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp khi giảng pháp tạng
mật
, khiến người nghe được pháp môn liễu nghĩa của Kinh này dứt hẳn tâm nghi
ngờ
.

Ngài Kim Cang
Tạng Bồ Tát
nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như
vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Kim Cang Tạng Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp
hỏi Như Lai về pháp thâm sâu bí mật, phương tiện rốt ráo của Phật, ấy là sự chỉ
dạy tối cao của đại thừa lieu nghĩa cho các Bồ Tát, hay khiến mười phương Bồ
Tát
chúng sanh đời mạt pháp đối với sự tu học được lòng tin quyết định, dứt
hẳn tâm nghi ngờ. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết
“.

Lúc ấy Kim Cang
Tạng Bồ Tát
đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe:

-Thiện nam tử!
Tất cả thế giới những sự thủy, chung, sanh, diệt, trước, sau, có, không, tụ,
tán, khởi, dừng, cho đến đủ thứ thủ xả đều là đối đãi, xoay vần tương sanh với nhau,
niệm niệm tương tục, đều là luân hồi. Kẻ chưa ra khỏi luân hồiphân biệt
Viên Giác thì tánh Viên Giác kia cũng đồng như luân hồi, vậy muốn khỏi bị luân
hồi
thì chẳng có chỗ đúng. Ví như mắt nháy thấy nước lặng dợn sóng, mắt ngó hẳn
một chỗ thấy vòng lửa xoay tròn, do mây bay mau thấy mặt trăng đi nhanh, do
thuyền đi thấy bờ trôi thì cũng như thế.

Thiện nam tử!
Sự xoay vòng chưa dừng mà muốn cảnh vật dừng trước còn chẳng thể được, huống là
tâm cấu bẩn chưa từng trong sạch, còn ở trong sanh tử luân hồi mà muốn quán
Viên Giác của Phật chẳng xoay vần thì làm sao được! Vì thế các ngươi mới sanh
ba điều nghi hoặc kể trên.

Thiện nam tử!
Ví như bệnh nhặm vọng thấy hoa đốm hiện trên hư không, nếu bệnh nhặm trừ, chẳng
thể nói rằng nhặm nay đã diệt, vậy đến lúc nào tất cả bệnh nhặm mới sanh trở
lại
. Tại sao? Vì hai pháp bệnh nhặm và hoa đốm chẳng phải đối đãi sanh nhau,
cũng như hoa đốm diệt nơi hư không rồi, chẳng thể nói rằng hư không lúc nào
sanh lại hoa đốm nữa. Tại sao? Hư không vốn chẳng hoa đốm nên chẳng có sự sanh
diệt
. Sanh tử Niết Bàn đồng như hoa đốm sanh diệt, nếu diệu giác hiện ra tròn
đầy chiếu khắp thì hoa đốm và bệnh nhặm đều tự lìa hẳn.

Thiện nam tử!
Phải biết hư không chẳng phải tạm có, cũng chẳng tạm không, huống là bản tánh
bình đẳng của hư khôngtùy thuận Viên Giác của Như Lai, làm sao có thể dung
nạp
những đối đãi như: có, không, sanh, diệt, trước, sau, v.v… ở trong
đó!

Thiện nam tử!
Như luyện quặng vàng, vàng chẳng phải do luyện mà có, khi đã thành vàng ròng
thì dù trải qua vô lượng kiếp tánh vàng chẳng hoại, chẳng thể trở lại làm quặng
nữa; vậy chẳng nên nói rằng vàng ròng vốn chẳng thành tựu, Viên Giác của Như
Lai
cũng là như thế.

Thiện nam tử!
Diệu tâm Viên Giác của tất cả Như Lai vốn chẳng Bồ ĐềNiết Bàn, cũng chẳng
só sự thành Phật hay chẳng thành Phật, cũng chẳng có vọng luân hồi và phi luân
hồi
.

Thiện nam tử!
Theo cảnh giới sở chứng của hàng Thanh Văn, thân tâm ngôn ngữ đều đã đoạn diệt
còn chẳng thể đến chỗ Niết Bàn của tự mình chứng, huống là dùng tâm suy tư để đo
lường cảnh giới Viên Giác của Như Lai; ví như lấy lửa đom đóm để đốt núi Tu Di
thì làm sao cháy được! Nay dùng tâm luân hồi, sanh tri kiến luân hồi mà muốn
vào biển Đại Tịch Diệt của Như Lai thì làm sao đến được! Cho nên ta nói tất cả
Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp, trước tiên phải đoạn dứt cội gốc luân hồi từ
vô thỉ.

Thiện nam tử!
Những tác ý suy tư do có tâm mà sanh khởi, ấy đều là lục trần, là nhân duyên
của vọng tưởng, chẳng phải bản thể thật của chơn tâm, nên nói như hoa đốm; vậy
nếu dùng tâm suy tư này để phân biệt cảnh giới của Phật, cũng như trông mong
hoa đốm lại kết thành quả hư không, ấy đều là do vọng tưởng xoay vần, thật ra
chẳng có chỗ đúng.

Thiện nam tử!
Vọng tâm trôi nổi sanh nhiều khiến chấp xảo trá, nên chẳng thể thành tựu phương
tiện
của Viên Giác, sự thưa hỏi của ngươi là do vọng tâm phân biệt như thế.
Thật chẳng phải là câu hỏi đúng theo chánh kiến.

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Kim Cang Tạng
nên biết,
Tánh Như Lai tịch
diệt
,
Chưa từng có thủy
chung
.
Nếu dùng tâm luân
hồi
,
Suy tư thành xoay
vần.
Chỉ đến bờ luân
hồi
,
Chẳng thể vào biển
Phật.
Ví như luyện quặng
vàng,
Chẳng do luyện có
vàng.
vàng ròng sẵn
có,
Nhờ luyện mới
thành tựu.
Khi đã thành vàng
ròng
,
Chẳng trở lại
quặng nữa.
Sanh tửNiết
Bàn
,
Phàm phu với chư
Phật,
Đồng như tướng hoa
đốm
.
Suy tư như huyễn
hoá,
Huống sự hỏi
vọng
.
Hãy thấu rõ tâm
này,
Rồi mới cầu Viên
Giác
.

Khi ấy Di Lặc
Bồ Tát
ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng,
đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế
Tôn! Đã vì Bồ Tát khai thị pháp tạng bí mật, khiến đại chúng thấu ngộ lý luân
hồi
, phân biệt được tà chánh, hay bố thí cho chúng sanh đời mạt pháp được đạo
nhãn
vô úy, đối với Đại Niết Bàn sanh lòng tin quyết định, chẳng còn tùy theo
cảnh giới luân hồisanh khởi tri kiến luân hồi.

1. Bạch Thế
Tôn! Nếu các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp muốn vào biển Đại Tịch Diệt của
Như Lai, nên dứt cội gốc luân hồi như thế nào?

2. Nơi các luân
hồi
có bao nhiêu chủng tánh?

3. Người tu đến
Bồ Đề của Phật có mấy bậc sai biệt?

4. Bồ Tát trở vào
trần lao nên thiết lập mấy thứ phương tiện để giáo hoá chúng sanh?

Xin Phật rũ
lòng từ bi cứu thế, khiến tất cả Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp theo đó tu
hành
, được huệ nhãn trong sạch, tâm gương sáng tỏ, viên mãn ngộ nhập vô thượng tri
kiến
của Như Lai .

Ngài Di Lặc Bồ
Tát
nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễthưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Di Lặc Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp,
hỏi Như Lai về những nghĩa lý vi diệu, thâm sâu bí mật của chư Phật, khiến các
Bồ Tát huệ nhãn trong sạch, và tất cả chúng sanh đời mạt pháp dứt hẳn luân hồi,
tâm ngộ thật tướng, chứng vô sanh pháp nhẫn. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì
ngươi mà thuyết .

Lúc ấy Di Lặc
Bồ Tát
đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

-Thiện nam tử!
Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay do có đủ thứ tham dục ân ái nên có luân
hồi
. Tất cả chủng tánh nơi các thế giới như noãn sanh, thai sanh, thấp sanh,
hoá sanh, đều lấy dâm dục làm chánh nhân mới thành có sinh mạng, nên biết ái
dục
là cội gốc của luân hồi. Do có các dục làm trợ duyên, phát khởi tánh ân ái,
vì thế khiến chúng sanhsanh tử tương tục.

Dục do ái mà
sanh, mạng do dục mới có, chúng sanh tham ái thân mạng là dựa theo cội gốc tham
dục
, vậy tham dục là nhân, tham ái thân mạng là quả. Do nơi cảnh dục mà sanh
tâm yêu ghét; cảnh thuận với tâm ta thì yêu, cảnh nghịch với tâm ta thì ghét,
nên theo đó tạo đủ thứ ác nghiệp thì sanh vào đạo địa ngục, ngạ qủy.

Nếu bỏ ác mà
ham thiện thì sanh vào cỏi trời cõi người.

Lại nữa, nếu
biết nhàm chán những tham ái, ưa xả bỏ tham ái, nhưng cái ưa ấy vẩn là gốc của
tham ái, nên hiện tăng thượng (tăng thêm) thiện quả, đó đều là pháp hữu vi, nên
còn phải chịu luân hồi, chẳng thành thánh quả. Cho nên chúng sanh muốn giải
thoát sanh tử
luân hồi, trước tiên phải đoạn dứt tham dục và trừ bỏ ân
ái
.

Thiện nam tử!
Bồ Tát thị hiện đủ thứ biến hoá nơi thế gian chẳng từ cội gốc của tham ái, chỉ
dùng tâm từ bi giả làm tham dục để vào sanh tử khiến chúng sanh xả bỏ ân ái.
Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp chịu xả bỏ tham dục và trừ sạch yêu ghét thì
được dứt hẳn luân hồi, nơi tâm trong sạch, rồi cầu cảnh giới Viên Giác của Như Lai
mới được khai ngộ.

Thiện nam tử!
Tất cả chúng sanh do cội gốc tham dục phát khởi vô minh; sanh ra năm thứ chủng
tánh
khác nhau, vô minh nương theo hai thứ chướng mà hiển hiện sâu cạn.

Thế nào là hai
thứ chướng?

Một là
chướng
; làm chướng ngại chánh tri kiến; hai là sự chướng; do chướng này làm cho
sanh tử tương tục.

Lựơc giải:

Hai thứ
chướng: Pháp không sanh không diệt thuộc về pháp vô vi, gọi là Lý; tất cả pháp
do nhân duyên sanh khởi đều thuộc về pháp hữu vi, gọi là Sự.

Tự tánh
bất nhị chẳng có đối đãi, nên hữu vi vô vi đều tuyệt. Nếu kiến lập chơn lý thì
phải có sự hợp lý và bất hợp lý; hợp với bất hợp là nhị, chẳng phải bản thể bất
nhị
của tự tánh, nên nói Chướng Ngại Chánh Tri Kiến, gọi là lý chướng. Vì chánh
tri kiếntri kiến bất nhị, tức là chẳng lập tri kiến gì cả.

Sự là sự
tướng
thực hành, bất cứ thực hành đúng lý hay không đúng lý đều gọi là sự
chướng
. Tại sao? Nếu chấp thật đúng với chơn lý thì làm cho biến dịch sanh tử
tương tục; nếu thực hành không đúng lý thì làm cho phần đoạn sanh tử tương tục,
hai thứ sanh tử này cùng gọi là sanh tử tương tục.

Lược giải
hết.

Thiện nam tử!
Thế nào là năm thứ chủng tánh?

1. Phàm phu
chủng tánh: Nếu hai thứ chướng kể trên chưa được đoạn diệt thì gọi là chưa
thành Phật.

2. Nhị thừa
chủng tánh: Nếu những chúng sanh bỏ hẳn tham dục, đã trừ được sự chướng chưa
dứt lý chướng thì chỉ có thể ngộ nhập hàng Thanh Văn hay Duyên Giác, chưa thể
trụ nơi cảnh giới Bồ Tát.

3. Bồ Tát chủng
tánh
: Thiện nam tử! Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp muốn vào biển Đại Viên
Giác
của Như Lai, trước tiên phải phát nguyện siêng năng dứt trừ hai chướng, nếu
hai chướng đã hàng phục thì được ngộ nhập cảnh giới Bồ Tát. Nếu hai chướng dứt
hẳn thì được đến chỗ Đại Niết Bàn, Bồ Đề đầy đủ, thẳng vào Viên Giác vi diệu
của Như Lai.

4. Bất định
chủng tánh
: Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đều chứng Viên Giác, được gặp thiện
tri thức
, tùy nơi nhân địa tự tu pháp gì hạnh gì của mỗi thiện tri thức để dạy
bảo
môn đồ, người theo đó tu tập bèn có chủng tánh đốn tiệm khác nhau. Nếu gặp
đường lối tu đúng chánh hạnh, thẳng đến vô thượng Bồ Đề của Như Lai thì chẳng kể
căn cơ lớn nhỏ, đều thành quả Phật.

5. Ngoại đạo
chủng tánh: Nếu những chúng sanh muốn cầu chánh pháp mà lại gặp thầy bạn
kiến
thì tu hành chẳng được chánh ngộ, đây gọi là chủng tánh ngoại đạo, ấy là
lỗi của tà sư, chẳng phải lỗi của chúng sanh.

Những chủng
tánh
kể trên gọi chung là ngũ tánh sai biệt của chúng sanh.

Thiện nam tử!
Bồ Tát chỉ vì tâm đại bi, tùy sự phương tiện vào các cõi thế gian, khai thị cho
kẻ chưa ngộ, cho đến thị hiện đủ thứ hình tướng, tùy theo cảnh giới thuận nghịch
cộng sự với họ, giáo hoá cho đến thành Phật ấy đều nương theo nguyện lực trong
sạch
đã sẵn từ vô thỉ.

Nếu tất cả
chúng sanh đời mạt pháp khởi tâm tăng thượng nơi Đại Viên Giác, nên phát đại
nguyện
trong sạch của Bồ Tát rằng:

“Nay ta
phát nguyện trụ nơi Viên Giác của Phật, cầu thiện tri thức, chớ gặp ngoại đạo
nhị thừa, theo nguyện tu hành, các chướng dứt dần, chướng dứt sạch thì
nguyện thoả mãn, bước lên pháp điện trong sạch giải thoát, đến cõi diệu trang
nghiêm
, chứng Đại Viên Giác “.

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Di Lặc ngươi
nên biết,
Tất cả những chúng
sanh
,
Chẳng được đại
giải thoát,
Đều do tâm tham
dục
,
Sa đọa nơi sanh
tử
,
Nếu dứt được yêu
ghét,
độc tham sân
si
,
Chẳng kể tánh sai
biệt
,
Đều được thành
Phật
đạo.
Hai chướng tiêu
diệt
hẳn,
Cầu sư được chánh
ngộ.
Tùy thuận nguyện
Bồ Tát,
Y chỉ Đại Niết
Bàn
.
Tất cả các Bồ
Tát
,
Đều theo nguyện
đại bi,
Thị hiện vào sanh
tử
.
Người tu hành hiện
tại
,
chúng sanh mạt
pháp
,
Siêng dứt những ái
kiến
,
Bèn vào Đại Viên
Giác

Khi ấy Thanh
Tịnh Huệ Bồ Tát
ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhi­u quanh Phật ba
vòng, đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế
Tôn! Vì chúng con giảng rõ pháp bất tư nghì như thế, vốn là việc chưa từng thấy
nghe, nay chúng con nhờ Phật dạy dỗ khéo léo, được lợi ích lớn, cảm thấy thân
tâm
thư thái. Xin Phật vì tất cả pháp chúng ở đây giảng lại giác tánh viên mãn
của Pháp Vương: những sở chứng sở đắc của tất cả chúng sanh, Bồ TátNhư Lai
sai biệt như thế nào, khiến chúng sanh đi mạt pháp nghe thánh giáo này, tùy thuận
căn cơ tu theo thứ lớp mà được khai ngộ”.

Ngài Thanh Tịnh
Huệ Bồ Tát
nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp
hỏi Như Lai về pháp tu hành theo thứ lớp và sai biệt. Nay ngươi hãy lắng nghe,
ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy Thanh
Tịnh Huệ Bồ Tát
đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

-Thiện nam tử!
Tự tánh của Viên Giác vô sở trụ (phi tánh tánh hữu), chẳng trụ nơi Có và Không,
chỉ tùy theo tánh nhân duyên sanh khởi, chẳng thủ chẳng chứng. – trong thật tướng,
thật chẳng có Bồ Tát và những chúng sanh. Tại sao? Vì Bồ Tát chúng sanh đều là
huy­n hoá, nếu huy­n hoá diệt thì chẳng có kẻ thủ chứng. Ví như nhãn căn chẳng
tự thấy nhãn, pháp tánh vốn bình đẳng mà chẳng có kẻ bình đẳng.

Lược giải:

Tự tánh
của Viên Giác vô sở trụ (phi tánh tánh hữu): Nói Phi Tánh vì chẳng chấp tự tánh
là thật, tức là chẳng trụ nơi có; nói Tánh Hữu vì thánh phàm đều sẵn đầy đủ tức
là chẳng trụ nơi không.

(Lược giải
hết)

Chúng sanh
muội
, chưa thể diệt trừ tất cả huyễn hoá, lúc đang dụng công diệt trừ, muốn
diệt mà chưa diệt thì hiện ra sai biệt. Nếu được tùy thuận bản tánh tịch diệt
của Như Lai, rốt cuộc chẳng có sự tịch diệt và kẻ tịch diệt.

Thiện nam tử!
Tất cả chúng sanh tử vô thỉ đến nay, do mê giác tánh thành vọng tưởng, chấp
nhân ngũ uẩn là ngã, và ngã kiến kiên cố, thành kẻ ái luyến ngã mà chẳng tự
biết vọng tâm niệm niệm sanh diệt, chìm đắm ngũ dục nên sanh khởi lòng yêu
ghét.

Nếu gặp thầy
bạn tu chánh pháp giáo hoá, khiến cho khai ngộ giác tánh trong sạch tròn đầy,
được thấu rõ nguồn gốc của sự sanh diệt mới biết sanh này vốn vô sanh, thì tâm
trần
lao cũng là tự tánh vậy.

Lại nếu có
người dứt hẳn trần lao, được pháp giới trong sạch, ngay cái kiến giải trong
sạch
ấy tự làm chướng ngại cho mình, nên ở nơi Viên Giác chẳng được tự tại, đây
gọi là tùy thuận giác tánh của phàm phu.

Thiện nam tử!
Tất cả Bồ Tát do kiến giác chiếu soi, biết kiến giảichướng ngại, dù đoạn
được chướng ngại của kién giải (sở chiếu) nhưng kiến giác (năng chiếu) vẫn còn,
trụ nơi kiến giác cũng thành chướng ngại mà chẳng thể tự tại, đây gọi là tùy
thuận
giác tánh của những Bồ Tát chưa vào sơ địa.

Thiện nam tử!
Có chiếu soi có kiến giác đều gọi là chướng ngại, cho nên thường giác của Bồ
Tát
chẳng trụ năng sở, năng chiếu và sở chiếu đồng thời tịch diệt. Ví như
ngưi tự chặt đầu mình, khi đầu đã chặt đứt thì chẳng còn kẻ năng chặt. Vậy dùng
tâm chướng ngại tự diệt các chướng ngại, nếu chướng ngại đã đoạn diệt thì chẳng
có kẻ năng diệt chướng ngại.

Kinh giác liễu
nghĩa
của Phật như ngón tay chỉ mặt trăng, nếu thấy được mặt trăng thì biết
ngón tay chẳng phải mặt trăng, đủ thứ ngôn thuyết của tất cả Như Lai để khai thị
cho Bồ Tát cũng là như thế, đây gọi là tùy thuận giác tánh của những Bồ Tát đã
vào sơ địa.

Thiện nam tử!
Tất cả chướng ngại cũng là cứu cánh giác, đắc niệm thất niệm đều là giải thoát;
pháp thành tựu, pháp phá hoại đều gọi là Niết Bàn; trí huệ, ngu si cùng là Bát
Nhã
, pháp thành tựu của Bồ Tátngoại đạo đồng là Bồ Đề; vô minh với Chơn Như
cảnh giới chẳng khác, những giới định huệtham sân si đều là thanh tịnh
hạnh, cõi chúng sanhcõi Phật đồng một pháp tánh, địa ngục, thiên cung đều
tịnh độ, hữu tánh vô tánh cùng nhau thành Phật, tất cả phiền não tức giải
thoát
. Dùng trí huệ biển giác chiếu soi các tướng trong pháp giới đều như
không
bình đẳng bất nhị, đây gọi là tùy thuận giác tánh của Như Lai.

Thiện nam tử!
Những Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp phải an trụ tâm như thế này: Bất cứ lúc
nào chẳng khởi vọng niệm, đối với vọng tâm cũng chẳng dừng nghỉ và diệt trừ,
nơi cảnh vọng tưởng không cho liễu tri, đối với sự không li­u tri cũng chẳng
phân biệtthật không liễu tri.

Lược giải:

Bất cứ
lúc nào chẳng khởi vọng niệm tức là vô niệm; đối với vọng tâm cũng chẳng dừng
nghỉ và diệt trừ tức là chẳng diệt vọng; nơi cảnh vọng tưởng không cho liễu tri
tức là chẳng cho chấp thật có vọng; đối với sự không liễu tri cũng chẳng phân
biệt
thật không liễu tri tức là chẳng cho chấp thật không có vọng. Tu theo
như
vậy tức là giữ được chánh niệm cũng gọi là an trụ tâm vậy.

(Lược giải
hết.)

Nếu những chúng
sanh
đối với pháp môn khó tin khó hieu khó trì (khó thực hành) này, nghe rồi mà
chẳng sanh tâm kinh ngạc và khiếp sợ, ấy gọi là tùy thuận giác tánh.

Thiện nam tử!
Các ngươi nên biết, những chúng sanh này đã từng cúng dường trăm ngàn muôn ức
hằng sa chư Phật và Đại Bồ Tát, gieo trồng nhiều phước đức thiện căn, nên Phật nói
người ấy gọi là thành tựu nhất thiết chủng trí (quyết định sẽ thành Phật
).

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Thanh Tịnh Huệ
nên biết,
Tánh Bồ Đề viên
mãn.
Chẳng thủ cũng
chẳng chứng,
Chẳng Bồ Tát chúng
sanh
.
Khi muốn giác chưa
giác,
Có thứ lớp sai
biệt
.
Chúng sanh bị giải
( kiến giải) chướng,
Bồ tát chưa lìa
giác.
Vào Thập Địa tịch
diệt
,
Chẳng trụ tất cả
tướng.
Đại giác đều viên
mãn
,
Gọi tùy thuận cùng
khắp.
Chúng sanh đời mạt
pháp
,
Tâm chẳng sanh
vọng
.
Phật nói người như
thế,
Hiện đời tức Bồ
Tát
.
Cúng dường hằng sa
Phật,
Công đức đã đầy
đủ.
Dù có nhiều phương
tiện
,
Đều gọi tùy thuận
trí (giác tánh).

Khi ấy Oai Đức
Tự Tại Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba
vòng, đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

Đại bi Thế Tôn!
Đã vì chúng con giảng rõ tùy thuận giác tánh như thế, khiến cho những Bồ Tát
nghe lời Phật dạy giác tâm sáng tỏ, chẳng nhờ tu tập mà được lợi ích lớn.

Bạch Thế Tôn!
Ví như thành phố lớn có bốn cửa thành, người vào thành từ mọi phương đến chẳng
đi cùng một đường, tất cả Bồ Tát trang nghiêm cõi Phậtthành quả Bồ Đề cũng
chẳng thực hành theo một phương tiện duy nhất. Xin Thế Tôn vì chúng con giảng
rõ tất cả phương tiện thứ lớp và người tu hành gồm có mấy loại? Khiến Bồ Tát
trong hội và chúng sanh đời mạt pháp, kẻ cầu đại thừa mau được khai ngộ, vào
biển Đại Tịch DIệt của Như Lai.

Ngài Oai Đức Tự
Tại Bồ Tát
nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như
vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Oai Đức Tự Tại Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp,
hỏi Như Lai về những phương tiện như thế, nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì
ngươi mà thuyết.

Khi ấy Oai Đức
Tự Tại Bồ Tátđại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

-Thiện nam tử!
Vô thượng diệu giác cùng khắp mười phương không gianthời gian, sanh ra Như
Lai
và tất cả pháp, bản thể đồng nhau, bình đẳng bất nhị, nên những người tu
hành
thật chẳng có hai. Nếu tùy thuận phương tiện thì số ấy vô lượng, nay qui
nạp lại, theo các tánh sai biệt phải có ba thứ.

1. Thiện nam
tử! Nếu các Bồ Tát ngộ biết Viên Giác vốn trong sạch, dùng giác tâm trong sạch
ấy phát khởi quán chiếu, lấy tịnh làm hạnh quán tâm thể chẳng động. Do lắng
lặng các niệm, vọng tưởng ngừng nghỉ thì thấy tướng nhập khí sanh diệt trong
thức thứ tám, quán lâu thì tịnh huệ sanh khởi, bỗng thấy khách trần lăng xăng
của thân tâm từ nay diệt hẳn, trong tâm liền cảm thấy tịch tịnh khinh an. Vì
tâm được tịch tịnh nên thấy tâm của Như Lai trong mười phương thế giới đều hiển
hiện
trong đó như hình tượng hiện trong gương, phương tiện này gọi là thiền
quán
Sa Ma Tha.

2. Thiện nam
tử! Nếu các Bồ Tát ngộ biết Viên Giác vốn trong sạch, dùng giác tâm trong sạch
ấy phát khởi quán chiếu, biết tánh của giác tâmcăn trần đều do huy­n hoá mà
sanh khởi các huyễn, nay dùng huyễn trí (thỉ giác) diệt trừ kẻ huyễn (vô minh),
thì hiện thân biến hoá như huy­n, khai phá vô minh để độ chúng huy­n. Do huyễn
thân
hoá độ chúng sanh mà chẳng chấp tướng chúng sanh nên trong tâm cảm thấy đại
bi
khinh an. Tất cả Bồ Tát từ đây khởi hạnh theo thứ lớp tiến lên, cái huyễn
của trí năng quán kia chẳng đồng với cái huyễn của cảnh sở quán. Trí năng quán
tuy chẳng đồng với cảnh sở quán, nhưng cũng là huyễn, vì sở diệt mà năng còn;
nếu chấp năng quán vẫn chưa lìa huy­n, vì năng quán sở quánđều là huyễn, chẳng
đồng với kẻ chấp thật có người để lìa hai thứ huyễn (năng sở). Sở quán đã diệt
thì năng quán cũng tiêu, cảnh trí đều tuyệt, vậy mới được lìa hẳn tướng
huyễn.

Những Bồ Tát
này tu theo chánh hạnh ke trên thì được diệu hạnh viên mãn, cũng như mầm Chơn
Như
trưởng thành nơi đất pháp thân. Phương tiện này gọi là thiền quán Tam Ma
Bát Đề.

3. Thiện nam
tử! Nếu các Bồ Tát ngộ biết Viên Giác vốn trong sạch, dùng giác tâm trong sạch
ấy phát khởi quán chiếu, chẳng chấp huyễn hoá và tướng tịnh, liễu tri thân tâm đều
chướng ngại, nay chẳng chấp giác minh (giác minh là cội gốc của vô minh)
chẳng ke chướng ngại, thì được diệt hẳn cảnh ngại và vô ngại. Sự thọ dụng tâm
thế giới là tướng phiền não, Niết Bàn ở nơi phiền não của cõi trần cũng như âm
thanh
ở nơi chuông trống, chuông trống dù nhỏ hẹp, nhưng âm thanh vượt ra ngoài
xa, chẳng bị khuôn khổ của chuông trống chướng ngại. Như thế Niết Bàn vượt ra
ngoài tướng phiền não, cùng khắp pháp giới, cũng chẳng bị phiền não chướng ngại
vậy. Tu theo thiền quán kể trên thì trong tâm được tịch diệt khinh an, tùy
thuận
cảnh giới tịch diệt của diệu giác thì thấy bốn tướng ngã (tự), nhơn
(tha), chúng sanh, thọ mạng đều là vọng tưởng trôi nổi, tất cả thân tâm đều
chẳng thể đến chỗ diệu giác. Phương tiện này gọi là Thiền Na.

-Thiện nam tử!
Ba thứ pháp môn này đều là Viên Giác, vì mười phương Như Lai tu hành nơi nhân
địa
được thân cận tùy thuộc ba môn này, nên do đó thành Phật.

Đủ thứ phương
tiện
và tất cả đồng dị của mười phương Bồ Tát đều tu hành theo ba thứ pháp môn
kể trên mà viên mãn chứng nhập, thành quả Viên Giác.

Thiện nam tử!
Giả sử có người tu hành thánh đạo, giáo hoá chúng sanh, thành tựu trăm ngàn
muôn ức quả A La HánBích Chi Phật, chẳng bằng người nghe pháp môn vô ngại
của Viên Giác này mà tùy thuận tu tập trong một sát na (pháp môn Viên Giác
chánh nhân thành Phật, nên hơn quả nhiều quả chứng của nhị thừa).

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Oai Đức ngươi
nên biết,
Vô thượng đại giác
tâm.
Bản thể vốn bất
nhị
.
Nếu tùy thuận
phương tiện,
Thì số ấy
lượng
.
Như Lai qui nạp
lại,
Thành có ba pháp
môn
.
Sa Ma Tha tịch
tịch,
Như gương soi các
tướng.
Tam Ma Đề huyễn
hoá
,
Như mầm tăng
trưởng
dần.
Thiền Na tướng
tịch diệt,
Như tiếng trong
chuông trống.
Ba thứ diệu pháp
môn,
Đều tùy thuận Viên
Giác
.
Mười phương chư
Như Lai,
Và các Đại Bồ
Tát
,
Do đó được thành
đạo
.
Ba môn chứng rốt
ráo
,
Gọi cứu cánh Niết
Bàn

Khi ấy Biện Âm
Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhi­u quanh Phật ba vòng,
đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế
Tôn! Pháp môn này thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn! Theo những phương tiện ấy, tất
cả Bồ Tát muốn vào cửa Viên Giác phải có mấy thứ tu tập? Xin Phật vì đại chúng trong
hội và chúng sanh đời mạt pháp dùng phương tiện khi thị, khiến ngộ nhập thật
tướng
.

Ngài Biện Âm Bồ
Tát
nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Biện Âm Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì đại chúngchúng sanh đời mạt pháp hỏi
Như Lai về sự tu tập như thế, Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà
thuyết.

Khi ấy Biện Âm
Bồ Tátđại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

-Thiện nam tử!
Tất cả Như Lai Viên Giác trong sạch, vốn chẳng có sự tu tập và kẻ tu tập. Tất
cả Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp nương theo tâm chưa giác, dùng huyễn lực
tu tập, khi ấy thì có hai mươi lăm thứ định luân trong sạch:

1. Nếu những Bồ
Tát
tu pháp cực tịnh, do sức tịnh được dứt hẳn phiền não, thành tựu rốt ráo nên
chẳng rời chỗ ngồi liền vào Niết Bàn, Bồ Tát này gọi là chuyên tu thiền quán Sa
Ma Tha
.

2. Nếu những Bồ
Tát
tu pháp quán như huy­n, dùng sức Phật tánh biến hoá thế giới và đủ thứ tác
dụng
để thực hành diệu hạnh trong sạch của Bồ Tát, nơi pháp tổng trì chẳng lạc
mất tịch niệm và tịch huệ, Bồ Tát này gọi là chuyên tu thiền quán Tam Ma Bát
Đề.

3. Nếu những Bồ
Tát
chuyên diệt các huyễn, chẳng cần tác dụng mà tự dứt phiền não. Khi phiền
não
dứt sạch, liền chứng thật tướng, Bồ Tát này gọi là chuyên tu thiền quán Thiền
Na
.

4. Nếu những Bồ
Tát
trước tu cực tịnh dùng huệ tâm của tịnh để chiếu soi kẻ huy­n (vô minh),
liền ở trong đó khởi hạnh Bồ Tát. Bồ Tát này gọi là trước tu thiền quán Sa Ma
Tha
, sau tu thiền quán Tam Ma Bát Đề.

5. Nếu những Bồ
Tát
tu theo tịnh huệ, chứng được tánh cực tịnh, liền dứt phiền não, lìa hẳn
sanh tử, Bồ Tát này gọi là trước tu thiền quán Sa Ma Tha, sau tu thiền quán
Thiền
Na.

6. Nếu những Bồ
Tát
tu theo huệ tịch tịnh, lại hiện sức huy­n hoá biến hiện đủ thứ thân tướng
để độ chúng sanh, sau mới dứt phiền nãonhập tịch diệt, Bồ Tát này gọi là
trước tu Sa Ma Tha, giữa tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Thiền Na.

7. Nếu những Bồ
Tát
dùng sức cực tịnh, dứt phiền não rồi sau mới hành diệu hạnh trong sạch của
Bồ Tát để độ chúng sanh, Bồ Tát này gọi là trước tu Sa Ma Tha, giữa tu Thiền
Na, sau tu Tam Ma Bát Đề.

8. Nếu những Bồ
Tát
dùng sức cực tịnh, tâm dứt phiền não rồi lại độ chúng sanh, kiến lập thế
giới
, Bồ Tát này gọi là trước Sa Ma Tha, sau đồng thi tu hai thiền quán Tam Ma
Bát Đề và Thiền Na.

9. Nếu những Bồ
Tát
dùng sức cực tịnh để sanh khởi biến hoá, sau mới dứt phiền não, Bồ Tát này
gọi là trước đồng thi tu hai thiền quán Sa Ma ThaTam Ma Bát Đề, sau tu
Thiền
Na.

10. Nếu những
Bồ Tát dùng sức cực tịnh để đưa đến tịch diệt, sau lại khởi tác dụng biến hoá
thế giới, Bồ Tát này gọi là đồng thờ i tu hai thiền quán Sa Ma ThaThiền Na,
sau tu Tam Ma Bát Đề.

11. Nếu những
Bồ Tát dùng sức biến hoá tùy thuận đủ thứ cho đến cực tịnh, Bồ Tát này gọi là
trước tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Sa Ma Tha.

12. Nếu những
Bồ Tát dùng sức biến hoá biến hiện đủ thứ cảnh giới mới đến tịch diệt, Bồ Tát
này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Thiền Na.

13. Nếu những
Bồ Tát dùng sức biến hoá để làm Phật sự, an trụ tâm nơi tịch tịch mà dứt phiền
não
, Bồ Tát này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, giữa tu Sa Ma Tha, sau tu Thiền
Na.

14. Nếu những
Bồ Tát dùng sức biến hoá tác dụng vô ngại dứt phiền não, an trụ tâm nơi cực
tịnh
, Bồ Tát này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, giữa tu Thiền Na, sau tu Sa Ma
Tha
.

15. Nếu những
Bồ Tát dùng sức biến hoá tác dụng phương tiện để tùy thuận hai thiền quán cực
tịnh
tịch diệt, Bồ Tát này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, sau tu hai thiền quán
Sa Ma ThaThiền Na.

16. Nếu những
Bồ Tát dùng sức biến hoá sanh đủ thứ dụng để đến cực tịnh, sau mới dứt phiền
não
, Bồ Tát này gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Tam Ma Bát Đề và Sa Ma
Tha
, sau tu Thiền Na.

17. Nếu những
Bồ Tát dùng sức biến hoá để đưa đến tịch diệt, sau an trụ nơi tịnh lự trong
sạch
vô tác, Bồ Tát này gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Tam Ma Bát Đề
Thiền Na, sau tu Sa Ma Tha.

18. Nếu những
Bồ Tát dùng sức tịch diệtsanh khởi cực tịnh, trụ nơi thanh tịnh, Bồ tát này
gọi là trước Thiền Na, sau tu Sa Ma Tha.

19. Nếu những
Bồ Tát dùng sức tịch diệtsanh khởi tác dụng, tùy thuận công dụng tịch chiếu
để chiếu soi tất cả cảnh, Bồ Tát này gọi là trước Thiền Na, sau tu Tam Ma Bát
Đề.

20. Nếu những
Bồ Tát dùng sức tịch diệt tùy đủ thứ tánh an trụ nơi tịnh lựsanh khởi biến
hoá
, Bồ Tát này gọi là trước tu Thiền Na, giữa tu Sa Ma Tha, sau tu Tam Ma Bát
Đề.

21. Nếu những
Bồ Tát dùng sức tịch diệttự tánh vô tác nơi cảnh giới trong sạch sanh khởi
tác dụng rồi trở về tịnh lự, Bồ Tát này gọi là trước tu Thiền Na, giữa tu Tam
Ma
Bát Đề, sau tu Sa Ma Tha.

22. Nếu những
Bồ Tát dùng sức tịch diệt mỗi mỗi thanh tịnh trụ nơi tịnh lựsanh khởi biến
hoá
, Bồ Tát này gọi là trước tu Thiền Na, sau đồng thời tu hai thiền quán Sa Ma
Tha
Tam Ma Bát Đề.

23. Nếu những
Bồ Tát dùng sức tịch diệt để đưa đến cực tịnhsanh khởi biến hóa, Bồ Tát này
gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Thiền NaSa Ma Tha, sau tu Tam Ma
Bát Đề.

24. Nếu những
Bồ Tát dùng sức tịch diệt sanh khởi biến hoá, đưa đến cảnh huệ trong sạch sáng
tỏ
của cực tịnh, Bồ tát này gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Thiền Na
Tam Ma Bát Đề, sau tu Sa Ma Tha.

25. Nếu những
Bồ Tát dùng trí huệ Viên Giác chiếu soi, đầy khắp tất cả các tánh các tướng mà
chẳng lìa giác tánh, Bồ Tát này gọi là tùy thuận vốn trong sạch của tự tánh
viên tu ba thứ quán.

Thiện nam tử!
Những thiền quán kể trên gọi chung là hai mươi lăm định luân của Bồ Tát, tất cả
Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp nếu tu theo định luân này nên thực hành như
thế: phải trì phạm hạnh (thực hành thanh tịnh hạnh), im lặng quán tưởng thiết
tha cầu sám hối trải qua hai mươi mốt ngày, ở nơi hai mươi lăm định luân, mỗi
mỗi đều ghi dấu cho rõ ràng rồi thành tâm khẩn cầu, rồi tùy tay lấy một dấu
hiệu, y theo dấu hiệu đã ghi liền biết rõ các pháp đốn tiệm, pháp nào thích hợp
với mình, nếu có một niệm nghi hoặc thì chẳng thể thành tựu.

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Biện Âm ngươi
nên biết,
Tất cả các Bồ
Tát
,
Huệ trong sạch
ngại
.
Đều nương thiền
định
sanh,
Gọi là Sa Ma
Tha
.
Tam Ma Đề, Thiền
Na
.
Theo ba pháp đốn
tiệm
,
Có hai mươi lăm
thứ.
Mười phương chư
Như Lai,
Tất cà người tu
hành
,
Đều do tu pháp
này,
Mà được thành Bồ
Đề
.
Chỉ trừ kẻ đốn ngộ
(kẻ tham Tổ Sư Thiền)
Và Xin Đề chẳng
tin (kẻ chẳng tin Phật pháp).
Tất cả các Bồ
Tát
,
chúng sanh mạt
pháp
,
Thường nên giữ
luân này.
Tùy thuận siêng tu
tập
.
Theo sức đại bi
Phật,
Chẳng lâu chứng
Niết Bàn.

Khi ấy Tịnh Chư
Nghiệp Chướng
Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu quanh Phật
ba vòng, đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế Tôn
đã vì chúng con giảng rõ những hành tướng bất khả tư nghì nơi nhân địa của tất
cả Như Lai, khiến đại chúng được pháp chưa từng có, thấy những cảnh giới siêng năng
khổ tu đã trải qua hằng sa kiếp của Phật, ví như trong một niệm sát na thấy đủ
tất cả công dụng của Như Lai, bậc Bồ Tát như chúng con thật tự cảm thấy hân
hạnh
biết bao!

-Bạch Thế Tôn!
Nếu giác tâm này bản tánh trong sạch, vì sao lại bị ô nhiễm, khiến những chúng
sanh
mê muội chẳng thể ngộ nhập? Xin Như Lai vì chúng con khai thị pháp tánh,
để làm đạo nhãn cho tương lai, khiến đại chúng trong hội này và chúng sanh đời
mạt pháp dễ được ngộ nhập.

Ngài Tịnh Chư
Nghiệp Chướng
Bồ Tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần
như vậy.

Bấy giờ Thế Tôn
bảo Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát rằng:

-Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp
hỏi Như Lai về những phương tiện như thế, Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì
ngươi mà thuyết.

Khi ấy Tịnh Chư
Nghiệp Chướng
Bồ Tátđại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng
nghe.

-Thiện nam tử!
Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay vọng chấp thật có bốn tướng ngã, nhơn,
chúng sanhthọ mạng, nhận lầm bốn tướng điên đảo này là thật thể của mình,
do đó liền sanh hai cảnh yêu ghét, vậy nơi thể hư vọng lại chấp thêm một lớp
vọng
nữa. Hai thứ vọng nương nhau sanh ra vọng nghiệp, vì có vọng nghiệp nên
vọng thấy có luân hồi; kẻ nhàm chán luân hồi lại vọng thấy có Niết Bàn, do sự
chấp thật ngã tướng này nên chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch. Chẳng phải
bản giác chống cự với những kẻ năng nhập, vì có kẻ năng nhập (ngã tướng) thì
chẳng phải bản giác vậy. Cho nên động niệm và dứt niệm đều thuộc về mê muội.Tại
sao? Vì có bổn khởi vô minh đã làm chủ cho mình từ vô thỉ rất khó đoạn trừ, phải
huệ nhãn mới trừ được. Vì tất cả chúng sanh sanh ra chẳng có huệ nhãn, hiện
tiền
các tánh thân tâm đều là vô minh, vô minh chẳng thể dứt vô minh, cũng như
người có sinh mạng, sinh mạng chẳng thể tự dứt sinh mạng vậy.

Vậy ngươi nên
biết, có người yêu ta tùy thuận với ta thì tâm sanh hoan hỷ, người chẳng tùy
thuận
thì liền sanh oán ghét. Có tâm yêu ghét để nuôi dưỡng vô minh làm cho
minh
tương tục mãi, nên cầu đạo chẳng thể thành tựu.

Thiện nam tử!
Thế nào là ngã tướng? Những chúng sanh tu hành, tâm biết có sở chứng đều thuộc
về ngã tướng.

Thiện nam tử!
Ví như có người cơ thể điều hoà thư thái, tay chân thư giãn, bỗng quên mất thân
ta, vì ăn uống thất thường sanh ra bệnh hoạn, nhờ thầy thuốc châm cứu thấy đau
mới biết có ta còn đây, cho nên người chấp có sở chứng mới hiện ra ngã
tướng
.

Thiện nam tử!
Nếu tâm liễu tri rốt ráo biết có sở chứng, dù chứng đến thanh tịnh Niết Bàn của
Như Lai đều thuộc về ngã tướng.

Thiện nam tử!
Thế nào là nhơn tướng? Như những chúng sanh tâm có sở chứng, cho kẻ năng chứng
là ta, nay tiến thêm một bậc, ngộ biết chứng chẳng phải ta, ngộ này siêu việt tất
cả chứng, nhưng còn giữ tâm năng ngộ tức là nhơn tướng.

Thiện nam tử!
Những tâm biết có năng sở đều thuộc về ngã, tâm dù chỉ còn chút năng ngộ để
chứng lý cùng tột của Niết Bàn đều gọi là nhơn tướng.

Thiện nam tử!
Thế nào là chúng sanh tướng? Chỗ này là những chúng sanh có tâm biết năng chứng
năng ngộ đều chẳng thể đến.

Thiện nam tử!
Ví như có người nói rằng: Ta Là Chúng Sanh, thì biết kẻ nói chúng sanh kia
chẳng phải ta cũng chẳng phải ngươi. Sao nói chẳng phải ta? Vì Ta Là Chúng Sanh
thì chẳng phải ta, sao nói chẳng phải ngươi? Vì nói Ta Là Chúng Sanh thì chẳng phải
ngươi cũng chẳng phải ta vậy.

Lựơc giải:

Nói Ta Là
Chúng Sanhchúng sanh là nhiều người nhiều loài. Nay nói Ta chỉ có một mình
ta thì chúng sanh chẳng phải ta; nói Ngươi cũng vậy, chỉ một mình ngươi chẳng
phải nhiều chúng sanh, nên nói Ta Là Chúng Sanh thì chẳng phải ngươi cũng chẳng
phải ta vậy.

(Lược giải
hết.)

Thiện nam tử!
Nếu những chúng sanh có tâm biết năng chứng năng ngộ đều là ngã tướng nhơn
tướng. Nay tiến thêm một bậc, liễu tri chỗ này là ngã tướng nhơn tướng chẳng
thể đến, nhưng còn có sở liễu tri, biết có năng chứng năng ngộ để lìa, nên gọi
chúng sanh tướng.

Thiện nam tử!
Thế nào là thọ mạng tướng? Những chúng sanh nay tiến thêm một bậc nữa, tâm quán
chiếu sáng tỏ chiếu soi tâm liễu tri cũng bất khả đắc, chỉ còn một giác thể trong
sạch
; giác thể này tất cả nghiệp trí trong luân hồi đều chẳng thể tự thấy được,
cũng như con mắt chẳng tự thấy mắt, tất cả tịch diệt. Vì trụ nơi tịch diệt thì
mạng căn chưa dứt, nên gọi là thọ mạng tướng.

Thiện nam tử!
Nếu ta chiếu soi thấy tất cả người giác tri là cấu bẩn của trần lao. Có năng
giác sở giác là chẳng lìa được trần lao. Ví như canh làm tan băng, canh là năng
tan, băng là sở tan; khi băng đã tan thì canh và băng đều thành nước, năng tan
(canh) sở tan (băng) đều diệt, nếu còn có ke biết băng tan thì còn cái năng
biết, cái biết đó là ngã. Nói “còn thọ mạng tướng” thì nghĩa cũng như
vậy.

Thiện nam tử!
chúng sanh đời mạt pháp chẳng rõ bốn tướng không thật, dù trải qua nhiều kiếp
siêng năng khổ hạnh tu hành, chỉ gọi là pháp hữu vi, rốt cuộc cũng chẳng thể
thành tựu tất cả thánh quả (pháp vô vi), cho nên gọi là “Chánh pháp trong
đời
mạt pháp”. Tại sao? Vì lầm nhận tất cả ngã tướng cho là tướng Niết
Bàn
; cho có chứng có ngộ mới gọi là thành tựu. Cũng như có người nhận giặc làm
con thì tài sản nhà họ chẳng thể thành tựu. Tại sao? Như có người ái luyến ngã,
cũng ái luyến Niết Bàn, đè nén gốc ái luyến ngã trở thành tướng Niết Bàn; có
người chán ngã, cũng chán sanh tử, chẳng biết gốc ái luyến ấy mới thật là chơn
sanh tử vậy. Nay có tâm nhàm chán sanh tử, nên gọi là chẳng giải thoát.

Tại sao biết
được pháp ấy chẳng giải thoát?

Thiện nam tử!
Chúng sanh đời mạt pháp tu tập Bồ Đề, cho sự chứng của mình là tự trong sạch,
chứng được chút ít cho là đủ, chưa dứt sạch cội gốc của ngã tướng nên chẳng giải
thoát
. Nếu có người tán thán pháp mình thì liền sanh tâm hoan hỷ, muốn cứu độ
họ; nếu phỉ báng pháp sở đắc của mình thì liền sanh tâm sân hận. Vậy thì biết
cái tâm chấp ngã tướng rất kiên có, tiềm ẩn trong tạng thức, gặp ngoại cảnh
kích thích thì phát khởi hiện hành nơi các căn, mãi chẳng gián đoạn.

Thiện nam tử!
Người tu hành vì chẳng dứt sạch ngã tướng nên chẳng thể ngộ nhập bản giác trong
sạch
.

Thiện nam tử!
Nếu biết ngã tướng vốn không, thì chẳng có cái bản ngã để cho họ tán thán
phỉ báng; nay thấy “có ta thuyết pháp” thì ngã tướng chưa dứt, nhơn
tướng, chúng sanh tướng, thọ mạng tướng đều cũng như thế.

Thiện nam tử!
Chúng sanh đời mạt pháp vì chưa dứt ngã tướng, cho sự thuyết pháp là “do
ta thuyết”, nên pháp của họ thuyết là thuyết cái bệnh của ngã tướng, chẳng
phải thuyết cái pháp của Niết Bàn vậy, cho nên gọi là kẻ đáng thương xót! Dù
siêng năng tinh tấn, chỉ tăng thêm các pháp của bệnh, nên chẳng thể ngộ nhập
bản giác trong sạch.

Thiện nam tử!
Chúng sanh đời mạt pháp vì chẳng thấu rõ bốn tướng kể trên, chấp chỗ hành và
kiến giải của Như Lai cho là kiến giải của mình, vì chẳng phải do tự mình tu
chứng
, nên rốt cuộc chẳng thể thành tựu. Hoặc có chúng sanh chưa đắc nói đắc,
chưa chứng nói chứng, thấy người hơn ta thì sanh tâm ganh tỵ, ấy là do chúng
sanh
đó chưa dứt ngã kiến, nên chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.

Thiện nam tử!
chúng sanh đời mạt pháp muốn tu thành đạo, chớ nên sanh tâm cầu ngộ; người sanh
tâm cầu ngộ thì muốn học rộng nghe nhiều để hiểu thêm giáo lý, vậy chỉ thêm đa
văn
, tăng trưởng ngã kiến, chẳng phảingười chơn tu.

Người chơn tu
chỉ nên tinh tấn hàng phục phiền não, khởi tâm đại dũng mãnh; Niết Bàn chưa đắc
khiến cho đắc, phiền não chưa dứt khiến cho dứt, những tâm tham sân si mạn,
xiem khúc ganh tỵ đối cảnh chẳng sanh, ân ái giữa mình và người tất cả đều tịch
diệt
, Phật nói người ấy sẽ dần dần thành tựu thánh quả. Nương theo nhân địa này
tu hành để cầu thiện tri thức thì chẳng đoạ tà kiến, nếu có sở cầu khác với
nhân địa phát tâm kể trên, lại sanh lòng yêu ghét thì chẳng thể ngộ nhập biển
giác trong sạch.

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Tịnh Nghiệp
Chướng nên biết,
Tất cả những chúng
sanh
.
Đều do chấp ngã
tướng,
Luân hồi từ vô
thỉ.
Chưa dứt sạch bốn
tướng,
Chẳng được thành
Bồ Đề.
Yêu ghét sanh nơi
tâm,
Xi­m khúc giữ
trong niệm.
Cho nên bị
muội
,
Chẳng thể vào Giác
Thành
.
Nếu muốn về cõi
Phật
,
Phải bỏ tham sân
si
.
Tâm chẳng ái luyến
pháp (pháp Niết Bàn),
Dần dần được thành
tựu
.
Thân ta vốn chẳng
có,
Yêu ghét do đâu
sanh?
Cầu thầy bạn chánh
tu,
Thì chẳng đọa
kiến
.
Nếu tâm cầu pháp
khác,
Rốt cuộc chẳng
thành tựu

Khi ấy Phổ Giác
Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng,
đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế
Tôn! Đã thuyết rõ những thiền bệnh, khiến đại chúng trong hội được pháp chưa
từng có, tẩy sạch nghi ngờ trong tâm ý, được đại yên ổn.

Bạch Thế Tôn! chúng
sanh
đời mạt pháp xa dần đời Phật, bậc thánh hiền ẩn dật, tà pháp lại thịnh
thêm. Vậy chúng sanh muốn tu hành phải cầu người thế nào, nương theo pháp nào, hành
theo hạnh nào, trừ bỏ bệnh gì, phát tâm như thế nào khiến cho chúng sanh
muội
khỏi đoạ tà kiến?

Ngài Phổ Giác
Bồ Tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Phổ Giác Bồ Tát rằng:

Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo hỏi Như Lai về sự tu hành như thế, hay bố
thí
đạo nhãn vô úy cho tất cả chúng sanh đời mạt pháp, khiến chúng sanh được
thành thánh đạo. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Khi ấy Phổ Giác
Bồ Tát và tất cả đại chúng trong hội hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng
nghe.

-Thiện nam tử!
chúng sanh đời mạt pháp ngươi muốn tu hành nên phát đại tâm cầu thiện tri thức,
tức là phải cầu người có chánh tri kiến, chẳng chấp cảnh giới Thanh Văn Duyên
Giác
, tâm chẳng trụ tướng, dù hiện trần lao, tâm thường trong sạch, thị hiện
lỗi mà tán thán phạm hạnh (thanh tịnh hạnh), khiến chúng sanh thường giữ giới
luật, cầu người như thế mới được thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Chúng sanh đời mạt pháp gặp người như thế nên chẳng tiếc thân mạngphụng sự
cúng dường . Thấy những thiện tri thức trong tứ oai nghi thường hiện các hạnh
trong sạch ấy là thuận độ; hoặc gặp Bồ Tát nghịch độ, thị hiện đủ thứ tội lỗi
mà tâm chẳng kiêu mạn, dù cho Bồ Tát ấy có vợ con quyến thuộc, giữ lấy tiền tài
cũng chẳng sanh tâm khinh bỉ. Nếu Thiện nam tử đối với các thầy bạn kể trên
chẳng khởi ác niệm thì được đến chỗ rốt ráo thành tựu Chánh Giác, nên bản tâm
sáng tỏ chiếu khắp mười phương cõi Phật.

Thiện nam tử!
Diệu pháp sở chứng của thiện tri thức ấy nên lìa bốn bệnh. Thế nào là bốn
bệnh:

-Một là Tác
bệnh
: Nếu có người nói rằng nơi bản tâm ta tác đủ thứ hạnh để cầu Viên Giác,
nhưng tánh của Viên Giác chẳng do tác mà cầu được, nên gọi là bệnh.

-Hai là Nhậm
bệnh
(bệnh mặc kệ): Nếu có người nói rằng nay ta chẳng dứt sanh tử, chẳng cầu
Niết Bàn, đối với sanh tử Niết Bàn chẳng có một niệm khởi hay diệt, mặc kệ (nhậm)
tất cả, đều tùy pháp tánh. Mặc kệ như thế mà muốn cầu Viên Giác, nhưng tánh của
Viên Giác chẳng do nhậm mà có, nên gọi là bệnh.

-Ba là Chỉ bệnh
(bệnh dừng lại): Nếu có người nói rằng nay tự tâm ta dừng hẳn các niệm, cho tất
cả tánh đều tịch nhiên bình đẳng, vậy muốn nhờ Chỉ (dùng) niệm để cầu Viên
Giác
, nhưng tánh Viên Giác ấy hợp với Chỉ, nên gọi là bệnh.

-Bốn là Diệt
bệnh
: Nếu có người nói rằng nay ta dứt hẳn tất cả phiền não, thân tâm rốt ráo
rỗng không chẳng có gì cả, huống là cảnh giới hư vọng, căn trần tất cả diệt hẳn
để cầu Viên Giác. Nhưng tánh Viên Giác ấy chẳng phải tướng diệt, nên gọi là
bệnh.

Người đã lìa
bốn bệnh thì bản tri trong sạch, theo quán chiếu này gọi là chánh quán, nếu theo
quán chiếu khác gọi là tà quán.

Lược giải:

Tác-Chỉ-Nhậm-Diệt

Diệu tánh
của Viên Giác vốn chẳng thuộc nơi tác, chỉ, nhậm, diệt, nên lìa bốn bệnh này
thì tự tánh tròn đầy sáng tỏ, vốn chẳng thiếu sót, gọi là trong sạch. Nay dù
nói là bệnh, nhưng đối với người chưa ngộ đều thuộc về công dụng của sự tu
hành
, thì bốn thứ bệnh là bốn thứ thuốc. Nay tùy theo tự tánh của Viên Giác
nói thì bản tánh vốn sẵn đầy đủ, chẳng nhờ công dụng nên mới gọi là bệnh
vậy.

(Lược giải
hết.)

-Thiện nam tử!
Chúng sanh đời mạt pháp, người muốn tu hành nên hết lòng cúng dường thầy bạn
chánh tu, phụng sự thiện tri thức. Nếu thiện tri thức ấy đến thân cận với mình,
nên dứt tâm kiêu mạn, nếu muốn xa lìa mình, nên dứt tâm sân hận, gặp cảnh thuận
nghịch
đều như hư không, liễu tri thân tâm rốt ráo bình đẳng, với tất cả chúng
sanh
đồng thể chẳng khác. Tu hành như thế mới được ngộ nhập Viên Giác.

Thiện nam tử!
chúng sanh đời mạt pháp chẳng được thành đạo, là do có tất cả chúng tử yêu ghét
giữa mình và người vô thỉ, nên chưa được giải thoát. Nếu có người xem kẻ oán thù
như cha mẹ mình, tâm chẳng có hai, liền trừ được các bệnh nơi các pháp, sự yêu
ghét giữa mình và người thì cũng như vậy.

Thiện nam tử!
chúng sanh đời mạt pháp muốn cầu Viên Giác nên phát tâm như thế này: tất cả chúng
sanh
nơi tất cả hư không, ta đều khiến cho ngộ nhập Viên Giác rốt ráo, ở nơi
Viên Giác chẳng có kẻ thủ chứng Viên Giác, dứt trừ tất cả các tướng nhơn ngã
v.v… Phát tâm như thế thì chẳng đoạ tà
kiến.

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Phổ Giác ngươi
nên biết,
Chúng sanh đời mạt
pháp
,
Muốn cầu thiện tri
thức
,
Nên cầu người
chánh kiến.
Xa lìa người nhị
thừa
,
Trong pháp trừ bốn
bệnh,
Là Tác, Chỉ, Nhậm,
Diệt,
Thầy đến chẳng
kiêu mạn,
Thầy đi chẳng sân
hận
.
Thấy đủ thứ cảnh
giới
, (thuận độ nghịch của Bồ Tát ).
Nên sanh tâm hy
hữu
.
Xem như Phật ra
đời ,
Chẳng vi phạm luật
nghi
.
Giới căn trong
sạch
hẳn,
Độ tất cả chúng
sanh
.
Cứu cánh vào Viên
Giác
,
Chẳng có tướng
nhơn ngã.
Theo trí huệ Chánh
Pháp
.
Tu hành siêu
kiến
,
Chứng nhập Đại
Niết Bàn
.

Khi ấy Viên
Giác
Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba
vòng, đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế Tôn
đã vì chúng con giảng rõ đủ thứ phương tiện của Viên Giác trong sạch, khiến
chúng sanh đời mạt pháp được lợi ích lớn.

Bạch Thế Tôn!
Chúng con nay đã khai ngộ, sau khi Phật diệt độ, chúng sanh đời mạt pháp, người
chưa được ngộ, tu theo cảnh giới trong sạch của Viên Giác này, nên an cư như thế
nào? Nơi Viên Giác này có ba thứ thiền quán trong sạch, nên bắt đầu tu quán
nào? Xin Phật rủ lòng đại bi, vì đại chúng trong hội và chúng sanh đời mạt
pháp
, bố thí đại pháp để lợi ích cho sự tu hành.

Ngài Viên Giác
Bồ Tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh l­ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Viên Giác Bồ Tát rằng:

Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo hỏi Như Lai về những phương tiện như thế,
cầu lợi ích lớn bố thí cho chúng sanh, Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi
mà thuyết.

Lúc ấy Viên
Giác
Bồ Tátđại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

-Thiện nam tử!
Tất cả chúng sanh, hoặc khi Phật còn tại thế, hoặc sau khi Phật diệt độ, hoặc
trong đời mạt pháp, có những chúng sanh sẳn đủ tánh đại thừa, tin giác tâm viên
mãn
bí mật của Phật, muốn theo đó tu hành; nếu có ngoại duyên chướng ngại thì
nên tùy theo bổn phận quán chiếu như ta đã nói ở trên. Nếu chẳng bị ngoại duyên
chướng ngại, thì nên cho đồ chúng an cư nơi Già Lam (chùa chiền), đại chúng
cùng tu. Kiến lập đạo tràng, thiết lập kỳ hạn: dài là 120 ngày, trung bình là
100 ngày, ngắn là 80 ngày, tùy duyên sắp đặt chỗ ăn ở sạch sẽ cho d­ nhập
đạo
.

Khi Phật còn
tại thế, được thân cận Phật quán chiều theo chánh pháp. Sau khi Phật diệt độ
thì treo bảy hình tượng Phật, mắt nhìn tượng Phật, tâm nghĩ hạnh Phật, sanh
niệm tưởng nhớ Chánh Pháp như lúc Phật còn tại thế. Lại treo những tràng phan,
hương, hoa, trải qua 21 ngày, đảnh lễ danh hiệu của mười phương chư Phật, thiết
tha cầu sám hối, luôn luôn nhiếp hiện tu theo thiền quán kể trên, trải qua 21
ngày, nếu gặp cảnh giới tốt thì tâm được khinh an.

Mỗi năm kiết hạ
an cư ba tháng, là muốn cho những Bồ Tát được ở yên chuyên tu pháp đại thừa
trong sạch, nên tâm phải lìa Thanh Văn. Vì muốn cho Bồ Tát tự tiện chuyên tu
pháp quán của đại thừa, nên chẳng nhờ đồ chúng tieu thừa cùng nhau kiết
hạ
.

Đến ngày an cư,
nên ở trước tượng Phật nói rằng: Chúng con là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu bà tắc,
Ưu bà di (mỗi người tự xưng tên mình), theo Bồ Tát thừa, tu Tịch Diệt Hạnh, đồng
nhập đồng trụ, nơi thực tướng trong sạch, dùng Đại Viên Giác làm Già Lam của
chúng con, thân tâm an cư nơi tự tánh Niết Bàn, tánh trí bình đẳng, chẳng bị lệ
thuộc
, nay chúng con chẳng nương theo pháp Thanh Văn, kính thỉnh mười phương
Như LaiĐại Bồ Tát cùng với chúng con an cư ba tháng. Vì muốn chuyên tu
Thuợng Diệu Giác của Bồ Tát Thừa, do đại nhân duyên này nên chẳng nh đồ chúng
tieu thừa cùng nhau kiết hạ.

-Thiện nam tử!
Đây gọi là thị hiện an cư của Bồ Tát, qua ba thời kỳ kiết hạ, sau ngày giải hạ,
Bồ Tát đã dùng quán trí an tâm, nên khi ra ngoài chẳng cần có chúng bạn cùng
đi, tùy ý mình đi đâu cũng chẳng ngại.

-Thiện nam tử!
Nếu chúng sanh đời mạt pháp, tu hành đạo Bồ Tát, nhập hạ ba kỳ đã nghe Phật dạy
những thiền quán và căn, trần, thức, mỗi mỗi trong sạch kể trên, ấy là Chánh
pháp
đại chúng đã nghe, còn tất cả cảnh giới chẳng phải sở nghe của đại chúng
thì chẳng nên chấp lấy để tu.

-Thiện nam tử!
Nếu những chúng sanh tu thiền quán Sa Ma Tha, trước tiên dùng sức cực tịnh,
chẳng khởi một niệm nào. Tịnh đến chỗ cực, liền hiện Bản Giác, ấy là Sơ Tịnh.
Từ nơi một thân cho đến một thế giới đều cũng như thế.

-Thiện nam tử!
Nếu Bản Giác cùng khắp một thế giới thì trong thế giới đó có một chúng sanh nào
tâm khởi một niệm cũng đều biết cả, cho đến trăm ngàn thế giới điều cũng như thế.
Đây là chánh quán, đại chúng đả nghe, còn tất cả cảnh giới chẳng phải sở nghe
của đại chúng, thì chẳng nên chấp lấy để tu.

-Thiện nam tử!
Nếu các chúng sanh tu thiền quán Tam Ma Bát Đề, trước tiên nên tưởng nhớ mười
phương
Như Lai, tất cả Bồ Tát ở nơi mười phương thế giới, y theo mỗi mỗi pháp
môn
của Phật dạy, tùy thứ lớp tu hành siêng năng khổ hạnh, độ các chúng sanh, ở
nơi chánh định phát đại nguyện, dùng Như Huyễn quán (Tam Ma Bát Đề) tự huân tập
thành chủng tử Phật. Đây là chánh quán đại chúng nghe, còn tất cả cảnh giới
chẳng phải sở nghe của đại chúng thì chẳng nên chấp lấy để tu.

-Thiện nam tử!
Nếu các chúng sanh tu thiền quán Thiền Na, trước tiên quán sổ tức, trong tâm li­u
tri ngằn mé số niệm của sanh, trụ, diệt. Sự liễu tri ấy cùng khắp trong tứ oai
nghi
, phân biệt mỗi niệm, không một niệm nào chẳng liễu tri. Vậy tùy thứ lớp
tiến lên, cho đến được biết một giọt mưa ở nơi xa trăm ngàn thế giới, cũng như
đồ dùng của mình thấy ngay trước mắt. Đây là chánh quán, đại chúng đã nghe, còn
tất cả cảnh giới chẳng phải sở nghe của đại chúng, thì chẳng nên chấp lấy để
tu.

Đây gọi là
phương tiện đầu tiên của 3 thứ thiền quán kể trên. Nếu các chúng sanh lợi căn
siêng năng khổ hạnh tinh tấn, đồng thời tu đủ ba thứ thiền quán, thì gọi là Như
Lai
xuất hiện trên đời , còn những chúng sanh độn căn đời mạt pháp, tâm muốn
cầu đạo mà chẳng được thành tựu, là do nghiệp chướng đi trước, thì nên siêng
năng sám hối, thường mong đoạn đứt những tâm yêu ghét, ganh tỵ, xi­m khúc, kiêu
mạn
(có tâm cầu thù thắng vô thượng là tâm kiêu mạn), chọn một thứ trong 3 thứ
thiền quán trong sạch kể trên, tùy sức tu tập một thứ thiền quán, quán nầy tu
không dược thì tu quán khác, tâm chẳng buông lung, tùy theo thứ lớp để cầu
chứng nhập.

Lúc ấy Thế Tôn
muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Viên Giác ngươi
nên biết,
Tất cả những chúng
sanh
,
Muốn cầu đạo
thượng
,
Trước lập ba kỳ
hạn.
Sám hối nghiệp vô
thỉ,
Qua hai mươi mốt
ngày.
Rồi tu chánh quán
Phật
,
Chánh quán chúng
đã nghe,
Còn cảnh giới
quán
,
Chẳng phải chúng
sở nghe,
Thì chẳng nên chấp
lấy.
Sa Ma Tha cực
tịnh
,
Tam Ma Đề ghi
nhớ,
Thiền Na quán sổ
tức
.
Gọi ba quán trong
sạch
,
Nếu người siêng tu
tập
,
Gọi là Phật ra đời
.
Độn căn chưa thành
tựu
,
Thường nên siêng
sám hối.
Tất cả tội vô
thỉ,
Nếu các chướng
tiêu diệt,
Cảnh Phật liền
hiện tiền.

Khi ấy Hiền
Thiện Thủ Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhi­u quanh Phật ba
vòng, đảnh lễ chân Phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế
Tôn! Đã vì chúng con và chúng sanh đời mạt pháp, khai thị việc bất khả tư nghì
như thế.

Bạch Thế Tôn!
Kinh giáo đại thừa này phải đặt tên gì? Thọ trì như thế nào? Chúng sanh tu tập
được công đức gì? Khiến con hộ vệ người trì Kinh như thế nào? Phổ biến giáo
pháp
này đến bậc địa vị nào?

Ngài Hiền Thiện
Thủ Bồ Tát
nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như
vậy.

Bấy giờ Phật
bảo
Hiền Thiện Thủ Bồ Tát rằng:

Lành thay!
Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp
hỏi Như Lai về vấn đề Kinh giáo, công đức, tên gọi như thế, nay ngươi hãy lắng
nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Lúc ấy Hiền
Thiện Thủ Bồ Tát và tất cả đại chúng trong hội hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im
lặng
mà nghe.

-Thiện nam tử!
Kinh này là do trăm ngàn muôn ức hằng sa chư Phật sở thuyết, được tam thế Như
Lai
hộ trì, là chỗ quy y của mười phương Bồ Tát, là con mắt trong sạch của mười
hai bộ Kinh
, Kinh này gọi là Đại Phương Quảng Viên Giác Tổng Trì, cũng gọi là
Khế Kinh Liễu Nghĩa, cũng gọi là Bí Mật Vương Tam Muội, cũng gọi là Cảnh Giới
Quyết Định của Như Lai, cũng gọi là Tự Tánh Sai Biệt Trong Như Lai TẠng, ngươi
nên thọ trì.

Thiện nam tử!
Kinh này hiển bày cảnh giới của Như Lai, chỉ có Phật Như Lai mới có thể giảng
thuyết
đến chỗ cùng tột. Nếu các Bồ Tátchúng sanh đời mạt pháp theo đó tu
hành
, tùy thứ lớp tiến lên, sẽ đến địa vị Phật.

Thiện nam tử!
Kinh này gọi là đại thừa đốn giáo, chúng sanh lợi căn do đó đốn ngộ, lại cũng
bao gồm pháp tiệm tu cho tất cả chúng sanh. Ví như biển lớn chẳng bỏ sót dòng
nước nhỏ, cho đến ruồi muỗi và A Tu La, uống nước này đều được no đủ cả.

Thiện nam tử!
Giả sử có người đem thất bửu chất đầy tam thiên đại thiên thế giới dùng để bố
thí
, chẳng bằng có người nghe tên Kinh này hay nghĩa một câu trong Kinh (Thất
bửu thế gian chất đầy cõi Phật để bố thí chỉ gieo được phước hữu lậu, một lời
nói
chí lý thì sẽ chuyển phàm thành thánh).

Thiện nam tử!
Giả sử có người giáo hoá trăm ngàn hằng sa chúng sanh đắc quả A La Hán, chẳng
bằng có người giảng thuyết Kinh này cho người nghe được hiểu thấu nửa bài kệ
trong đó.

Thiện nam tử!
Nếu có người nghe tên Kinh này lòng tin vững chắc, nên biết người ấy đã gieo
trồng thiện căn phước huệ nơi hằng sa tất cả chư Phật, nên được nghe khinh giáo
này mà tướng chẳng nghi hoặc, chứ chẳng phải gieo trồng thiện căn nơi một Phật
hai Phật mà được như thế.

Thiện nam tử!
Các ngươi nên hộ trì người tu hành đời mạt pháp, chẳng cho ác mangoại đạo
nhi­u loạn thân tâm họ, khiến cho lui sụt.

Lúc ấy, trong
hội có Hỏa Thủ Kim Cang, Tồi Toái Kim Cang, Ni Lam Bà Kim Cang, v.v… tám vạn
Kim Cang với quyến thuộc họ đều từ chỗ ngồi đứng dậy đi nhi­u quanh Phật ba
vòng, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng:

-Bạch Thế Tôn!
Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp có người trì kinh này, quyết định tu pháp
đại thừa, chúng con xin gìn giữ hộ trì như gìn giữ con mắt, cho đến bất cứ chỗ đạo
tràng
, chỗ tu hành nào, chúng con đều tự lãnh đồ chúng, ngày đêm hộ trì khiến
khỏi bị lui sụt. Cho đến khiến gia đình họ thoát hẳn tai chướng, tật bệnh tiêu diệt,
của cải phong túc, chẳng có thiếu thốn.

Khi ấy Đại Phạn
Thiên Vương, hai mươi tám Thiên Vương cùng với Tu Di Sơn Vương, Hộ Quốc Thiên
Vương
, v.v… đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ
chân Phật mà thưa rằng:

-Bạch Thế Tôn!
Chúng con cũng giữ gìn hộ vệ người trì Kinh này, khiến được thân tâm thường yên
ổn
, chẳng bị lui sụt.

Khi ấy có Đại
Lực
Quỷ Vương tên là Cát Bàn Trà, với mười vạn Quỷ Vương đều từ chỗ ngồi đứng
dậy
, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng:

-Bạch Thế Tôn!
Chúng con cũng ngày đêm giữ gìn hộ vệ người trì kinh này, khiến chẳng bị lui
sụt. Chung quanh một do tuần chỗ người ấy ở, nếu có quỷ thần nào đó xâm phạm, thì
chúng con sẽ đánh nát họ thành vi trần.

Phật thuyết
Kinh này xong, tất cả Bồ Tát, Bát bộ Thiên Long qủy thần cùng quyến thuộc họ,
và các Thiên Vương, Phạn Vương, v.v… Tất cả đại chúng trong hội nghe lời Phật
thuyết
đều hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

Kinh Viên Giác hết