Kinh Vị Tằng Hữu Chánh Pháp

0
11

KINH VỊ TẰNG HỮU CHÁNH PHÁP

Hán
dịch:
Tống, Pháp Thiên.

Việt
dịch:
Thích nữ Tịnh Nguyên

Chứng
nghĩa
:
Tỳkheo Thích Đỗng Minh,

Tỳ
kheo
Thích Tâm Hạnh.

— o0o

Quyển
thứ nhất.

Tôi nghe như vầy : Một thuở nọ, đức
Phật
cùng một vạn hai ngàn năm trăm vị đại Bí sô ở trong núi Thứu Phong thuộc
thành Vương xá. Lúc đó có tám vạn bốn ngàn vị đại Bồ tát từ các cõi Phật cũng
đến hội họp. Các đại Bồ tát ấy đều là những vị đại trí huệ, đắc đại tổng trì,
biện tài vô ngại, đều chứng vô sanh pháp nhẫn, nhập vào môn trí tổng trì của
Tam ma địa, hiểu biết rất rõ về sở thích của các chúng sanh, giảng nói rành
mạch
về pháp yếuy như pháp được giải thoát.

Lại có bốn Đại Thiên vươngtrời Đế Thích, chủ cõi ta bà
Đại Phạm Thiên Vương cùng vô lượng trăm ngàn trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà,
A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, nhânn và phi nhân cũng đều đến
hội họp.

Bấy giờ có đại Bồ tát tên Diệu Cát Tường cùng với hai mươi
lăm vị đại Bồ tát ở bên triền núi ấy. Tên của các vị ấy là : Đại Bồ tát Long
Cát Tường, Đại Bồ tát Long Thọ, Đại Bồ tát Cát Tường Sanh, Đại Bồ tát Cát Tường
Tạng, Đại Bồ tát Tối Thượng Liên Hoa Cát Tường, Đại Bồ tát Liên Hoa Cát Tường
Sanh, Đại Bồ tát Trì Thế, Đại Bồ tát Trì Địa, Đại Bồ tát Bảo Thủ, Đại Bồ tát Bảo
Ấn
Thủ, Đại Bồ tát Sư Tử Ý, Đại Bồ tát Sư Tử Vô Uùy AÂm, Đại Bồ tát Hư Không
Tạng
, Đại Bồ tát Bình Đẳng Tâm Chuyển Pháp Luân, Đại Bồ tát Liễu Biệt Nhất
Thiết
Cú Nghĩa Đại Biện, Đại Bồ tát Biện Tích, Đại Bồ tát Hải Ý, Đại Bồ tát
Diệu Cao Vương, Đại Bồ tát Ái Kiến, Đại Bồ tát Hải Vương, Đại Bồ tát Vô Biên
Thị, Đại Bồ tát Vô Biên Tác Hạnh, Đại Bồ tát Phá Chư Ma, Đại Bồ tát Vô Ưu Thọ,
Đại Bồ tát Nhất Thiết Nghĩa Thành.

Lại có bốn Thiên tử ở cõi Đâu Suất, tên các vị ấy là : Phổ
Khai Hoa Thiên Tử, Quang Minh Hoa Thiên Tử, Mạn Đà La Hoa Thiên Tử, Tinh Tấn
Pháp Hành Thiên Tử. Vì có lòng tin ưa pháp nên các Thiên tử này đưa các quyến
thuộc
đến chỗ Bồ tát Diệu Cát Tường để nghe thọ chánh pháp. Sau khi đến đại
hội
. Các Đại Bồ tátchúng Thiên tử theo thứ lớp mà ngồi.

Bấy giờ đại chúng đều suy nghĩ : “ Nhất thiết trí của Phật
thậm thâm vô lượng, rộng lớn vô biên, không thể nghĩ bàn, không ai sánh bằng,
tối thượng không gì hơn, không thể liễu tri được thì làm sao các Đại Bồ tát mặc
áo giáp tinh tấn để chứng Vô thượng bồ đề?”.

Đại Bồ tát Long Cát Tường nói với các Bồ tát rằng :

– Nếu có Bồ tát trồng các căn lành tâm không còn chấp trước
hồi hướng về thật tế, đó gọi là mặc áo giáp tinh tấn an trụ vào pháp căn
lành. Đại Bồ tát có thể chứng Nhất thiết trí của Phật.

Bồ tát Long Thọ nói :

– Nếu Bồ tát phát tâm bình đẳng tâm điều phục, tâm ưa thíchm
tâm vui vẻ, tâm hòa nhã, tâm không phân biệt, đó gọi là mặc áo giáp tinh tấn
một cách kiên cố. Vị ấy có thể chứng Nhất thiết trí của Phật.

Bồ tát Cát tường Sanh nói :

– Nếu có Bồ tát trong nhiều kiếp thích muốn biết Nhất thiết
trí
của Phật thì trong vô lượng kiếp nên mặc áo giáp tinh tấn vì các chúng sanh
mà làm những việc khổ sở khó làm, không tự cống cao ngã mạn. Vị ấy có thể chứng
Nhất thiết trí của Phật.

Bồ tát Cát Tường Tạng nói :

– Nếu các Bồ tát có tâm lợi tha, không vướng vào sự vui
thích
của chính mình và không lệ thuộc sự thích thiền định, mà luôn làm lợi ích
lớn cho chúng sanh, đem vô lượng căn lành hồi hướng cho tất cả chúng sanh. Vị
ấy có thể chứng Nhất thiết trí của Phật.

Bồ tát Tối Thượng Liên Hoa Cát Tường nói :

Theo như những gì đức Phật nói, nếu các Bồ tát đối với tất
cả pháp không có mình, không có người, không hiển bày, không giấu kín, có thể
điều phục khắp nơi nhưng không có hành động gì cả. Với tất cả, tuy hành nhưng
mà không còn gì để hành. Đó là Bồ tát trụ vào pháp tương ưng với Xa-ma-tha. Tự
mình có thể hành và có thể dạy người khác hành. Bồ tát này và có thể chứng Nhất
thiết trí
của Phật.

Bồ tát Liên Hoa Cát Tường Sanh nói :

– Nếu các Bồ tát chấp vào pháp thế gian thì không thể nào
hiểu được Nhất thiết trí của Phật. Nếu đối với pháp thế gian không có gì để ưa
thích
chấp trước, không lợi, không suy, không chê, không khen, không ca ngợi,
không gièm chê, không khổ không vui tức là đối với các pháp vẫn không tăng
không giảm. Đó gọi là Bồ tát đã ra khỏi thế gian. Vị ấy có thể chứng Nhất
thiết trí
của Phật.

Bồ tát Trì Thế nói :

– Nếu các Bồ tát đem các hạnh thù thắng làm lợi ích cho tất
cả chúng sanh để được tự lợi, không vì mình và người và sanh tâm phân biệt, chỉ
đem căn lành hồi hướng cho tất cả, phát đại tinh tấn, thường gieo trồng các căn
lành cho chúng sanh. Đó gọi là Bồ tát an trụ vào các hạnh thù thắng. Vị ấy có
thể chứng Nhất thiết trí của Phật.

Bồ tát Trì Địa nói :

Ví như mặt đất hay sanh ra cây cối, thuốc cỏ… tươi tốt
kết trái đều được thành tựu, cho đến vạn vật đều nhờ đất mà được hiện hữu.
Nhưng đất không nghĩ rằng : “ Ta sanh ra cây cỏ và làm cho nó phát triển, đối
với vạn vật nhờ đất mà được đứng vững. Tất cả chúng sanh nương vào địa pháp
giới
mà được sanh trưởng, không nghĩ rằng có thể sanh ra chúng
sanh”. Đại Bồ tát cũng như vậy, phát tâm bình đẳng giống như mặt đất, luôn luôn
làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, không nghĩ rằng ta có thể làm lợi lạc cho
tất cả chúng sanh. Nếu xa lìa sự phân biệt ấy thì được chứng Nhất thiết trí của
Phật.

Bồ tát Bảo Thủ nói :

– Áo giáp tinh tấn là để hành các hạnh thù thắng rộng lớn
lượng
. Nếu mình không đủ đại căn lành thì không thể nào hành được. Nếu các Bồ
tát
trụ vào tâm bình đẳng, không còn tư tưởng phân biệt, thậm chí trong giấc
mộng
đối với các chúng sanh không còn vui, giận, mong cho các hữu tình đều mặc
áo giáp Đại thừa, chứng Phật trí trụ vào bình đẳng, cũng không có ý của Thanh
văn
Duyên giác. Bồ tát có thể chứng Nhất thiết trí của Phật

Bồ tát Bảo Ấn Thủ nói :

– Tất cả cảnh giới chúng sinh đều phát tâm đại bi, ban bố
khắp pháp ấn. Các chúng sinh ai không tin thì làm cho có chánh tín, người không
nghe thì làm cho họ nghe nhiều, kẻ xan tham thì thực hành bố thí. Người hủy phá
cấm giới thì làm cho giới đầy đủ. Ai sân giận thì làm cho họ hành nhẫn nhục,
người biếng nhác khiến họ phát tinh tấn. Ai tán loạn thì khiến họ trụ vào thiền
định
. Người ngu si thì khiến họ có đầy đủ trí huệ, và dạy họ thường tu tập pháp
lành để tất cả đều được đầy đủ trọn vẹn căn lành. Thường hành ba loại bảo ấn
của Bồ tát. Ba Bảo ấn là gì ? Nghĩa là làm thế nào để chúng sinh được đầy đủ
Phật trí, có bao nhiêu căn lành đều hồi hướng về cho tất cả chúng sinh. Đây là
Bảo ấn thứ nhất. Mình làm điều thiện nào đều được lợi ích, thành tựu căn lành
cho hết thảy chúng sinh. Đây là Bảo ấn thứ hai. Quán cõi hữu tình giống như
không
, tự tánh thanh tịnh. Đây là Bảo ấn thứ ba. Nếu Bồ tát thường thực hành
những điều này không bao giờ dừng nghĩ thì được chứng Nhất thiết trí của
Phật.

Bồ tát Sư Tử Ý nói :

– Nếu Bồ tát tinh tấn kiến cố, không còn sợ sệt gì cả, không
có gì phá hoại được, không có tâm biếng nhác, không có tư tưởng kinh hãi, dõng
mãnh không thối lui, đối với đau khổ trong luân hồi không run không sợ mà lại
có thể vượt ra khỏi để chứng Niết bàn. Đối với pháp khổ vui luôn luôn bình đẳng
không có hai tướng, được như vậy tức là Bồ tát mặc áo giáp tinh tấn, được chứng
Nhất thiết trí của Phật.

Bồ tát Sư Tử Vô Úy AÂm nói :

Ví như thế gianlực sĩ không bao giờ thua ai, làm việc
gì cũng đều hoàn tất. Đó gọi là Chánh sĩ. Chánh sĩ ấy luôn thực hành chánh
pháp
, tránh xa các tội cấu, không sanh tà kiến, siêng năng tu hành hạnh lớn,
tâm hòa nhã không có tướng thô ác, xa lánh bọn hung bạo. Đó gọi là Chánh sĩ.
Thường phát ra những lời nói hoàn hảo, gần gũi với bạn lành, đem tâm nồng hậu
tôn trọng cung kính sư trưởng, thực hành theo đạo chân chánh, không chút sai
trái
. Đó gọi là Chánh sĩ. Xa lìa những tham ái, tu tập theo hạnh chánh mạng,
dùng nghiệp thanh tịnh để dứt trừ những tội lỗi, đem tâm trí huệ để đoạn trừ tà
kiến ngu si, đối với ba nghiệp luôn an trú trong tịnh, không gây rối ren cho
người, không bàn luận tốt xấu hay dở, không chê không khen. Đó gọi là Chánh sĩ.
Thương xót kẻ nghèo khổ, ban bố ân huệ, không có phân biệt giữa kẻ oán người
thân, bên trong thì tâm thật thà chất phát, bên ngoài thì thể hiện tướng nhu
hòa, tránh xa những sự dua nịnh, luôn giữ hạnh chân thật, lấy pháp vô thượng để
làm vui cho tâm mình điềm đạm vững vàng sống trong sự bình đẳng . Đó gọi là
Chánh sĩ. Chúng sanh nào có những sự chướng ngại thì phá trừ họ, đem bố thí tất
cả thân mạng tài của với pháp thắng nghĩa không tham tiếc, thấy chúng sinh nào
thiếu phước thiếu huệ thì tìm cách diệt trừ pháp bất thiện cho họ, sau đó ban
bố cho họ kho báu diệu pháp, chúng sinh nào nghèo khổ thì bố thí trân báu,
chúng sinh nào tật bệnh thì bố thí thuốc thang, chúng sinh nào sợ sệt thì bố
thí
sự an vui, người không chỗ nương tựa thì làm chổ che chở cho họ, người bị
đọa luân hồi thì cứu độ họ, người ở trong nhà tối tăm thì làm ánh sáng mà chiếu
dắt dẫn họ đi, người đang ở trong đường tà thì chỉ dạy để đi đường chánh, luôn
luôn dùng giáo pháp để chỉ dạy hướng dẫn cho tất cả chúng sinh, thấy lỗi lầm
của người không sân giận. Đó gọi là Chánh sĩ. Các Bồ tát nên tu hành hạnh như
vậy thì có thể an trụ vào pháp tương ưng của Sa-ma-tha và có thể chứng Nhất
thiết trí
của Phật.

Bồ tát Hư Không Tạng nói:

– Các Bồ tát thấy chúng sanh (nên) tu hành đại từ quán giống
như hư không, không có biên giới. Hành đại bi quán nó rộng lớn vô biên cũng như
vậy, thường sanh hoan hỷ, giữõ gìn các căn lành, tránh xa những đắm nhiễm, luôn
thực hành sáu Balamật không cho giãi đãi, hành bố thí giống như hư không, không
có gì làm trở ngại được. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và
trí tuệ cũng đều như vậy. Bồ Tát thực hành được như thế thì có thể chứng Nhất
Thiết Trí
của Phật.

Bồ tát Bình Đẳng Tâm Chuyển Pháp Luân nói:

-Nếu có Bồ tát hành đạo Bồ Đề, đối với các pháp không còn
thấy các tướng và tâm phân biệt. Vị này không bị ma làm não hại, luôn được chư
Phật nhớ nghĩ, được chư thiên, rồng, thần luôn ủng hộ, tạo ra căn lành nào đều
chân thật không mất. Nếu Bồ tát đối với pháp mà tâm còn thấy có tướng, còn phát
sanh tư tưởng, phân biệt thì vị này ở cảnh giới ma, bị ma làm quấy nhiễu, chư
Phật không hộ trì, chư thiên không ủng hộ. Nếu vị nào vững chãi bất động, không
còn thấy có tướng, không còn phân biệt, đó là Bồ tát chuyển pháp luân vô thượng
ban bố cho tất cả. Vì sao ? Vì Bồ tát hiểu rõ các pháp là không phát
sanh, không tạo tác. Mặc dầu Bồ tát còn phát sanh các tâm nhưng không chấp
trước vào nó, đem tâm vô tướng mà chứng Phật Bồ Đề, cho đến chuyển bánh xe pháp
vi diệu cũng như vậy. Đây gọi là Đại Bồ tát mặc áo giáp tinh tấn chứng
Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Liễu Biệt Nhất Thiết Cú Nghĩa Đại Biện nói:

– Chư chánh sĩ nên biết! Tất cả xứ là Bồ Đề. Phiền nãoBồ
Đề
. Các việc đã làmBồ Đề. Pháp hữu viBồ Đề. Pháp vô viBồ Đề. Pháp
hữu lậu
Bồ Đề. Pháp vô lậuBồ Đề. Tâm hữu trước là Bồ Đề. Tâm vô trước
Bồ Đề. Căn thiện là Bồ Đề. Căn bất thiệnBồ Đề. Pháp thế gianBồ Đề. Pháp
xuất thế gianBồ Đề. Pháp luân hồi là Bồ Đề. Cõi Niết BànBồ Đề. Hư vọng
Bồ Đề. Chân thậtBồ Đề. Uẩn, xứ, giới là Bồ Đề. Địa, hỏa, thủy, phong,
không là Bồ Đề. Vì Đại Bồ tát hiểu rõ tự tánh của tất cả pháp đều là không, các
việc đã tạo ra đều không có tự tánh, với tất cả ý nghĩa đều liễu tri một cách
như thật. Ví như hư không đầy khắp tất cả nơi, pháp Bồ Đề cũng như vậy ở tất cả
xứ. Nếu Bồ tát hiểu rõ các pháp sẽ được đầy đủ biện tài và được chánh trí, phân
biệt
các cú nghĩa. Vị này có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Biện Tích nói:

– Nếu Bồ tát với trí huệ giải thoát, có làm được điều gì
cũng không nắm giữ, bởi vì tâm không thấy tướng. Không tăng giảm, không lay
không động. Tất cả lời nói nói ra cũng đều xác định đúng lí , bị chê bai hay
được khen ngợi cũng không lay động. Tất cả lời nói của ngoại đạo,tất cả lời nói
của Như Lai, dù trong dù ngoài, dù ẩn hay hiện đều bình đẳng không có sai khác,
biết tất cả pháp đều qui về tịch diệt. Tâm không chấp trước đối tượng nào cả,
giữ vững bất động như núi Diệu Cao không động chuyển. Nếu Bồ tát với trí huệ
giải thoát, tâm trở về tịch diệt thì có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Hải Ý nói

– Nếu Bồ táttrí huệ như biển lớn, biết vạn pháp đều quy
về một vị bình đẳng. Bồ tát đa văn nắm giữ hết tánh của các pháp như một vị
không khác, biết rõ tự tánh chân thật của các pháp chẳng phải vô sở hữu, mà
pháp do duyên sanh tức là nghĩa chân thật, nên biết pháp ấy không tăng không
giảm, tánh của gốc ngọn phước lợi nhiều vô tận, là cứu cánh tịch diệt, chẳng
phải đoạn, chẳng phải thường, nên biết một cách như thật. Còn như đối với chúng
sanh
mà phát sanh tâm vô lượng, không quên không bỏ, thường có tâm tôn trọng
giảng nói rõ ràng cho họ, chỉ dạy bình đẳng về pháp bất cộng, trồng các
căn lành cho khắp chúng sanh, thì Bồ tát này mặc giáp tinh tấn, chứng Nhất
thiết trí
của Phật.

Bồ tát Diệu Cao nói :

– Các Chánh sĩ nên biết ! Nhất Thiết Trí của Phật chẳng biết
được một cách dễ dàng đâu, khó mà đo lường, làm sao có thể chứng được. Vì sao ?
Vì nếu Bồ tát vượt qua tất cả tâm hành của chúng sanh trong thế gian,
vượt qua tất cả sự thấy nghe của chúng sanh trong thế gian, cho đến tin ưa
thích
tri thức đều có thể vượt qua chúng sanh trong thế gianbố thí, trì
giới
, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ được phước đức vượt hơn núi Tu
Di
, thì Bồ tát này có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Ái Kiến nói :

Đại Bồ tát nào quán sáu trần cảnh mà không có gì để quán
cho đến duyên mà không có gì để duyên. Vì sao ? Vì nếu sắc hay tâm thì bản tánh
nó đều thanh tịnh. Vì sắc thanh tịnh nên mắt không có gì để thấy. Vì thanh
thanh
tịnh nên tai không có gì để nghe. Vì hương thanh tịnh nên mũi không có gì
để ngửi. Vì vị thanh tịnh nên lưỡi không có gì để nếm. Vì xúc thanh tịnh nên
thân không có gì để cảm giác. Vì pháp thanh tịnh nên ý không có gì để duyên. Vì
sao ? Vì các căn thanh tịnh nên tự tánh nó đều không , không có mình, không có
người, không yêu, không chán, tự tánhbình đẳng, quán chúng sanh không có
cao thấp, tất cả đều bình đẳng. Đối với Phật pháp có tâm quyết định không sanh
nghi
ngờ, vui thích với pháp không nhàm chán, được rồi thì bố thí trở lại, bố
thí
rồi không hối tiếc, dần dần làm đầy đủ trọn vẹn tất cả Phật pháp. Bồ tát
nào làm đúng như vậy thì có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Hỷ Vương nói :

Đại Bồ tát tâm an trụ vào bố thí nhẫn nhục, nếu có người
đến mắng chửi, quở trách, khinh khi, đánh đập mà Bồ tát không có tâm sân giận
họ mà còn có tư tưởng hoan hỷ, luôn làm bạn lành với các chúng sanh, không còn
tướng mình và người, không có người hủy nhục, không có người bị hủy nhục, các
pháp đều là không. Vì nội không, ngoại không, tướng ngã tướng nhơn cũng đều
không, cho nên luôn sanh tâm hoan hỷ, thực hành hạnh bố thí. Giả sử có người
đến xin đầu, mắt, tay chân, vợ con, quyến thuộc cho đến thân mạng của mình cũng
không tiếc rẽ, mà bố thí một cách hoan hỷ. Bồ tát thích cầu diệu pháp, nếu nghe
một bài kệ giả sử dù có đổi ngôi vị Chuyển luân vương cũng không luyến tiếc.
Nếu làm tất cả chúng sanh phát tâm bồ đềgiả sử dù có ngôi vị Đế Thích cũng
không ưa thích. Nếu vừa nghe pháp hy hữugiả sử dù có ngôi vị Phạm thiên
vương
cũng không ưa thích. Nếu được thấy chư Như Laigiả sử dù trong ba ngàn
đại thiên thế giới đầy ngập trân bảo thì vứt như sỏi gạch, thích nhìn Chư Phật
với lòng tràn đầy hoan hỷ, các căn đầy đủ thành tựu pháp phần bồ đề, thì vị này
có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Vô Biên Thị nói :

Đại Bồ tát nào không còn thấy tướng ngã, quán tất cả pháp
đều thanh tịnh không còn nghi ngờ gì cả, thì có thể thấy tất cả chư Phật, quán
các sắc mà không còn chấp trước, không có tưởng sắc, thấy các chúng sanh
không có tưởng về chúng sanh, cho đến quán tất cả sắc tướngthế gian cũng đều
như vậy. Tất cả cõi Phật thấy bằng nhục nhãn đều thanh tịnh, vì nghiệp báo
thanh tịnh nên được đầy đủ thiên nhãn, do có đại thần thông mà được đầy đủ huệ
nhãn
, pháp bất cộng của Phật được tròn đầy nên được đầy đủ pháp nhãn, xa lìa
các phiền não nên được đầy đủ Phật nhãn, Bồ tát này sẽ được đầy đủ mười lực
có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Vô Biên Tác Hạnh nói :

– Tất cả những gì của chư Phật làm đều là Bồ đề. Vì
sao ? Vì Bồ đề là do Nhất Thiết Trí phát sanh ra, không có nội tưởng, không có
ngoại tưởng, cũng không có trung gian, cho nên với tất cả pháp, Bồ tát không
chấp
trước thì diệt sạch hoàn toàn phiền não, không còn việc của ma và ra khỏi
cảnh giới ma. Bồ tát này có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Phá Chư Ma nói :

– Nếu Bồ tát không còn sanh ngã kiến tức là xa lìa các kiến.
Nếu các kiến không còn phát sanh thì có thể xa lìa nghiệp ma, tức là đã liễu
ngộ
được các uẩn. Các uẩn đều là không, diệt hẳn tướng ngã. Tướng ngã đã diệt
thì ma không làm gì được. Nếu nghiệp đã diệt thì các chướng được giải thoát.
Nếu xa lìa các chướng thì đắc Bồ đề, đó gọi là chứng Nhất Thiết Trí của
Phật.

Bồ tát Vô Ưu Thọ nói :

– Nếu người tạo nghiệp bất thiện thì luôn lo sợ, hối hận tự
trách mình. Còn người tạo các nghiệp thiện thì không lo sợ gì cả. Thế nên Bồ
tát
luôn thực hành pháp lành không gián đoạn, liên tục nơi hiện tại. Bồ tát này
không bị mũi tên độc lo buồn làm tổn hại, có thể mặc áo giáp tinh tấn và chứng
Nhất Thiết Trí của Phật.

Bồ tát Nhất Thiết Nghĩa Thành nói :

Thiện nam nào giới pháp đầy đủ, hạnh nguyện đầy đủ thì có
thể an trụ vào căn bản của giới pháp. Ví như hương thơm xông ướp tất cả và có
thể xa lìa các lỗi lầm, xa lìa các ác mới viên mãn pháp phần Bồ đề. Nếu pháp
phần Bồ đề đã viên mãn thì thành Nhất Thiết Trí. Do đó nên biết rằng chân giới
là gốc. Pháp phần Bồ đề mà được thành tựu, Bồ tát nào hiểu đúng như vậy thì
thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Sau khi các Bồ tát nói pháp xong, trong chúng hộithiên
tử
Đâu Suất tên Phổ Khai Hoa nói như vầy :

– Thưa các Bồ tát ! Ví như thế gian có cây hoa đẹp nở rộ tốt
tươi, sắc hương thơm đẹp, ai ai cũng ưa thích. Các Đại Bồ tát cũng như vậy. Các
pháp giải thoát giống như hoa nở tăng thêm sắc đẹp được tất cả đại Bồ tát ưa
thích
, lại giống như cây mọc trong vườn của cung trời Đao Lợi. Cây ấy cao lớn
sum xuê, hoa nở rất đẹp trông rất thích thú. Thưa các đại Bồ tát, nếu đầy đủ
pháp giải thoát thì như hoa nở tăng thêm sắc đẹp, được tất cả Bồ tát và trời
người ưa thích. Cũng giồng như đại ma ni quý báu tối thượng, trong suốt không
có tỳ vết, đủ đức như ý. Các đại Bồ tát trong tâm thanh tịnh, không còn các cấu
nhiễm
, đầy đủ pháp công đức. Như vậy thì có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Thiên tử Quang Minh Khai Hoa nói :

– Các Bồ tát như mặt trời tỏa ánh sáng phá tan các tăm tối,
làm hiển lộ tất cả sắc tướng. Đại Bồ tát cũng như vậy, đầy đủ ánh sáng trí huệ
làm ngọn đuốc diệu pháp chiếu khắp chúng sanh để diệt trừ những si ám. Tất cả
đều được ánh sáng trí huệ thông suốt hiện ra, không còn các tăm tối và không bị
sự ngu mờ che lấp, luôn đi theo đạo sáng suốt. Cho nên Bồ tát hướng dẫn chỉ dạy
cho những chúng sanh bị lạc đường trở về con đường chân chánh. Bồ tát này có
thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Thiên tử Mạn Đà La Hoa Hương nói :

– Thưa các Bồ tát ! Mùi thơm của hoa Mạn-đà-la bay xa cả
trăm do tuần. các Đại Bồ tát đầy đủ giới, định, huệ cũng như vậy. Hương giới,
hương định, hương huệ bay xa khắp tất cả trong ở thế gian. Nếu chúng sanh nào
mà ngửi được hương thơm ấy thì tất cả phiền não đều được tiêu trừ. Đại Bồ tát
đầy đủ hương pháp công đức như vậy thì có thể chứng Nhất Thiết Trí của Phật.

Thiên Tử Tinh Tấn Pháp Hành nói :

– Nếu các Bồ tát biếng nhác thối lui thì không thể tu tiến
bộ
về hạnh thù thắng để đắc quả hồ đề của Phật. Nếu tâm tinh tấn không kể kiếp
số, luôn luôn dõng mãnh, trồng các căn lành, tâm không nhàm chán, thường thực
hành
tám pháp trợ đạo. Thế nào là tám ?

1.- Siêng năng làm tăng thêm pháp tương ưng với hạnh thù
thắng
.

2.- Thường tu bốn pháp hạnh vô lượng : Từ, Bi, Hỷ, Xả.

3.- Tu tập năm pháp trí huệ thuộc trí thông.

4.- Thường tu hành theo Tứ nhiếp pháp, đó là : Bố thí, ái
ngữ
, lợi hành và đồng sự.

5.- Đối với ba môn giải thoát đầy đủ pháp nhẫn.

6.- Giảng nói rộng rãi về diệu pháp cho mọi người.

7.- Phát tâm Vô thượng đại Bồ đề.

8.- Làm phương tiện tốt lành hồi hướng cho tất cả mọi người
đều được ở trong chánh pháp.

Bồ tát nào hành theo 8 pháp này thì có thể chứng Nhất Thiết
Trí
của Phật.

Bấy giờ đại Bồ tát Diệu Cát Tường nói với các Bồ tát
chúng trời :

– Các đại Bồ tát ! Đối với các pháp nên xa lìa các phân biệt
thì có thể chứng Phật trí. Làm thế nào để lìa sự phân biệt ? Nghĩa là không
phân biệt ba cõi, không phân biệt các kiến, không phân biệt đây là nội
kia là ngoại, không phân biệt đây là địa vị Thanh Văn, kia là địa vị Duyên
Giác
, hay địa vị chúng sanh phàm phu, cũng không phân biệt đây là luân
hồi
kia là phiền não, đây là năng quán kia là sở quán, đây là nhân kia là quả,
cảnh giới hay chẳng phải cảnh giới, là tăng hay giảm, kia là kiến của ngã,
đây là sở kiến của ngã, là xan tham hay bố thí, là hủy giới hay trì giới, là
sân giận hay nhẫn nhục, là biếng nhác hay tinh tấn, là tán loạn hay thiền định,
ngu si hay trí tuệ. Cũng không phân biệt căn lành này hay sanh các pháp
lành, còn kia là căn không lành thì sanh pháp không lành. Không phân biệt đây
là pháp thế gian kia là pháp xuất thế gian, mà trụ vào pháp bình đẳng, không
phân biệtvô vi hay hữu vi, không phân biệt tâm có chấp trước hay tâm không
chấp trước, không phân biệthữu lậu hay vô lậu.

Các đại Bồ tát nên biết ! Pháp ấy không còn sự phân
biệt
mà là trụ vào tương ưng với bình đẳng thì có thể chứng Nhất Thiết Trí của
Phật.

Lại nữa, thưa các đại Bồ tát ! Vô thượng Bồ đề của chư Phật
vốn không thể đắc. Vì sao ? Vì chẳng phải nơi tâm để duyên, chẳng phải nơi trí
để biết, mà chỉ có Phật mới chứng được thôi. Ai bình đẳng với chư Phật thì cũng
bình đẳng với Nhất Thiết Trí. Quán về Nhất Thiết Trí đều vô sở hữu. Vì vô sở
hữu
cho nên không chấp trước vào Nhất Thiết Trí, chẳng phải sắc nắm bắt mà thọ
tưởng hành thức
cũng đều không thể nắm bắt, đó gọi là Nhất Thiết Trí,
không có tướng của pháp mà cũng không có tướng của phi pháp, đó gọi là không
của Nhất Thiết Trí. Bố thí Balamật có thể chứng, Trì giới Balamật có thể chứng,
Nhẫn nhục Balamật có thể chứng, Tinh tấn Balamật có thể chứng, Thiền định
Balamật có thể chứng nhưng trí tuệ Balamật không thể chứng. Vì sao ? Vì các
pháp không có chỗ đắc, cho nên Nhất Thiết Trí cũng không chỗ đắc.

Lại nữa thưa các Bồ tát ! Nhất Thiết Trí chẳng phải ba đời
có thể đắc, vì quá khứ không thể đắc, hiện tại không thể đắc và vị lai cũng
không thể đắc. Vì không chấp trước vào ba đời nên chẳng phải đối tượng để Nhãn
thức
quán, chẳng phải đối tượng để Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân , Ý thức quán. Vì
sao ? – Vì xa lìa các cảnh giới. Các đại Bồ tát nào muốn thành tựu Nhất Thiết
Trí
thì nên trụ như vậy. Vì sao ? – Vì tất cả pháp cũng trụ như vậy. Vì các
pháp bình đẳng nên Nhất Thiết Trí cũng bình đẳng, cho đến pháp chư Phật, pháp
phàm phu cũng đều bình đẳng. Đó gọi là Nhất Thiết Trí. Các đại Bồ tát nên trụ
như vậy, nên học như vậy. Ví như tự tánh của tứ đại đều không có, nếu vốn nó có
tánh cũng không thể đắc. Vì sao ? – Vì tự tánh nó là không. Vì tự tánh của các
pháp thiện hay bất thiệnthế gian đều không cho nên nó cũng không thể đắc. Vì
sao ? – Vì không phân biệt. Phân biệt đã là không thì đó là nghĩa chân thật.

Khi Bồ tát Diệu Cát Tường nói pháp này, trong hội có hai
ngàn thiên tử đắc Vô sanh pháp nhẫn. Một vạn hai ngàn thiên tử phát tâm
thượng Bồ đề
.

Hết
quyển thứ nhất.

Quyển
thứ hai.

Bấy giờ đại Bồ tát Biện Tích thưa
trước Bồ tát Diệu Cát Tường :

Chúng ta hãy đến đức Phật để hỏi đại Bồ tát nên trụ như
thế nào.

Lúc ấy vẫn ngồi yên giữa chúng hội, Bồ tát Diệu Cát Tường
thâu nhiếp thân tướng Bồ tát, mà hóa hiện ra thân tướng Như Lai với đầy đủ
tướng tốt, giống y hệt như Phật Thích Ca Mâu Ni.

Lúc này Bồ tát Biện Tích không biết tướng hóa hiện nên cho
đức Như lai và đến trước Phật thưa :

– Bạch Thế Tôn ! Đại Bồ tát nên trụ như thế nào ?

Hóa Phật trả lời :

– Theo những gì ta làm thì Bồ tát nên trụ như vậy.

Bồ tát Biện Tích thưa :

– Theo Phật Thế Tôn thì trụ như thế nào ?

Hóa Phật nói :

Phật Thế Tôn không tu hành pháp Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh
tấn
, Thiền định, Trí tuệ, không chấp trước vào cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc;
không hành thân nghiệp, không sanh ngữ nghiệp, không tạo ý nghiệp. Như vậy đối
với tất cả xứ đều không có chỗ hành.

Này Thiện nam tử ! Vì tất cả những gì để hành đều như huyễn
hóa.

Bồ tát Biện Tích thưa :

Vậy thì Phật Thế Tôn cũng là tướng huyễn hóa sao ?

Hóa Phật nói :

– Đúng vậy, đúng vậy. Đại Bồ tát nên trụ như vậy.

Bồ tát Biện Tích lại bạch Phật :

– Vì sao thế Tôn cũng là tướng huyễn hóa ?

Hóa Phật nói :

– Này Thiện nam tử ! Không những vậy mà tất cả các
pháp đều là tướng huyễn hóa.

Bồ tát Biện Tích thưa :

– Đúng vậy, đúng vậy ! Tánh không của các pháp đều là tướng
huyễn hóa, không lẽ Phật Thế Tôn của con cũng là huyễn hóa sao ?

Hóa Phật nói :

– Này Thiện nam tử ! Đâu chỉ có đức Phật đây là tướng huyễn
hóa
mà tất cả Như Lai cũng đều là tướng huyễn hóa.

Bồ tát Biện Tích thưa :

– Ai là người có thể hóa ?

Hóa Phật nói :

– Do nghiệp thánh tịnh, chứ chẳng phải có người hay hóa hay
được hóa, cũng không có ta, không có người, không có chúng sanh, không có thọ
mạng
, không có sĩ phu, không có thức, không có bổ đặc già la, không có Phật,
không có các tướng phàm phu.

Bồ tát Biện Tích bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Nên học như thế nào để đắc Bồ đề ?

Hóa Phật dạy :

– Tất cả pháp không có chỗ học, Bồ tát nên học như vậy. Các
pháp không có chỗ hành, Bồ tát nên học như vậy. Các pháp không có gì sợ, Bồ tát
nên học như vậy. Các pháp khôngnghi ngờ, Bồ tát nên học như vậy. Các pháp
không
sở hữu, không có chỗ duyên, không hư vọng, không tụ tập, không tạo
tác, không văn tự, không sanh, không diệt, không đã có, không hiện có và không
sẽ có; chẳng phải huyễn hóa, chẳng phải hình tượng, chẳng phải chỗ quán của
trí, xa lìa tất cả tưởng. Đại Bồ tát nên học như vậy. Ai học như vậy thì gọi là
học đúng, không giảm mất cũng không tăng trưởng. Nếu ai học như vậy thì không
còn gì để viễn ly, không còn gì để bàn luận, không còn gì để vui thích, không
còn gì để nhàm chán, không vui không giận, không đến không đi. Nếu ai học như
vậy, gọi là học đúng. Cho nên này Thiện nam tử ! Nếu có người nào cầu Vô thượng
Bồ đề
thì nên biết rằng không có luân hồi, không có Niết bàn, không nắm bắt,
không xả bỏ, không bố thí, không xan tham, không giữ giới, không phạm giới,
không nhẫn nhục, không sân giận, không siêng năng, không biếng nhác, không
định
, không loạn, không trí tuệ, không ngu si, chẳng phải học, chẳng phải
học
, chẳng hành chẳng phải không hành, không có gì để đắc không có gì để chứng,
không có bồ đề, không có Phật pháp, không có tưởng ngã, không có tưởng người,
không có tưởng chúng sanh, không có tưởng thọ giả, không có tưởng Bổ đặc già
la
, không có tưởng pháp, cũng không có tưởng phi pháp, chẳng phải hữu tưởng
chẳng phải vô tưởng. Vì sao ? Vì các pháp như huyễn hóa, không có hai, không
sai khác, không có tướng chuyển động. Với tất cả pháp chẳng phải sắc nắm bắt
tướng. Mắt không thể quán được vì tất cả pháp không có tướng phân biệt, tâm
không
thể biết. Tánh của các pháp là không, không có pháp nào có thể hành,
không có Bồ đề nào để chứng đắc. Cho nên này Thiện nam tử ! Các đại Bồ tát nên
hành như vậy, nên học như vậy. Nếu có Thiện nam tử nào nghe nói điều này mà
không kinh sợ, không nghi ngờ thì người ấy có thể chứng đắc Vô thượng Bồ đề.

Lại nữa, này Thiện nam tử ! Ví như hư không không có gì có
thể xâm hại được, lửa không thể đốt, gió không thể làm lay chuyển, nước không
thể thấm ướt, bụi không thể làm dơ, khói mây sấm sét không thể nào dính vào
được, bởi vì hư không không chướng ngại. Đại Bồ tát cũng như vậy, tâm không
chướng ngại, không bị các pháp làm chuyển động, tâm không ưa thích không nhàm
chán
giống như hư không. Các uẩn không bị chúng ma làm lay động, Bồ tát ấy sẽ
chứng Vô thượng Bồ đề và làm lợi ích lớn vô cùng tận cho chúng sanh.

Sau khi nói pháp xong, hóa Phật bỗng biến mất. Bồ tát Diệu Cát tường trở lại thân cũ.

Bồ tát Biện Tích thưa trước Bồ tát Diệu Cát tường :

Như Lai Thế Tôn vừa mới giảng pháp từ đâu đến vậy, bây giờ
đi về đâu rồi ?

Diệu Cát tường nói ;

– Vốn không từ đâu đến nên bây giờ không đi về đâu.

Bồ tát Biện Tích lại hỏi :

– Đến mà không đến thì từ đâu đến ?

Diệu Cát Tường trả lời :

– Từ như vậy mà đến.

Bồ tát Biện Tích hỏi :

Theo như Phật đã nói thì tất cả Như lai đều là tướng huyễn
hóa
. Vậy tướng huyễn hóa chẳng từ đâu đến cũng không đi về đâu sao ?

Diệu Cát Tường trả lời :

– Đúng vậy, đúng vậy. Tướng huyễn hóa không đến không đi.
Tất cả pháp, tất cả chúng sanh cũng như vậy.

Bồ tát Biện Tích lại hỏi :

– Tất cả pháp trụ chỗ nào ?

Bồ tát Diệu Cát tường trả lời :

– Các pháp khôngtự tánh nên trụ như vậy.

Bồ tát Biện Tích hỏi :

– Tất cả chúng sanh trụ thế nào ?

Bồ tát Diệu Cát Tường nói :

– Tất cả chúng sanh mỗi mỗi đều có nghiệp báo nên cũng trụ
như vậy.

Bồ tát Biện Tích hỏi :

– Tất cả nghiệp báo của chúng sanh như thế nào ?

Bồ tát Diệu Cát Tường trả lời :

– Các pháp không có chủ nên cũng không có nghiệp báo. Vì các
pháp bình đẳng nên trụ như vậy.

Bồ tát Biện Tích hỏi :

Nếu khôngnghiệp báo thì sao lại nói mỗi mỗi có nghiệp
báo
?

Bồ tát Diệu Cát Tường trả lời :

– Tạo ra nghiệp gì thì thọ quả báo theo nghiệp đó, đó là
nghiệp báo.

Bồ tát Biện Tích hỏi :

Nghiệp báo của chúng sanhtánh không, đang sống cũng
như vậy thì làm sao thọ quả báo ?

Bồ tát Diệu Cát Tường trả lời :

Như pháp chân thật thì không có nghiệp không có quả báo,
không có sanh, chẳng phải có chẳng phải không, đó là nghiệp báo. Nhưng nghiệp
báo
của chúng sanh không mất mát, tánh của tự nghiệp là không, nên đó là nghĩa
chân
thật.

Khi Bồ tát Diệu Cát Tường nói pháp này thì trong hội của đức
Phật Thích Ca Mâu Ni
tôn giả Xá Lợi Tử, A-Nan và những vị Thanh Văn khác nhờ
oai lực của Phật mà được nghe diệu pháp của Bồ tát Diệu Cát tường đã nói.

Bấy giờ Xá Lợi tử đứng dậy thưa trước Phật :

– Thật hy hữu thay, Bạch Thế Tôn ! Các Bồ tát đều dùng
phương tiện thiện xảo để giảng nói pháp thâm sâu. Nếu có người nào nghe không
ai mà không phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Phật dạy Xá Lợi Tử :

Đại Bồ tát đem tâm không chấp trướctu học các hành,
đem tâm không giải đãi mà giảng nói chánh pháp.

Này Xá Lợi Tử ! Như những gì Bồ tát làm, thọ quả báo, có trí
tuệ
, và giảng pháp cũng đều như vậy. Như ông Xá Lợi Phất thì sở hành sở
học đều là hạnh của Thanh Văn vì có tướng chấp trước, đắc được trí tuệ cũng như
vậy.

Bấy giờ có Bồ tát tên Quang Nghiêm đứng dậy đến trước Phật
thưa :

– Bạch Thế Tôn ! Sao gọi là hạnh của Thanh Văn ?

Phật dạy :

– Này Thiện nam tử ! Hạnh của Thanh Văn nghĩa là đối với
pháp còn có hạn lượng, đối với sự tu hành không thể xa lìa các tướng, thích
tránh sanh tử để chứng Niết-bàn, chán bỏ chúng sanh không cứu vớt, trí huệ còn
hạn hẹp, không có tâm rộng lớn, cho nên Bồ tát quán hạnh của Thanh Văn giống
như ngu mờ, nên tâm của Bồ tát hànhkhông chấp trước, trí huệ không chướng
ngại
và còn có thể độ khắp chúng sanh được vô lượng lợi ích.

Bồ tát Quang Nghiêm lại thưa Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Bồ tát Diệu Cát Tường và các đại sĩ, sao
bây giờ không đến hội này để giảng nói diệu pháp ? Chúng con rất muốn nghe. Vì
sao? – Vì Bồ tát Diệu Cát Tường đã chứng đắc pháp thâm sâu, nhập vào môn giải
thoát
, dùng vô ngại biện nói rõ về pháp giải thoát.

Bấy giờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền dùng thần thông cảnh
giác
bảo Bồ tát Diệu Cát Tường đến pháp hội, lúc ấy Bồ tát Diệu Cát Tường cùng
hai mươi lăm đại Bồ tát và chúng trời người đều đến chỗ Phật Thích Ca Mâu
Ni
, tất cả đều lễ lạy sát hai chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng rồi lui qua
một bên.

Bồ tát Quang Nghiêm thưa với Bồ tát Diệu Cát Tường :

– Vì sao đại sĩ rời bỏ chỗ Phật để nói pháp chỗ khác ?

Diệu Cát Tường trả lời :

Giáo phápđức Phật nói ra rất sâu xa khó hiểu,
lìa các ngôn ngữ, tôi không thể biết.

Bồ tát Quang Nghiêm hỏi :

– Phật nói pháp rất thâm sâu khó hiểu, như đại sĩ đây có trí
huệ
vô lượng mà còn không thể hiểu thì chúng tôi làm sao mà hiểu nổi.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói :

– Chỉ có Phật với Phật mới thông đạt tất cả, ngoài Như Lai
ra không ai có thể tin ngộ được, cho nên tôi theo năng lực giảng nói của mình
mà nói pháp, chỉ theo pháp mà nói còn đối với pháp giới chơn tế thì chẳng lìa
chẳng phải không lìa. Nói như vậy gọi là nói pháp. Đối với ngôn ngữ, đối với
luận
, đối với danh tướng, đối với các sanh diệt cũng chẳng lìa chẳng phải không
lìa, là các pháp bình đẳng, đó gọi là nói pháp. Các pháp không có tướng mình,
không có tướng người, không có tướng pháp cũng không có tướng phi pháp, không
tướng luân hồi, không có tướng Niết-bàn, đó gọi là nói pháp.

Bấy giờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni khen ngợi Bồ tát Diệu Cát
Tường
:

Lành thay ! Lành thay ! Này Diệu Cát Tường, ông nói pháp
đúng là chân nói pháp. Vì sao ? – Vì các pháp lìa ngôn ngữ, lìa tất cả tưởng,
không có pháp lớn không có pháp nhỏ, đoạn trừ những phân biệt, chẳng phải tâm
tam muội để quán để thấy, không có một pháp nào tăng hay giảm, nói pháp như vậy
gọi là hiểu pháp, tức là đã thấy Phật.

Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói pháp này, trong chúng hội
có tám ngàn Bồ tát chứng vô sanh pháp nhẫn, có hai trăm thiên tử trước đây phát
tâm
đại thừa chẳng bao lâu lại suy nghĩ : “Pháp của Phật sâu xa khó hiểu khó
biết, không thể cùng tận, chúng ta không thể nào hiểu rõ ý thâm sâu ấy, thực
hành
những hạnh thù thắng để chứng Vô thượng Bồ đề, không bằng với quả Thanh
Văn
Duyên Giác thì cầu Niết bàn nhất định không có nghi ngờ gì cả”. Thế rồi tất
cả thối tâm đại thừa.

Biết được tâm niệm của các Thiên tử, đức Thế Tôn dạy các
Thiên tử :

– Các ông đừng có tâm giải đãi mà làm mất đi tâm đại thừa,
cần phải phát tâm Vô thượng Bồ đề cho kiên cố không cho thối lui.

Vì muốn độ các Thiên tử, đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền hóa
làm một trưởng giả cầm bình bát đầy những vị thức ăn uống, vào pháp hội. Đến
chỗ Phật, ông dâng thức ăn cúng dường Thế Tôn, rồi đầu mặt lạy sát chân Ngài mà
thưa rằng :

– Cúi xin Thế Tôn hãy thương xót con mà nhận thức ăn này của
con.

Để tùy thuận theo ý của trưởng giả, Thế Tôn nhận thức ăn,
lúc đó, Bồ tát Diệu Cát Tường đứng dậy, chắp tay cung kính thưa trước Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Thức ăn mà Phật nhận không có hạn lượng,
đáp ứng cả pháp giới mà không bị chấp trước, không có người bố thí không có
người thọ nhận, tất cả đều bình đẳng, như pháp mà thọ thực.

Bấy giờ Xá Lợi Tử nghi ngờ rằng : “Ông trưởng giả cúng dường
thức ăn này từ đâu đến, chẳng lẽ do Bồ tát Diệu Cát Tường biến hóa ra để
làm Phật sự hay sao”. Biết sự hồ nghi của Xá Lợi Phất. Thế Tôn liền nói với
Lợi tử
:

– Này ông Xá Lợi Tử ! Chớ nghĩ như vậy, dù đến hay đi thì tự
Phật đã biết thời.

Thọ thực xong, Thế Tôn đem bình bát ném xuống đất. Bình bát
bị ném rơi vào thế giới phương dưới trong lúc các đức Phật ở các cõi đang
nói pháp.

Đệ tử của chư Phật đều hỏi :

– Bát này từ đâu đến ?

Chư Phật đều nói :

Thế giới phương trên tên Ta Bà, có Phật Thế Tôn hiệu Thích
Ca Mâu Ni
, hiện đang thuyết pháp. Bình bát này từ cõi ấy đến đây, vì muốn giáo
hóa
các Bồ tát. Bình bát này rơi xuống hơn 72 hằng hà sa số cõi Phật, có thế
giới
tên Quang Minh, Phật hiệu Quang Minh Vương Như Lai, Ứng Cúng Chánh Đẳng
Chánh Giác
, hiện đang giảng pháp, bình bát nay lơ lửng giữa hư không trước Phật
ấy.

Sau khi ném bình bát, đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền bảo tôn
giả
Xá Lợi Tử :

– Này Xá Lợi Tử ! Ông hãy dùng thần lực quan sát xem bình
bát
đã ném nay ở cõi nào và nơi đâu ?

Thế rồi Xá Lợi Tử liền nhập vào 80 ngàn môn Tam ma địa, ở
trong các định ấy, Xá Lợi Tử dùng trí lực của mình và sức thần thông của Phật
quán khắp 10 ngàn cõi Phật nhưng không thấy bình bát ấy ở đâu cả. Sau khi ra
khỏi định, Xá Lợi Tử bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn con đã quán sát qua 10 ngàn cõi Phật nhưng
không thấy bình bát ấy ở đâu cả.

Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Mục Kiền Liên;

– Này Đại Mục Kiền Liên, ông hãy dùng thần lực quán sát xem
bình bát đang ở đâu ?

Vâng thánh chỉ của Phật, tôn giả Đại mục Kiền Liên liền nhập
vào 8 ngàn môn Tam ma địa. Ở trong những định ấy, tôn giả dùng thần thông của
mình qua tám ngàn cõi Phậtthế giới phương dưới, quan sát khắp nơi nhưng cũng
không thấy bình bát ở đâu cả. Sau khi ra khỏi định tôn giả thưa trước Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Con đã dùng thần thông qua 8 ngàn cõi Phật
thế giới phương dưới, nhưng không thấy bát ấy ở đâu cả.

Thế Tôn bảo tôn giả Tu Bồ Đề :

– Ông hãy dùng thần thông quán sát xem bình bát đã ném nay ở
cõi nào và nơi đâu ?

Vâng thánh chỉ của Phật, tôn giả Tu Bồ Đề liền nhập vào 1
vạn 2 ngàn môn Tam ma địa. Ở trong định ấy, tôn giả quán sát khắp 1 vạn 2 ngàn
cõi Phật nhưng không thấy bình bát ấy ở đâu. Sau khi ra khỏi định, tôn giả thưa
trước Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Con đã dùng sức thần thông, quán sát khắp 1
vạn 2 ngàn cõi Phật nhưng không thấy bình bát ấy ở đâu cả.

Như vậy lần lượt 500 đệ tử Thanh Văn đều dùng thần thông của
mình và sức thiên nhãn quán sát, nhưng đều không thấy bình bát ấy.

Bấy giờ tôn giả Tu Bồ Đề thưa trước đại Bồ tát Từ Thị :

– Nhơn giả được thọ ký còn một đời nữa sẽ được bổ làm Phật ,
cúi xin nhơn giả hãy nhập vào Tam ma địa để quán sát bình bát ấy đang ở đâu để
mà trình cho các đại chúng.

Bồ tát Từ Thị nói với Tu Bồ Đề :

– Thưa tôn giả ! Đúng là tôi được thọ ký còn một đời nữa sẽ
đắc Vô thượng Chánh giác, nhưng tất cả môn Tam ma địa của Bồ tát Diệu Cát
tường
, tên của nó tôi còn không thể biết huống chi chứng nhập, chỉ có Bồ tát
Diệu Cát Tường mới có thể chứng nhập được hết, vì sở hành sở tác đều thông đạt
cả. Thưa Tu Bồ Đề ! Những gì chư Phật Như Lai làm tôi đâu thể biết, cho nên trí
tuệ
thần thông của tôi chưa kịp bằng Bồ tát Diệu Cát Tường. Bình bátThế Tôn
đã ném chỉ có Bồ tát Diệu Cát Tường biết ở đâu thôi. Chúng tôi đã đến khắp nơi
nhưng đều không thể biết.

Thế rồi Tu Bồ Đề thưa trước Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Bồ tát Diệu Cát Tườngcông đức thù
thắng
, ngoài Như Lai ra không ai có thể sánh bằng ông ta được. Ông ta sẽ biết
chỗ bình bát Như Lai đã ném đang ở đâu. Cúi xin Thế Tôn sai Bồ tát Diệu Cát
Tường
dùng đại thần thông lấy bát ấy trở về chúng hội để trình cho đại chúng
làm Phật sự.

Thế Tôn liền bảo Bồ tát Diệu Cát Tường :

– Này Diệu Cát Tường ! Ông là người biết bình bát ấy đang ở
đâu và trụ chỗ nào.

Sau khi nhận lời dạy của Phật, Bồ tát Diệu Cát Tường suy
nghĩ
: “Ta không rời khỏi tòa, không lìa pháp hội của Phật, cũng không ẩn thân
mà vẫn lấy bình bát ấy về trình cho đại chúng. Nghĩ như vậy xong, Bồ tát liền
nhập vào Tam ma địa, ở trong định ấy duỗi tay phải của mình ra qua mỗi mỗi cõi
Phật
thế giới phương dưới, ở trước mỗi đức Phật, tay của Bồ tát phát ra
tiếng như vầy :

– Con nay kính lạy chư Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni của con có
gởi lời thăm hỏi Thế Tôn có ít bệnh, an vui, đi đứng nhẹ nhàng và có khỏe mạnh
không ?

Sau khi gởi lời thăm hỏi, thì ở mỗi lỗ chân lông trong tay
ấy phóng ra trăm ngàn câu chi ánh sáng. Mỗi ánh sáng có trăm ngàn hoa sen, trên
mỗi hoa senNhư Lai ngồi. Mỗi đức Như Lai đều khen ngợi Phật Thích Ca Mâu
Ni
, mỗi thế giới đều chấn động sáu cách, hiện ánh sáng lớn chiếu khắp cõi Phật.
Lại hiện tràng phan, bảo cái đủ loại trang sức để làm Phật sự. Mỗi cõi Phật
cũng đều như vậy. Qua 72 hằng hà sa số cõi Phật rồi lại đến chỗ Phật Quang Minh Vương. Tay ấy lại phát ra tiếng thăm hỏi rất cung kính cũng như
trên, lại phóng trăm ngàn ánh sáng. Trong mỗi ánh sáng có trăm ngàn hoa sen.
Trên mỗi hoa sen đều có Phật ngồi. Chư Phật đều khen ngợi Thích Ca Như Lai. Ánh
sáng chiếu hợp lại thông suốt vô lượng.

Bấy giờ trong hội của Phật Quang Minh VươngBồ tát tên
Quang Tràng đứng dậy thưa trước Quang Minh Vương Như Lai :

– Tay này từ đâu đến mà hiện tướng như vậy lại phóng ánh
sáng này, lại trong ánh sáng hiện ra hoa sen như vậy, trên mỗi hoa sen đều có
chư Như Lai khen ngợi Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì sao có sự việc như thế này, cúi
xin Phật chỉ dạy cho con

Quang Minh Vương Như Lai nói với Bồ tát Quang Tràng :

– Phương trên cách đây 72 hằng hà sa số cõi Phậtthế giới
tên Ta Bà, Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni Ứng Chánh Đẳng Giác, hiện đang giảng pháp
giáo hóa đại chúng, ở đó có Bồ tát tên Diệu Cát Tường có đầy đủ công đức, mặc
áo giáp tinh tấn bất tư nghì, có đại trí lực đã đến bờ bên kia. Ở trong hội
Phật Thích Ca Mâu Ni, Bồ tát ấy ngay nơi tòa duỗi tay phải để đến lấy bình bát
ấy. Do đó mà có sự việc này.

Bấy giờ Quang Minh Vương Như Lai từ nơi giữa chặng mày phóng
ra ánh sáng lớn chiếu khắp 72 hằng hà sa số cõi Phật đến thế giới Ta Bà đều
chiếu rực rỡ rộng lớn. Những chúng sanhthế giới này nhờ ánh sáng chiếu nên
rất vui mừng giống như Vua Chuyển luân. Những người tu hạnh Bồ tát được ánh
sáng này chiếu đều đắc quả, tu hành viên mãn.

Tất cả đại Bồ tát đều đắc môn Nhật Quang Tam ma địa. Những
ai tu hạnh Thanh Văn đều được 8 pháp môn giải thoát. Các Bồ tátcõi Phật
Quang Minh Vương nhờ ánh sáng của Như Lai đều thấy Phật Thích Ca Mâu Nithế
giới Ta Bà
Bồ tát Diệu Cát Tường cùng các chúng Thanh Văn đang vây quanh
nghe thuyết pháp.

Đại Bồ tát Quang Tràng thấy chúng sanh cõi Ta Bà này nghiệp
ô uế nên buồn khóc mà thưa với Quang Minh Vương Như Lai :

– Bạch Thế Tôn ! Con nhờ ánh sáng của Phật nên được
thấy cõi Ta Bà, nhưng cõi Ta bà này đầy dẫy ô uế. Các đại Bồ tát sanh vào cõi
ấy giống như châu báu phệ lưu ly bị chìm trong bùn, việc ấy như thế nào ?

Quang Minh Vương Như Lai nói với Bồ tát Quang Tràng :

– Này Thiện nam tử, ông đừng nói như thế. Những người tu
hạnh Bồ tát trong thế giới của ta đây, tu tập thiền định trong 10 kiếp nhưng không bằng chúng sanh cõi Ta Bà kia phát một tâm niệm Từ Bi Hỷ Xả mà có
thể đạt được vô lượng công đức, tiêu trừ tất cả chướng nặng phiền não. Vì sao ?
– Vì chúng sanh cõi Ta Bà rất dõng mãnh lanh lợi. Cho nên các Bồ tát sanh trong
cõi ấy. Vì ủng hộ Phật pháp, ông chớ nên buồn khóc làm gì.

Các chúng Bồ tát trong hội của Phật Thích Ca Mâu Ni được ánh
sáng chiếu, bèn thưa Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Do nhân duyên gì mà có ánh sáng chiếu khắp
rực rỡ như vậy, và làm cho chúng con rất vui thích, làm cho các chúng sanh diệt
trừ
hết các phiền não ?

Phật Thích Ca Mâu Ni dạy các Bồ tát :

– Này các Thiện nam tử ! Phương dưới cách đây 72 hằng hà sa
số
cõi Phậtthế giới tên Nhật Quang Minh, có Phật Như Lai hiệu Quang Minh
Vương
Ứng Chánh Đẳng Giác, hiện đang giảng pháp giáo hóa chúng sanh, giữa chặng
mày của Phật ấy phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp thế giới này.

Khi ấy các Bồ tát thưa Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Chúng con muốn thấy Phật Quang Minh Vương
và các Bồ tát ở cõi Quang Minh ấy, cúi xin Phật dùng sức thần thông để chúng
con được thấy.

Bấy giờ Phật Thích Ca Mâu Ni hiện tướng bánh xe ngàn căm
dưới chân. Trong bánh xe phóng ánh sáng lớn, chiếu xuống 72 hằng hà sa số cõi
chiếu rực rỡ rộng lớn trong cõi Phật Quang Minh Vương. Các chúng Bồ tát
nương ánh sáng của Phật đều được thấy Phật Quang Minh Vương và các Bồ tát cõi
ấy đạt được pháp môn Diệu Cao Đăng Tam ma địa.

Lúc ấy ánh sáng ở mỗi cõi Phật ở phương dưới chiếu rực rỡ
đến tận khắp cõi Ta Bà này làm cho hai bên nhìn thấy nhau không bị chướng ngại.
Như vậy các thế giới phương dưới cho đến các chúng Bồ tát của cõi Phật Quang Minh Vương các Bồ tátcõi Ta Bà này đều nhìn và chiêm ngưỡng nhau.
như
ánh sáng mặt trời xua tan đi những tăm tối, tất cả chúng sanh đều được thấy
nhau. Khi ấy các đại Bồ tát đều phát tâm tinh tấn cầu đại quả.

Khi Bồ tát Diệu Cát Tường duỗi tay đến trước Quang Minh
Vương
Như Lai đứng giữa hư không sắp lấy bình bát, thì có vô số trăm ngàn câu
chi
na do tha chúng đại Bồ tát ở các cõi Phật cung kính vây quanh theo bình
bátđể lên cõi Ta Bà, và tướng ánh sáng đẹp đẽ ấy cũng dần dần biến mất. Bồ tát
Diệu Cát Tường đặt bình bát ở giữa hư không trước Phật Thích Ca Mâu Ni. Thế rồi
Bồ tát ra khỏi định đứng dậy đến trước Phật, lạy sát chân Ngài và thưa :

– Bạch Thế Tôn ! Con vâng lệnh của Phật, đã lấy bình bát bị
ném từ phương dưới, nay con để giữa hư không trước đức Phật, cúi xin Phật nạp
thọ.

Thế Tôn im lặng nhận. Bấy giờ các Bồ tát trong các cõi Phật
thế giới phương dưới theo bình bát đến, đều cùng nhau đến lễ lạy sát chân
Phật
Thích Ca Mâu Ni và cùng xưng danh hiệu Phật của mình.

Đức Phật Như Lai Chánh Đẳng Cháng Giác… thăm hỏi Thế Tôn
có ít bệnh, an vui, đi đứng nhẹ nhàng, có khỏe mạnh không ? Giáo hóa chúng sanh
mệt mỏi không ?

Sau khi biểu lộ sự cung kính, được Thế Tôn an ủi rồi, các Bồ
tát
ngồi qua một bên.

Bấy giờ Thế Tôn bảo Xá Lợi Tử :

– Ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ nói cho ông về những nhân
duyên
xưa và việc làm trong quá khứ của Bồ tát Diệu Cát Tường.

Xá Lợi Tử vâng lời và lắng nghe :

Phật dạy :

– Này Xá Lợi Tử ! Vô số trăm ngàn Câu chi na do tha kiếp về
quá khứ, có Phật hiệuVô Năng Thắng Tràng Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh
Giác
xuất hiện ra đời. Thế giới đức Phật ấy tên là Bất Khả Hủy, có 8 vạn 4 ngàn
chúng Thanh Văn, 1 vạn 2 ngàn chúng Bồ tát. Đức Phật ấy giảng nói pháp tam thừa
để giáo hóa chúng sanh. Đức Phật ấy cũng ở trong đời ngũ trược, nói 6 pháp
Balamật cho các Bồ tát. Này Xá Lợi Tử ! Lúc bấy giờ có Bí sô tên Trí Vương rất
thông minh trí tuệ, nói thông suốt về pháp giải thoát. Buổi sáng, Bí sô ấy đắp
y
ôm bình bát vào Vương thành theo thứ tự khất thực. Thành ấy tên là Quảng Đại.
Sau khi bình bát đã đầy thức ăn, Bí sô sắp sửa ra khỏi thành thì có con trưởng
giả
tên là Tịnh Tý đang ngồi trong lòng mẹ. Thấy Bí sô ấy ôm bình bát đi
ngang qua, đồng tử liền đến trước Bí sô muốn xin thức ăn uống trong bình bát.
Thấy đồng tử có căn lành thành thục, Bí sô nghĩ đây là đại pháp khí nên lấy một
vắt cơm trong bình bát hoan hỷ đưa cho đồng tử. Được thức ăn, đồng tử phát tâm
hoan hỷ và theo Bí sô Trí Vương đến chỗ Phật Vô Năng Thắng Tràng Như Lai. Bấy
giờ đồng tử đến trước Phật lễ lạy sát chân Ngài. Bí sô Trí vương đem thức ăn đã
xin được đưa cho đồng tử và nói rằng :

– Con hãy đem thức ăn này dâng cúng dường cho đức Thế Tôn
đại chúng, con sẽ được phước đức vô lượng.

Làm đúng như lời Bí sô dạy, đồng tử dâng thức ăn ấy lên Thế
Tôn
, sớt thêm thức ăn vào bát của Thế Tôn nhưng cứ vẫn còn. Sau đó lần lượt
cúng dường đại chúng. Các Bồ tát Thanh Văn trong hội ấy cũng thọ nhận thức ăn,
ai nấy đều no đủ cả mà thức ăn vẫn cứ còn.

Phật dạy Xá Lợi Tử :

Đồng tử Tịnh Tý đã cúng dường với lòng đầy hoan hỷ.

Khi ấy đồng tử đến trước Phật nói kệ :


Đem thức ăn vô tận

Con
cúng Phật, đại chúng

Nay
con cúng dường xong

Chắc
chắn
được phước đức

Thức
ăn
cúng vô tận

Công
đức
Phật vô tận

Nay
con cúng dường Phật

Quyết
được phước vô tận

Đem
thức ăn vô tận

Con
cúng dường Thế Tôn

Để
tăng trưởng căn lành

mãi
mãi
không cùng tận.

Thế rồi, đồng tử đem thức ăn trong bình bát cúng dường Như
Lai
và chúng Thanh Văn Bồ tát suốt bảy ngày, nhờ oai lực của Phật nên
thức ăn vẫn còn.

Khi ấy Bí sô Trí Vương nói với đồng tử :

– Con đã cúng dường xong, bây giờ hãy xin quy y Phật , quy y
Pháp
, quy y Tăng, thọ giới pháp của Phật, thọ trì suốt đời.

Nghe lời dạy Bí sô, đồng tử quy y Phật, Pháp, Tăng.
Sau khi quy y rồi, đồng tử rất hoan hỷ phát tâm Vô thượng Bồ đề. Bấy giờ vì tìm
con nên cha mẹ của Tịnh Ý đi vào trong hội Cực Vô Năng Thắng Tràng Như Lai. Đến
nơi, hai người lạy sát chân Phật rồi đứng qua một bên. Thấy cha mẹ, đồng tử
Tịnh Ý rất vui mừng thăm hỏi và ở trước cha mẹ nói kệ :

Cha
mẹ
nay đến đây

Chư
Phật rất khó gặp

Con
cầu đại Bồ đề


tất cả chúng sanh

Hãy
quán tướng tốt Phật

Thân
phóng ánh sáng đẹp

Những
người có trí tuệ

Nên
cầu quả Bồ đề

Con
nay muốn xuất gia

Xin
cha mẹ cho phép

Con
không thích giàu vui

Bởi
vì Phật khó gặp.

Cha mẹ nói kệ với con mình :

Ta
cho con xuất gia

Hướng
Vô thượng Bồ đề

Ta
theo nhân duyên con

Cũng
sẽ học như vậy.

Phật dạy Xá Lợi Tử :

– Khi ấy đồng tử Tịnh Ý được cha mẹ cho phép xuất gia. Còn
cha mẹ của đồng tửlòng tin ưa sâu sắc cũng lại xuất gia, và quy y Phật,
Pháp, Tăng với lòng hoan hỷ tín thọ. Lúc đó lại có 500 người đồng thời phát tâm
Vô thượng Bồ đề xin xuất gia và được Phật thâu nhận cả.

Phật dạy Xá Lợi Tử :

– Ông nên biết rằng ! Bí sô Trí vương lúc đó không ai khác
chính nay là Bồ tát Diệu Cát Tường. Còn đồng tử Tịnh Ý chính là thân ta.

Này Xá Lợi Tử ! Thuở xưa, ta làm con của trưởng giả, nhờ Bồ
tát
Diệu Cát Tường trao bình bát cho ta, khiến ta phát tâm đại Bồ đề.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử ! Từ lúc mới phát tâm đại Bồ đề đến
lúc chứng quả đầy đủ 10 lực vô úy, tất cả công đức, đầy đủ vô tận trí ta đều
nhờ Bồ tát Diệu Cát Tường hướng dẫn chỉ dạy. Vì sao ? – Vì ta phát tâm giống
như hư không, không có biên giới. Này Xá Lợi Tử ! Tất cả vô lượng vô số Phật ở
mười phương đồng một danh hiệu Phật Thích Ca Mâu Ni, đều giống như ta là được
Diệu Cát Tường khai mở tâm Bồ đề.

Này Xá Lợi Tử ! Ở quá khứ có Kỳ Để Sa Như Lai, Phất Sa Như
Lai
, Nhiên Đăng Như Lai, Thi Khí Như Lai, chư Phật như vậy trong vô lượng kiếp
ta đã khen ngợi danh hiệu của chư Phật ấy. Và chư Phật ấy cũng giống như ta là
được Bồ tát Diệu Cát Tường khai mở đạo tâm, được thành chánh giác chuyển diệu
pháp luân
.

Này Xá Lợi Tử ! Tất cả những ai tu hạnh Bồ tát, đầu
tiên ở cõi trời Đâu Suất, thị hiện tướng giáng sanh ra thế gian. Ban đầu sanh ở
cung vua, sau đó tu những khổ hạnh cho đến khi ngồi đạo tràng cũng đều nhờ Bồ
tát
Diệu Cát Tường giáo hóa chỉ dạy. Này Xá Lợi Tử ! Ông nên biết rằng Bồ tát
Diệu Cát Tường là mẹ của các Bồ tát, vì sanh ra tất cả Bồ tát. Những gì ta nói
đều là sự thật. Những nhân duyên xưa kia như vậy thì ông nên biết như vậy.

Khi đức Phật nói lời này, tất cả cõi Phật 10 phương
đều hiện đủ loại lộng báu đến cúng dường Bồ tát Diệu Cát Tường, trong mỗi lộng
đều phát ánh sáng lớn chiếu khắp cõi Ta Bà, trong lộng lại phát ra âm thanh vi
diệu
.

– Đúng như vậy, đúng như những gì Phật Thích Ca Mâu Ni đã
nói. Đúng vậy, đúng vậy, thuở xưa đều do Bồ tát Diệu Cát Tường làm cho
phát tâm Bồ đề.

Bấy giờ, trong hội của Phật Thích Ca Mâu Ni, có 200 thiên tử
trước đây thối tâm Bồ đề nay thấy Phật Thế TônBồ tát Diệu Cát Tường hiện ra
đủ việc không thể bàn như vậy và nghe Phật nói về nhân duyên xưa kia, nên họ
đều suy nghĩ : “Đại pháp Vô thượng của tất cả chư Phật không thể nào được
nghe, huống chi được thấy công đức của chư Phật Như Lai, ta nay đến trước
Thế Tôn xả bỏ tâm thấp kémphát tâm Vô thượng đại Bồ đề, chắc chắn được quả
Vô thượng đại Bồ đề”. Nghĩ vậy xong, họ liền phát tâm Vô thượng Bồ đề một cách
kiên cố, không thối chuyển.

Hết
quyển thứ hai.

Quyển
thứ ba

Bấy giờ đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni
lại bảo Xá Lợi Phất:

– Ông nên phát tâm Vô thượng Bồ đề, tu các hạnh của Bồ tát,
không nên ưa thích quả Thanh Văn. Vì sao ? Này Xá Lợi Tử ! Vì tất cả chúng sanh
ở trong luân hồi, không biết sợ sệt thì làm sao giải thoát. Cho nên các Bồ tát
nên phát đại tinh tấn ở trong luân hồi mà đủ cách hóa độ để họ sợ sanh tử mà ra
khỏi ba cõi. Nếu ông chỉ thích quả Thanh văn thì không thể nào phát tâm đại Bồ
đề
để cứu độ tất cả chúng sanh. Cho nên tất cả chúng sanh nếu được gặp Bồ tát
khuyên dạy phát sanh tinh tấn thì được giải thoát sanh tử và cũng có thể phát
tâm
Vô thượng Bồ đề.

Này Xá Lợi Tử ! Vào thời quá khứ có Phật ra đời hiệu là Cụ
Túc
Công Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải
, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.
Trong hội của Phật ấy có trăm câu chi chúng Thanh văn, có tám ngàn chúng Bồ
tát
. Đức Phật ấy sống mười vạn tuổi, có hai vị Thanh văn làm thượng thủ. Một vị
tên Xuất Hiệntrí huệ đệ nhất. Còn vị thứ hai tên Phấn Tật có thần thông đệ
nhất. Bấy giờ, đúng giờ ăn Cụ Túc Công Đức Như Lai đắp y ôm bát có đại chúng đi
theo
vào một vương thành theo thứ lớp mà khất thực. Thành này tên Diệu AÂm. Khi
Phật vào thành vị Thanh văn trí huệ đi bên phải đức Phật, vị Thanh văn thần
thông
thì ở bên trái, còn chúng Thanh văn khác đều đi phía sau. Riêng chúng Bồ
tát
thì đi trước hướng dẫn. Lại có Đại Phạm Thiên Vương, Đế Thích, Thiên chủ hộ
đời, Tứ Thiên Vương và các chúng trời đi theo Thế Tôn vào vương thành ấy.

Bấy giờ, trong thành có ba đồng tử trang sức đủ loại đứng ở
bên đường cùng nhau đùa nghịch. Ba đồng tử nhìn thấy Thế Tôn với tướng tốt đẹp
đẽ, oai đức vô lượng, ánh sáng rực rỡ giống như vàng ròng, hình dáng oai nghiêm
như đại long vương. Thấy vậy, ba đồng tử hoan hỉ sanh lòng cung kính. Đồng tử
thứ nhất nói :

– Các bạn thấy đức Phật Thế Tôn kia không ? Là bậc tối tôn
tối thượng trong chúng sanh, có phước đức vô cùng tận, trời người đều cung
kính
. Chúng ta nên cùng nhau cúng dường chắc chắn được quả lớn.

Cùng nhau bàn luận xong, đồng tử thứ nhất nói kệ :

Phật này
tôn quí trong chúng sanh

Bậc xứng
đáng trời người cúng dường

Chúng ta
nên thiết lễ cúng dường

Được quả
báo
lớn không uổng công.

Hai đồng tử còn lại nói kệ :

Tôi bày
cúng dường không hương hoa

Cũng không
có những vật tốt đẹp

Nhưng chỉ
có cả thân mạng này

Sẽ đem
cúng dường Phật Thế Tôn.

Thế rồi đồng tử thứ nhất liền cỡi những trân châu anh lạc
quí báu đeo trên thân giá trị một trăm ngàn lượng vàng nói với hai đồng tử bằng
kệ :

Nay tôi sẽ
đem anh lạc này

Cúng Phật
Như Lai Đại Trí Tôn

Nguyện tôi
sau khi cúng dường Phật

Sẽ được
phước đức đại vô lượng.

Thấy đồng tử này đã dâng cúng dường rồi, hai đồng tử còn lại
cũng đều cởi những anh lạc đeo nơi thân nói đồng tử kia bằng kệ :

Tôi đem
anh lạc dâng cúng dường

Bậc Nhất
Thiết
Tối Thắng Chánh Giác

Đã cúng
dường
với lòng thành này

Nguyện cầu
được chánh pháp của Phật.

Thấy hai đồng tử này cùng dâng cúng anh lạc, đồng tử trước
nói với họ:

– Hai bạn đã làm phước lợi vô tận, đối với Phật pháp nên cầu
những quả gì ?

Đồng tử thứ hai nói :

– Tôi nguyện vào đời đương lai được làm đệ tử ở bên phải của
Thế Tôn và được trí huệ đệ nhất.

Đồng tử thứ ba nói :

– Tôi nguyện vào đời đương lai được làm đệ tử ở bên trái của
đức Phật và được thần thông đệ nhất.

Sau khi nói sở nguyện của mình xong, hai đồng tử lại hỏi
đồng tử thứ nhất :

– Bạn dẫn đường rất giỏi là bạn lành của tôi. Vậy bạn dâng
cúng dường là muốn cầu gì ?

Đồng tử thứ nhất trả lời :

Sở nguyện của tôi là nguyện sẽ đắc quả Vô thượng Bồ đề,
đầy đủ Nhất thiết trí phóng ánh sáng rực rỡ, để tất cả chúng sanh thấy hoan hỉ
phát tâm Bồ đề, giống như Sư tử chúa có đại chúng vây quanh, giống như Phật
ngày nay không khác.

Phật dạy Xá Lợi Tử :

– Khi ba đồng tử ấy phát thệ nguyện thì trong hư không
tám ngàn thiên tử cùng nói rằng : “ Lành thay ! Lành thay ! Các ông nói lời này
rất hay. Sự mong muốn quả thù thắng quyết địnhthật không nghi ngờ”.

Ba đồng tử ấy đều đem anh lạc đến trước Phật. Đức Phật dạy
Xá Lợi Phất:
– Cụ Chư Công Đức Như Lai thấy ba đồng tử đem các anh lạc đến chỗ Phật liền nói
Bí sô Hải Huệ rằng :

– Này Bí sô ! Ông thấy ba đồng tử này không ?

Hải Huệ thưa :

– Bạch Thế Tôn ! Con đã thấy !

Phật dạy :

– Này Bí sô ! Lòng mong cầu của đồng tử thứ nhất khác với
hai đồng tử kia, vì cất chân hạ chân đều tự tại đặc biệt tôn quí giống như
Chuyển Luân Thánh Vương. Giả sử trăm ngàn Phạm Vương, Đế Thích cũng không thể
sánh bằng. Nay đến chỗ Phật mà phát tâm đạo vì muốn cầu được chứng đắc
thượng Bồ đề
.

Đến chỗ Phật, ba đồng tử đều lễ lạy sát chân Thế Tôn và đem
anh lạc dâng cúng dường Thế Tôn, được đức Phật thọ nhận. Nếu ai phát tâm Thanh
văn
thì những anh lạc đã hiến cúng trụ trước Phật. Nếu ai phát tâm Bồ đề thì
anh lạc đã hiến cúng trụ trong hư không phía trên đức Phật, biến thành đài báu
có bốn trụ và được trang hoàng đẹp đẽ, phía trên có vô lượng chư Phật ngồi kiết
già
, hiện các tướng đẹp, đủ những trang nghiêm thù thắng vô lượng.

Bấy giờ, Cụ Chư Công Đức Như Lai liền nhập Tam muội, quán
khắp tướng biến hóa của chư Phật Như Lai. Từ giữa mặt, Phật ấy phóng ra ánh
sáng đủ màu sắc, như xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía, xanh lục. Ánh sáng ấy
chiếu khắp vô biên thế giới lên đến trời Phạm thiên, làm che lấp ánh sáng mặt
trời
mặt trăng. Sau khi ánh sáng ấy chiếu như vậy, rồi nhiễu phải ba vòng và
vào trở lại đảnh đầu của Như Lai.

Bí sô Hải Huệ thưa trước Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Có nhân duyên gì mà phóng ánh sáng này, cúi
xin Thế Tôn chỉ dạy cho con được biết.

Phật dạy Bí sô :

– Ông thấy anh lạc mà hai đồng tử kia cúng dường Phật đang
trụ trước Phật không ?

Bí sô thưa :

– Bạch Thế Tôn ! Con đã thấy.

Phật dạy Bí sô:

– Hai đồng tử này vì cầu quả Thanh văn, ưa thích chứng Tự
lợi
Niết bàn nên không thể phát tâm đại Bồ đề.

Này Bí sô ! Anh lạcđồng tử đầu tiên cúng dường ở trong
hư không phía trên đức Phật, hiện những biến hóa. Người này vì cầu chứng
thượng Bồ đề
, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Còn hai đồng tử kia chỉ thích
trí huệthần thông nên không làm lợi lạc cho chúng sanh. Cho nên sự cúng
dường
ấy cũng không có tướng thù thắng. Ông nên biết ! Ai phát tâm đại Bồ đề
thì được phước đức cũng không thể lường. Nay ông nên xả bỏ tâm Thanh văn
phải cầu Vô thượng Bồ đề.

Phật dạy Xá Lợi Tử :

– Thuở đó, đồng tử phát tâm Bồ đề chẳng phải người nào lạ,
mà chính là ta vậy. Người thích trí huệ chính là ông. Còn người thích thần
thông
chính là Mục Kiền Liên. Thanh văn các ông dù tránh khỏi luân hồi chỉ
thích cầu về Niết bàn, không bao giờ làm lợi ích rộng lớn cho chúng sanh. Chư Phật
thì tâm bình đẳng giống như hư không vô cùng vô tận, phước tụ vô lượngcông
đức vô lượng
vượt qua cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác.

Này Xá Lợi Tử ! Các ông hãy mau phát tâm Vô thượng Bồ đề..

Khi ấy, các đại Thanh văn Xá Lợi Tử, Đại Mục Kiền Liên, Đại
Ca Diếp
, A Nê Lâu Đà, Ưu Ba Ly, Phú Lâu Na, Tu Bồ Đề.v.v.. đồng thanh thưa :

Lành thay, bạch Thế Tôn ! Ngài đã khai mở chỉ đạo một cách
tường tận. Chúng con nay phát tâm đại Bồ đề. Bạch Thế Tôn ! Xin Ngài biết cho.
Thiện nam thiện nữ nào trồng các căn lành muốn cầu giải thoát, nên phát tâm
rộng lớn và hạnh nguyện rộng lớn. Người này sẽ được thấy và nghe chánh pháp với
trăm ngàn chư Phật.

Bạch Thế Tôn ! Chúng con từ xưa đến naytrí huệ hạn hẹp
nên không dám mong cầu trí vô biên của Phật, nay tự trách mình mà phải phát tâm
rộng lớn. Ví như có người sau khi đã tạo nghiệp bất thiện, nếu không ăn năn tội
lỗi
sửa ác theo lành thì không thể nào tránh khỏi những khổ não. Thanh văn
chúng con chỉ cầu tự lợi nếu không bỏ tâm hẹp hòi để cầu trí huệ của Phật thì
cũng không bao giờ mất vô dư Niết bàn (?) lại giống như người sắp chết tâm thức
hôn mê rối loạn, không còn có thể lưu luyến với quyến thuộc yêu thương. Cũng
vậy, con cầu Niết bàn tự lợi không có tâm hóa độ chúng sanh.

Xin Thế Tôn biết cho ! Vô thượng Bồ đề giống như mặt đất.
Tất cả chúng sanh trên thế gian đều nhờ đất mà được tồn tại, nhờ đất mà được
phát triển. Cũng vậy, tất cả căn lành đều nương vào Vô thượng Bồ đề mà được
sanh trưởng.

Bấy giờ trong hội có một vạn người sau khi nghe Phật nói về
nhơn duyên của những việc xưa và nghe Xá Lợi Phất nói như vậy đều phát tâm
thượng Bồ đề
.

Kỳ nọ, vua nước Ma Già Đà sửa soạn xa giá đến chỗ đức Phật.
Sau khi đến hội của Phật, vua đem đầu mặt lạy sát chân Ngài và đi nhiễu Phật ba
vòng rồi ngồi qua một bên. Lúc ấy, vua chắp tay hướng về Phật nhất tâm cung
kính
thưa :

– Bạch Thế Tôn ! Tất cả chúng sanh do đâu mà tạo nghiệp ?
Nhơn duyên tạo nghiệp dựa vào đâu mà tồn tại ?

Phật dạy :

– Này đại vương ! Tất cả chúng sanh, thọ giả cho đến Bổ đặc
già la
đều nương vào thân kiến của ngã mà tồn tại để rồi phân biệt một cách
điên đảo. Do phân biệt nên mới tạo nghiệp. Vì tạo nghiệp nên không được giải
thoát
.

Vua lại hỏi :

– Bạch Thế Tôn ! Thân kiến của ngã lấy gì làm căn bản ?

Phật dạy :

– Lấy vô minh làm căn bản.

Vua hỏi :

– Như vậy nói Vô minh là lấy gì căn bản ?

Phật dạy :

– Lấy tác ý không như lý làm căn bản.

Vua hỏi :

Tác ý không như lý lấy gì làm căn bản ?

Phật dạy :

– Lấy tâm không bình đẳng làm căn bản.

Vua hỏi :

– Sao gọi là tâm không bình đẳng ?

Phật dạy :

– Từ vô thủy đến nay không biết như thật nên gọi là tâm
không
bình đẳng.

Vua hỏi :

– Sao gọi là không biết như thật ?

Phật dạy :

– Từ vô thủy đến nay, tất cả chúng sanh đối với vô lai chấp
là hữu, đó gọi là không biết như thật.

Vua hỏi :

– Vì sao đối với không cho là có nghĩa là sao ?

Phật dạy :

– Vì pháp phân biệt không sanh không thật mà chấp là có
thật.

Vua hỏi :

– Nếu pháp không sanh thì nay lấy gì nói ?

Phật dạy :

– Này đại vương ! Vì thân của ngã còn không, nên pháp không
có gì để nói.

Vua hỏi :

– Bạch Thế Tôn ! Nếu thân là không thì làm sao tạo tác, làm
sao trụ tin vi ?

Phật dạy :

– Này đại vương ! Mặc dầu có tạo tác nhưng không chấp trước
vào nó.

Vua hỏi :

Vậy thì không chấp trước này phải nói thế nào ?

Phật dạy :

Pháp không chấp trước nên nói như thật, đó là lời nói của
bậc Thánh.

Vua hỏi :

– Sao gọi là lời nói như thật ? Sao gọi là lời nói của bậc
Thánh?

Phật dạy :

– Này đại vương ! Đối với tất cả pháp lìa trần kiến,
lời nói chân thật ấy gọi là nói chân thật. Người nào nói chân thật đó là lời
nói
của bậc Thánh. Người nào có lời nói của bậc Thánh tức là người hiểu rõ các
pháp vốn không chỗ sanh nên trụ như vậy, nên học như vậy.

Nghe Phật nói pháp, vua nước Ma Già Đà rất hoan hỉ và thưa
Phật :

– Thật hy hữu thay bạch Thế Tôn ! Ngài đã dạy rất rõ về pháp
chân
thật chưa từng có này. Như Phật Thế Tôn lấy trí vô lậu để làm lợi lạc khắp
cho tất cả chúng sanh, cho nên nói pháp chân thật. Đối với chúng sanh bị nghiệp
tội trói buộc thì không thể nào nghe thọ để tu hành. Con cũngnhư vậy, xin Thế
Tôn
thương nghĩ đến con, từ xưa đến nay, con không gặp bạn lành, do tâm bất
thiện
nên con cũng tạo nhiều nghiệp bất thiện. Vì thế mà con không thể nào gần
gũi Thế Tôn để nghe chánh pháp. Con ở nơi thâm cung, chỉ thích vui chơi ăn uống
yến tiệc, đêm ngày không chút tạm bỏ, nên con không thể đến chỗ đức Phật để
nghe chánh pháp.

Bạch Thế Tôn ! Con nay hối hận tội lỗi và tự trách mình.
Những tội ác xưa đã tạo đã ăn sâu vào tư tưởng của con, ngày đêm không khi nào
thấy an lạc, giống như người tội bị mắc nợ luôn luôn sợ hãi. Thế Tôn có lòng
Đại bi là cha của chúng sanh, làm chỗ nương tựa hco người không nơi nương tựa,
làm người dẫn đường cho người mắt không thấy, làm sự an lạc cho những người đau
khổ
, làm người chỉ đường chánh cho người bị lạc, làm người bố thí trân báu cho
người nghèo thiếu, tâm Ngài bình đẳng không mệt mỏi, làm lợi lạc cho tất cả
không có tư tưởng kẻ oán người thân. Cúi xin Ngài thương xót cứu độ cho con,
nghĩ đến những tội lỗi đã tạo, con rất sợ hãi. Giống như người sắp rớt xuống
hầm hố chỉ mong được cứu vớt. Con sợ đọa trong đường ác, cứu xin Ngài cứu hộ
diệt trừ tội cấu của con, để con được hiểu ngộ chánh pháp.

Biết vua nước Ma Già Đà sám hối tội lỗi, tha thiết phát lộ,
ưa thích pháp sâu xa của Đại thừa, đức Thế Tôn suy nghĩ : “ Bồ tát Diệu Cát
Tường
trí huệ biện tài, có thể giảng nói cho vua”. Nhờ oai lực của đức Phật,
nên tôn giả Xá Lợi Tử biết tâm niệm của Phật bèn nói với vua nước Ma Già Đà :

Đại vương nên biết ! Bồ tát Diệu Cát Tườngbiện tài
lượng
trí huệ vô lượng, nói hoàn hảo về pháp giải thoát. Bồ tát chắc chắn
sẽ giảng nói chánh pháp cho vua để vua khai ngộ đạt được an lạc lớn. Vua nên
thỉnh Bồ tát vào cung cúng dường thức ăn uống để được vô lượng lợi ích.

Tôn giả Xá Lợi Tử lại bảo tất cả nhân dân trong thành Vương
hãy chiêm ngưỡng lễ lạy ca ngợitùy hỷ theo sự nghe thấy, trồng các căn
lành đạt được phước thù thắng.

Theo lời của tôn giả Xá Lợi Phất, vua nước Ma Già Đà liền
thưa với Bồ tát Diệu Cát Tường :

Bồ tát có lòng đại bi xin hãy thương xót con, vào cung để
con cúng dường thức ăn uống. Cúi xin Ngài thương mà nhận lời thỉnh cầu của con.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói với vua :

– Ta nhận lời mời của vua để làm cho vua được thỏa nguyện.
Vua phát tâm thù thắng đó là Ta đã nhận sự cúng dường rồi. Vua ưa thích nghe
pháp
Ta sẽ giảng nói cho.

Này đại vương ! Đối với các pháp không nên chấp trước, đó là
Ta nói pháp cho vua. Đối với các pháp, không nên nghi ngờ, đó là Ta nói pháp
cho vua. Đối với các pháp, không chấp trước vào tướng ba đời, đó là Ta nói pháp
cho vua. Đối với các pháp Niết bàn của Thanh văn, Duyên giác là tướng tịch
diệt
, đó là Ta nói pháp cho vua

Vua thưa với Bồ tát Diệu Cát Tường :

– Cúi xin Bồ tát thương xót con cùng các đại chúng đồng nhận
cúng dường của con.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói :

Đại vương hãy gát qua một bên về việc vua đem thức ăn uống
y phục cúng dường cho đại chúng. Vì sự thương xót mà nhận sự cúng dường, đây
không phải là lợi không phải là phước. Phàm người cúng dường là đối với pháp
nên sanh tâm hy hữu, không có tưởng về tạo tác, không có tưởng ngã, không có
tưởng chúng sanh, không có tưởng thọ mạng, không có tưởng Bổ đặc già la, không
chấp
trước vào tướng mình, không chấp trước vào tướng người. Đó là cúng dường.
Nên quán các pháp không nắm bắt, không có uẩn xứ giới, không có trong không có
ngoài, không ở trong ba cõi chẳng lìa ba cõi, không thiện cũng không ác, không
ưa thích không nhàm chán, chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian, chẳng
phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi, chẳng có
phiền não chẳng lìa phiền não, chẳng phải luân hồi, chẳng phải tịch diệt, ai
quán đúng như vậy là cúng dường.

Vua lại hỏi Bồ tát Diệu Cát Tường :

Bồ tát xin hãy thương xót làm lợi lạc mà nhận sự cúng
dường
của con.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói :

– Này đại vương ! Không nên cầu lợi lạc, không có gì để
thương xót. Vì tâm ấy không chấp trước, không động không chuyển, không khen
không chê, không nắm bắt không xả bỏ, không cầu lợi lạc nên không có gì để
thương xót. Các pháp bình đẳng và không sở đắc. Đó gọi là nhận sự cúng dường.

Này đại vương ! Nếu ai được như vậy thì đó là lợi lạc chân
thật
.

Vua thưa Bồ tát Diệu Cát Tường :

– Pháp vốn là vô tướng và không động tác. Vậy con dâng cúng
sự cúng dường cũng như vậy.

Diệu Cát Tường nói :

Không tánh, vô tướng cũng không động tác. Người nào cầu
pháp
vô tưởng, vô nguyện, vô hành, vô tác cũng không phải vô tác. Vì sao ?
Này đại vương ! Vì tự tánh của các pháp vốn không động, cũng không có tạo tác.
Tự tánh của chúng sanh vốn không nên ba nghiệp không có động tác. Đại vương nên
quán tất cả hành đều vô tác, đó là do hiểu rõ tự tánh của tất cả pháp là không.

Vua nói :

– Các hành có tạo tác sao lại nói là không ?

Diệu Cát Tường nói :

– Này đại vương ! Như pháp quá khứ đã diệt, pháp vị lai chưa
đến, pháp hiện tại không chỗ sanh. Các hành hữu vi cũng như vậy. Sở dĩ không
chấp
vào ba đời vì tất cả đều là vô thường, pháp không tăng cũng không giảm.

Này đại vương ! Nên hiểu rõ các hành là như vậy.

Vua hỏi :

– Hai pháp Thánh đạophiền nãobình đẳng không ?

Diệu Cát Tường nói :

– Hai pháp đều bình đẳng, không tăng không giảm.

Này đại vương ! Khi ánh sáng mặt trời xuất hiệnhòa hợp
với tối tăm không ?

Vua thưa :

– Không ! Khi ánh sáng mặt trời xuất hiện thì những tối tăm
không còn.

Diệu Cát Tường hỏi :

– Vậy khi ánh sáng mặt trời xuất hiện thì những tối tăm ấy
đi về đâu ?

Vua trả lời :

– Những tối tăm ấy cũng không có chỗ đi.

Diệu Cát Tường nói:

Phiền nãoThánh đạo cũng như vậy. Hai pháp này không
gặp nhau cũng không tăng không giảm, chẳng phải trụ chẳng phải không trụ.

Này đại vương ! Vì phiền não bình đẳng nên Thánh đạo cũng
bình đẳng. Vì hai pháp này bình đẳng cho nên các pháp cũng đều bình đẳng.

Đại vương nên biết ! Tánh của phiền não là không, cũng không
có chỗ trụ. Nhờ phiền não mà được Thánh đạo. Vì được Thánh đạo nên không còn
phiền não. Cho nên hai pháp này không tăng không giảm cũng không khác nhau.

Vua hỏi :

Phiền nãoThánh đạo từ đâu sanh ra ?

Diệu Cát Tường nói :

– Do tâm sanh ra. Nếu tâm không sanh thì phiền não không
sanh. Nếu phiền não không sanh thì Thánh đạo không sanh. Cho nên biết rằng,
phải quán phiền não như vậy và Thánh đạo cũng phải quán như vậy. Nếu đã quán
như vậy thì tâm vô sở đắc.

Vua hỏi :

– Pháp Thánh đạo có qui về Niết bàn không ?

Diệu Cát Tường trả lời :

– Không. Vì các pháp không đến không đi. Niết bàn cũng thế.

Vua hỏi :

Thánh đạo trụ thế nào ?

Diệu Cát Tường trả lời :

Thánh đạo trụ như vậy.

Vua hỏi :

Thánh đạo không phải chỗ trụ của giới định huệ sao ?

Diệu Cát Tường nói :

– Các pháp là vô hành, vô tướng xa lìa các hý luận. Nếu là
giới định huệ thì tức là hý luận. Nếu có hành có tướng thì không nên trụ như
vậy. Trụ như vậy tức là chẳng phải trụ chẳng phải bất trụ. Thánh đạo cũng như
vậy.

Vua hỏi :

– Tất cả thiện nam thiện nữ nếu tu hạnh Bồ đề thì có đắc
Thánh đạo không ?

Bồ tát nói :

– Người nào tu Bồ đề thì không có pháp nhỏ nào có thể đắc.
Vì đạo Bồ đề chẳng phải khổ chẳng phải lạc, chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã,
chẳng thường chẳng phải vô thường, chẳng tịnh chẳng uế, không có luân hồi để
nhàm chán, cũng không có Niết bàn để chứng đắc. Cho nên tất cả pháp đều không
thể đắc. Pháp Thánh đạo cũng không thể đắc.

Vua thưa Bồ tát Diệu Cát Tường :

Lành thay ! Đại sĩ thật là hy hữu. Ngài giảng nói rất hoàn
hảo
về pháp giải thoát làm con đều tin hiểu. Con thành tâm cung kính bày sự
cúng dường. Con sẽ dâng thức ăn uống để cúng dường đại chúng, xin Bồ tát đến
chỗ con.

Diệu Cát Tường nói :

Thức ăn không có sự làm, bố thí không có sự thọ. Người bố
thí
và người thọ nhận không hai, không khác. Vua đã thành tâm thì tôi sẽ thọ
nhận.

Bấy giờ, Thế Tôn nói với Bồ tát Diệu Cát Tường :

– Nay đã đúng lúc hãy nhận lời thỉnh của vua để làm lợi ích
lớn cho nhiều người.

Bồ tát Diệu Cát Tường thưa trước Phật :

– Con vâng lệnh Phật đã nhận lời thỉnh cầu của vua, và sẽ
cùng đại chúng thọ nhận sự cúng dường.

Biết Bồ tát Diệu Cát Tường đã nhận lời thỉnh cầu của mình,
vua nước Ma Già Đà rất vui mừng và được an ổn lớn, cung kính lễ lạy Thế Tôn
Bồ tát Diệu Cát Tường cùng các đại chúng. Sau đó vua đến hỏi tôn giả Xá Lợi Tử:

Bồ tát Diệu Cát Tường đã nhận sự cúng dường của con, các
Bồ tát cùng đến là bao nhiêu vị ?

Xá Lợi Tử nói :

– Sẽ đi chung với năm trăm vị Bồ tát đến dự hội của vua.

Bấy giờ vua nước Ma Già Đà về cung trước, sửa soạn nhà rộng
lớn, bảo những người tôi tớ đều phải thanh lọc tâm mình cho thanh tịnh, chuẩn
bị sắp đặt đủ thứ món ăn uống thượng hạng, dựng tràng phan bảo cái và lộng báu
với trân châu tốt đẹp, rải các hoa đẹp, đốt đủ loại hương thơm, gắn trân châu
anh lạc hết trên hoa ấy, trải năm trăm chỗ ngồi. Còn Vương thành thì cho sửa
sang đường xá, rải hoa đốt hương, không còn bụi dơ, dọn sạch sẽ những con đường
ấy.

Khi ấy, nhân dân trong thành nghe Bồ tát Diệu Cát Tường vào
cung vua nhận sự cúng dường, tất cả đều hoan hỉ nhất tâm mong chờ. Ai nấy đều
đem hương hoa đứng chực sẵn bên đường.

Bấy giờ vào đầu đêm, Bồ tát Diệu Cát Tường suy nghĩ : “ Sáng
mai đến chỗ vua thỉnh, Bồ tát đi cùng ta ít quá. Ta nên đến các cõi Phật để mời
các vị đại Bồ tát cùng đi đến thắng hội trang nghiêm trong cung vua. Nếu ta
thuyết pháp cho vua thì các Bồ tát ấy có thể làm chứng minh”. Vừa nghĩ vậy
xong, Bồ tát biến mất, trong chốc lát đã qua tám vạn cõi Phật ở phương Đông,
đến một thế giới tên Thường Thanh. Phật hiệuCát Tường Thanh Như Lai Ứng
Cúng
Chánh Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Ngài giảng nói pháp đại thừa
cho các Bồ tát. Các Bồ tát ấy đều ở vào địa Bất thối chuyển. Trong cõi Phật ấy
có cây bảy báu trổ nhiều hoa quả. Cành lá cây ấy thường phát ra âm thanh vi
diệu
, như là tiếng khen ngợi Phật, tiếng khen ngợi Pháp, tiếng khen ngợi Bồ tát
địa
Bất thối chuyển, thường phát ra tiếng khen Tam bảo như vậy. Nên gọi là thế
giới
Thường Thanh. Sau khi đến cõi đó, Bồ tát Diệu Cát Tường đến trước Cát
Tường
Thanh Như Lai lễ dạy dưới chân ngài và thưa :

– Con từ cõi Ta Bà đến đây. Con được vua nước Ma Già Đà
thỉnh vào cung để cúng dường thức ăn uống, nhưng vì chúng Bồ tát ít quá, nên
con đến thỉnh mời các thượng sĩ đại Bồ tát vào sáng mai đi cùng con đến cung
vua để thọ nhận sự cúng dường của vua, để cho tất cả chúng sanh được phước. Cúi
xin đức Thế Tôn bảo các Bồ tát nhận lời thỉnh cầu của con.

Bấy giờ Cát Tường Thanh Như Lai bảo tám vạn đại Bồ tát :

– Này các nam tử ! Nay Bồ tát Diệu Cát Tường đến thỉnh các
ông đến cung vua nước Ma Già Đà trong thế giới Ta Bà để nhận cúng dường thức ăn
uống. Các ông hãy cùng đi mà làm Phật sự.

Nghe lời dạy đức Thế Tôn, các Bồ tát liền phụng hành. Thế
rồi Bồ tát Diệu Cát Tường làm lễ từ biệt Cát Tường Thanh Như Lai và cùng tám
vạn đại Bồ tát biến mất trở về cõi Ta Bà đến chỗ cũ. Sau khi cùng các đại Bồ
tát
an tọa, Bồ tát Diệu Cát Tường nói :

– Tôi có pháp môn tên là Đại Tổng Trì, nay tôi sẽ giảng nói
phân biệt cho các đại sĩ. Sao gọi là pháp môn Tổng trì ? Nghĩa là người nào
muốn chứng pháp môn Tổng trì thì phải trụ tâm chánh niệm không tán loạn, lìa bỏ
si giận, dùng trí huệ thông đạt tất cả pháp, thực hành đạo của Như Lai đắc môn
biện tài, trụ vào vô tướng, thể nhập tất cả pháp, nắm giữ hết các trí môn, nối
dõi Thánh đạo giữ gìn Tam bảo, nói năng luận bàn điều gì không bị ngưng trệ trở
ngại, hiểu rõ ngôn ngữ của tất cả chúng sanh. Tất cả những thứ ngôn ngữ khác
nhau của trời, rồng, dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma
hầu la
già, nhơn, phi nhơn cho đến Đế Thích, Phạm vương dưới đến loài dị loại
bàng sanh vẫn có thể theo từng ngôn ngữ của chúng mà thuyết pháp, biết rõ căn
tánh
của chúng sanh lợi hay độn, tùy theo hạng ấy mà được hiểu biết, các căn
thanh tịnh tránh xa các tà kiến, bình đẳng an trụ vào pháp môn tổng trì, không
vướng vào tám loại pháp thuận nghịch ở thế gian, viên mãn tất cả thiện pháp
xuất thế, giảng nói cho chúng sanh về hành nghiệp nhơn duyên quả báo để họ được
nhiều an lạc, dùng trí huệ thông đạt tất cả xứ, có thể làm cho chúng sanh vứt
bỏ
những gánh nặng. Tâm không lo buồn , biết tự tánh của các pháp, tùy theo căn
giảng pháp để phù hợp với chứng bệnh làm cho họ tinh tấn đạt được nhiều
thiện lợi. Tâm của Bồ tát hoan hỉ không mong cầu quả báo. Nếu có các căn lành
chỉ hồi hướng lên Nhất thiết trí, cầu Nhất thiết trí, làm lợi lạc lớn cho tất
cả chúng sanh. Đối với lục độ đều hành thành tựu. Hạnh bố thí viên mãn hồi
hướng
lên Nhất thiết trí. Hạnh trì giới viên mãn hồi hướng cho chúng sanh để
chúng được an lạc. Hạnh nhẫn nhục viên mãn được tướng tốt của Phật, trang
nghiêm
đầy đủ. Tinh tấn viên mãn làm thành thục tất cả căn lành. Thiền định
viên mãn đắc pháp tương ưng tự tại vô ngại. Trí huệ viên mãn thông đạt tất cả
pháp. Đối với pháp được tự tại tránh xa các lỗi lầm.

Này thiện nam tử ! Pháp môn tổng trì là như vậy. Nếu đươc pháp
môn
này rồi không bị quên mất. Vì Tổng là giữ gìn Nhất Thiết Trí.

Lại nữa, này thiện nam tử ! Pháp môn Tổng trì lại có thể giữ
gìn
tất cả pháp, nghĩa là hiểu rõ tất cả pháp là không, vô tướng, vô nguyện,
không động, không tạo tác, lìa các phân biệt, không sanh không diệt, chẳng
thường chẳng đoạn, chẳng phải hữu chẳng phải vô, không đến không đi, chẳng
thành chẳng hoại, chẳng tụ chẳng tan, chẳng phải hữu tánh chẳng phải vô tánh,
chẳng phải hữu tưởng chẳng phải vô tưởng, lìa các hí luận, chẳng phải ngã, nhơn,
chúng sanh, thọ giả, Bổ đặc già la, không nắm bắt không xả bỏ, chẳng thấy chẳng
nghe, chẳng hay chẳng biết. Đó gọi là giữ gìn tất cả pháp.

Lại nữa, này thiện nam tử ! Pháp môn Tổng trì còn gọi là giữ
tất cả pháp, vì tự tánh nó là không, như thấy trong mộng, như bọt nước, như
sóng nắng, như hư không.v.v… lại có thể giữ gìn tất cả pháp là khổ, không,
thường
, vô ngã, tịch diệt.v.v.. tự tánh nó không tạo tác, không lạc không khổ,
không đắc không chứng. Pháp môn Tổng trì lại ví như mặt đất vì giữ gìn thế
gian
, không lớn không nhỏ nó đều giữ gìn cũng không mệt mỏi. Đại Bồ tát đắc
pháp
môn Tổng trì cũng như vậy. Vì chúng sanhphát tâm Bồ đề, thâu nhiếp các
căn lành không cho tan mất, dù trải qua atăngkì kiếp cũng không chút biếng nhác
thối lui. Lại như mặt đất có thể nuôi dưỡng vạn vật. Bồ tát đắc pháp môn Tổng
trì
có thể giáo hóa làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Như mặt đất có thể sanh
sản ra cây cối để làm chất dinh dưỡng nuôi chúng sanh. Bồ tát đắc pháp môn Tổng
trì
có thể sanh ra tất cả pháp lành để làm lợi ích chúng sanh. Như mặt đất
không tăng không giảm, giữ gìn vạn vật không cao không thấp. Tâm Bồ tát đắc
pháp
môn Tổng trì cũng như vậy, không tăng không giảm, giữ gìn chúng sanh không
tư tưởng oán hay thân. Như mặt đất nhận nước mưa không bao giờ nhàm chán. Bồ
tát
đắc pháp môn Tổng trì ưa thích nghe thọ pháp hội Bồ tát của Phật không nhàm
chán
. Như mặt đất có thể giữ gìn tất cả hạt giống, theo thời gian tăng trưởng
không bao giờ dừng nghỉ. Bồ tát đắc pháp môn Tổng trì có thể giữ gìn tất cả hạt
giống
pháp lành. Lại như người dũng sĩthế gian, oai lực mạnh mẽ có thể chiến
thắng quân địch khác. Bồ tát đắc pháp môn Tổng trì có đầy đủ tinh tấn, thần
thông
oai đức có thể chiến thắng quân ma.

Này thiện nam tử ! Nên biết rằng : tự tánh của tất cả pháp
không
quên không ghi nhớ, là thường là vô thường, là khổ hay lạc, là tịnh hay
bất tịnh, là ngã hay vô ngã, là hữu tình hay chẳng phải hữu tình, là thọ mạng
hay chẳng phải thọ mạng, là Bổ đặc già la hay chẳng phải Bổ đặc già la.v.v..
Pháp môn Tổng trì cũng như vậy, cũng không ghi nhớ vì các pháp lìa hai tướng,
cũng không quên mất.

Nøy thiện nam tử ! Pháp môn Tổng trì giống như hư không tuy
giữ gìn mặt đất nhưng không có tư tưởng giữ gìn, thâu giữ tất cả pháp mà không
có tướng nắm giữ. Lại như ánh sáng mặt trời chiếu sáng tất cả tướng, pháp môn
Tổng trì có thể quán chiếu tất cả pháp. Lại như chúng sanh có thể giữ tất cả
loại phiền não không bao giờ tan mất. Pháp môn Tổng trì có thể giữ gìn tất cả
pháp không cho tan mất. Lại như chư Phật Bồ tát có bánh xe tâm ghi nhớ có thể
chuyển tâm ý của tất cả chúng sanh. Pháp môn Tổng trì có thể giữ gìn tất cả
pháp mà cũng không có tướng giữ gìn.

Này các thiện nam tử ! Theo những thí dụ đã nói ở trên không
cùng tận các pháp không cùng tận, thì pháp môn Tổng trì cũng không cùng tận. Vì
vô lượng vô biên giống như hư không.

Khi Bồ tát Diệu Cát Tường nói pháp này, trong hội có năm
trăm đại Bồ tát đắc pháp môn đại Tổng trì.


Hết Quyển thứ ba –

Quyển
thứ tư

Bấy giờ vào giữa đêm, Bồ tát Diệu Cát
Tường
giảng nói pháp môn tạng của Bồ tát cho các Bồ tát rằng:

– Này các đại sĩ! Cần phải hiểu rõ pháp môn tạng của các Bồ
tát
, không có một pháp nào nằm ngoài tạng của Bồ tát. Tất cả pháp thế gian hay
xuất thế gian, hữu vi vô vi, thiện hay bất thiện, hữu tướng hay vô tướng, hữu
lậu
, vô lậu đều là tạng của Bồ tát.

Này thiện nam tử! Ví như trong ba ngàn đại thiên thế giới
trăm ức bốn đại châu, có trăm ức mặt trời mặt trăng, có trăm ức núi Tu di, có
trăm ức biển lớn nhưng tất cả không nằm bên ngoài ba ngàn đại thiên thế giới.
Pháp tạng của Bồ tát cũng vậy, tất cả pháp phàm phu, pháp Thanh văn, pháp Duyên
giác cho đến pháp của chư Phật cũng không nằm ngoài tạng của Bồ tát. Vì sao? Vì
Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và chư Phật thừa đều đồng một thừa. Ví như cây
đại thọ dù có thân nhánh cành lá xum suê tươi tốt nhưng cũng cùng chung một
gốc. Tạng Bồ tát vì vốn phát sanh ra pháp tam thừa nhưng không sai khác, nó
rộng lớn không thể nào đo lường được. Ví như biển lớn rộng mênh mông không có
bờ bến, giả sử A tu la vương, các Dạ xoa.v.v.. cho đến các đại lực sĩ muốn
lường biển ấy nhưng không thể nào biết được. Các Thanh văn, Duyên giác, tất cả
chúng trời, người muốn biết pháp tạng của Bồ tát cũng không thể cùng tận được.
Những vị có trí huệ muốn biết pháp giới định huệ của Bồ tát còn không thể biết.
Chỉ có người nhập vào tạng Bồ tát mới tự mình biết được thôi.

Này thiện nam tử! Ví như tất cả chúng sanh cư sống trong
biển lớn chỉ uống nước biển, chứ không thể biết được mùi vị của sông. Người tu
Bồ tát thừa chỉ biết pháp tạng Bồ tát, không thích đạo Thanh văn, Duyên giác.

Này thiện nam tử! Trong tạng Bồ tát còn gọi là ba, đó là
Thanh văn, Duyên giácphàm phu. Chỉ nghe lý Tứ đế mà chứng Niết bàn, đó gọi
là tạng Thanh văn. Chỉ thích lý duyên sanh mà chứng Niết bàn đó gọi là tạng
Duyên giác. Còn tạng Bồ tát là chứng Nhất Thiết Trí.

Này thiện nam tử! Nên biết rằng tạng Thanh văn, tạng Duyên
giác
và tạng Bồ tát đều bình đẳng như nhau. Vì lòng ham muốn của chúng sanh nên
có sự học về tam thừa. Sở dĩ người học cầu Thanh văn là vì trí huệ họ cạn hẹp,
không rộng lượng, sợ khổ luân hồi nên rất ưa thích pháp Tứ đế để chứng Niết bàn
cầu an ổn. Người thích cầu Duyên giác thì tâm còn hạn ngại, không có tâm rộng
rãi
với chúng sanh, không có tâm đại bi để hành hạnh lợi tha, chứng Niết bàn
cho đó là cứu cánh. Đại Bồ tát học tạng Bồ tát với tâm rộng lớn vô lượng, hàng
Thanh văn, Duyên giác không thể đo lường được. Chỉ có các Bồ tát tu học pháp ấy
mới có thể hiểu rõ.

Này thiện nam tử! Thanh văn, Duyên giác chỉ ưa thích thừa
của mình, tu các căn lành để cầu quả Nhị thừa, còn đối với pháp của Bồ tát thì
không thể nào biết được. Các Bồ tát quán pháp Thanh văn thì đối với đạo Tứ đế
đều chứng biết hết tất cả, phân biệt rất rõ nhưng không chứng quả ấy;
Quán pháp của Duyên giác đối với mười hai nhơn duyên Bồ tát đều chứng biết tất
cả, phân biệt rõ nhưng không chứng quả ấy. Bồ tát làm viên mãn các hành và
thông đạt tất cả. Ví như tô báu bằng phệ lưu ly đựng các vật thì những vật ấy
đều cùng một màu trong suốt như nhau. Pháp của Thanh vănDuyên giác khi nhập
vào trong tạng Bồ tát vốn không khác. Cho nên các đại Bồ tát đã nhập vào tạng
Bồ tát rồi thì thấy các pháp bình đẳng không khác nhau, không có tướng pháp của
chư Phật, không có tướng pháp của Bồ tát, không có tướng pháp của Nhị thừa. Với
tất cả pháp không có sự nhớ nghĩ vì lìa các ngôn ngữ văn tự, không nêu ra,
không biểu thị. Vì sao? Vì vô tướng nên không thể quán. Vì vô nghĩa nên không
thể nhớ nghĩ. Người học như vậy là thâu nhiếp Nhất Thiết Trí.

Này thiện nam tử! Đó gọi là tạng Bồ tát, thông đạt tự tại
ngại
như vậy.

Vào cuối đêm, Bồ tát Diệu Cát Tường lại giảng nói câu Kim
cang
về Bất thối chuyển pháp luân cho các đại Bồ tát, Bồ tát nói:

– Này thiện nam tử! Nếu đại Bồ tát nào khéo giảng pháp để
người nghe hiểu rõ ràng, người nói người nghe tất cả đều là pháp bất thối chuyển,
nó không động chuyển không bị hư hoại.

Này thiện nam tử! Pháp bất thối chuyển dù thừa hay cảnh giới
của thừa, dù Phật, Pháp, Tăng cũng đều là bất thối chuyển luân. Vì sao? Bất
thối chuyển
luân là pháp giới. Nếu lìa pháp giới thì không do đâu sanh, luân ấy
không có tướng chuyển nên gọi đó là chuyển pháp luân. Không khác không hai tức
tự tánh của pháp giới.

Này thiện nam tử! Cho nên người nào tu các hạnh Bồ tát
biết như vậy thì được giải thoát, được bất thối chuyển luân. Đại Bồ tát biết rõ
như vậy là đã giải thoát sẽ được chứng quả Như Lai, làm lợi ích lớn cho tất cả
chúng sanh, đối với môn giải thoát không có hai pháp để đắc. Tướng giải thoát
của Như Lai và tướng giải thoát của tất cả pháp đều như nhau. Tất cả pháp không
có tướng giải thoát cũng không có hai tướng. Vì sao? Vì thân chẳng giải thoát,
tâm cũng chẳng giải thoát. Vì tự tánh của hai pháp là tướng giải thoát. Tất cả
pháp cũng như vậy. Các Bồ tát biết rõ như vậy tức là Bất thối chuyển luân.

Thiện nam tử nên biết rằng, bất thối chuyển luân không có
chỗ chuyển. Vì sao? Vì sắc và tự tánh của sắc vốn không có chỗ chuyển, Thọ
tưởng hành thức
cũng vậy, tự tánh của thức cũng không có chỗ chuyển. Tự tánh
của các pháp đều không có chỗ chuyển, đó tức là xe bất thối chuyển luân. Luân
ấy vốn xưa nay không hư hoại, chẳng phải tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải
có sở đắc, chẳng phải không sở đắc, chẳng nói chẳng phải không nói, không danh
tự
, không chấp trước.

Lại nữa, tướng không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn
pháp phân biệt không thể đắc, do đâu mà đắc? Tất cả tướng ấy giống như
không
, không có chỗ nương tựa. Tự tánh của các pháp không có chỗ để trụ, đó gọi
là câu Kim cang về bất thối chuyển luân.

Này thiện nam tử! Tánh không của các pháp không thể phá
hoại
. Câu Kim cang ấy lìa tất cả kiến nên trụ như vậy, đó là không giải thoát
môn
. Câu Kim cang ấy lìa các phân biệt, nên trụ như vậy, đó là vô tướng giải
thoát môn
. Câu Kim cang ấy xa lìa các nghi hoặc, nên trụ như vậy, đó là
nguyện
giải thoát môn. Câu Kim cang ấy xa lìa các hữu chấp, nên trụ như vậy, đó
pháp giới. Câu Kim cang xa lìa tất cả pháp, không có ngã, không tạo tác,
không tham, không chấp trước, tự tánh an trụ vào Niết bàn thanh tịnh. Đó gọi là
câu Kim cang.

Vào đầu đêm, giữa đêm và cuối đêm, Bồ tát Diệu Cát Tường đã
nói tất cả pháp cho các Bồ tát. Các Bồ tát ấy đều đắc pháp môn quang Minh Hoa
Tam ma địa. Từ trong lỗ chân lông trên thân của các Bồ tát ấy phóng ra trăm
ngàn ánh sáng. Trong mỗi ánh sáng hiện ra trăm ngàn chư Phật. Mỗi đức Phật
mười phương thế giới vì các chúng sanhthi hành Phật sự.

Sau khi đã chuẩn bị những thức ăn uống xong, vua nước Ma Già
Đà
vào sáng sớm đến chỗ Bồ tát Diệu Cát Tường, thưa với Bồ tát rằng:

– Nay đã đến giờ xin ngài hãy đến nhận sự cúng dường của
con.

Bồ tát nhận lời thỉnh, vua liền trở về cung.

Bấy giờ, vào buổi sáng, tôn giả Đại Ca Diếp đắp y ôm bát
cùng 500 Bí sô vào đại thành Vương xá theo thứ lớp mà khất thực. Đi nửa đường
tôn giả suy nghĩ: “ Bây giờ ta không vào thành này mà hãy đến chỗ của Bồ tát
Diệu Cát Tường để nghe chánh pháp”. Suy nghĩ vậy xong tôn giả cùng chúng Bí sô
đến chỗ Bồ tát Diệu Cát Tường. Đến đó, tôn giả vui mừng kính lễ thăm hỏi Bồ tát
rồi đứng lui qua một bên.

Khi ấy, Bồ tát Diệu Cát Tường hỏi tôn giả Đại Ca Diếp:

– Vì sao đến giờ ăn mà Ca Diếp lại ôm bát đến đây?

Ca Diếp thưa:

– Tôi định vào thành Vương xá để khất thực nhưng tôi đến đây
trước.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói:

– Tôi sẽ cúng dường thức ăn uống cho ông và chúng Bí sô nhé!

Ca Diếp trả lời:

– Thưa Bồ tát! Không được đâu! Tôi đến đây là vì nghe pháp
chứ chẳng phải xin thức ăn uống.

Diệu Cát Tường nói:

Tôn giả nên biết, người cầu đạo có hai loại để nuôi dưỡng,
một là thức ăn uống và hai là diệu pháp.

Ca Diếp thưa:

– Thưa Đại sĩ! Hữu tình trên thế gian nếu lìa ăn uống thì
không phù hợp được, không thể nuôi dưỡng sắc thân thì làm sao có thể nghe thọ
chánh pháp?

Bồ tát Diệu Cát Tường nói:

Tôn giả hãy nhận thức ăn uống. Tôi sẽ cúng dường cho ông.
Sau khi được nhận sự cúng dường thì không lìa luân hồi, không chứng Niết bàn,
chẳng lìa pháp dị sanh, không lìa pháp Thánh đạo. Vì sao? Vì người được cúng
dường
và người cúng dường không tăng không giảm, không có pháp để sanh không
pháp để diệt, không có pháp để học cũng không có pháp để đắc cho nên tôi sẽ
cúng dường thức ăn uống cho ông.

Ca Diếp thưa Bồ tát Diệu Cát Tường:

Lành thay! Bồ tátđại thí chủ. Người bố thí như vậy
chính là chơn bố thí.

Bấy giờ, Bồ tát Diệu Cát Tường suy nghĩ: “ Ta hãy vào đại
thành
Vương xá vì vua nước Ma Già Đàlàm Phật sự lớn”. Nghĩ vậy xong, Bồ tát
liền nhập vào Nhất Thiết Thần Thông Biến Hóa tam ma địa. Ở trong tam ma địa ấy
phóng ánh sáng lớn, chiếu khắp thế giới Ta Bà, thấy ba ngàn đại thiên thế giới
rõ như lòng bàn tay. Tất cả loài hữu tình địa ngục bàng sanh nhờ ánh sáng ấy
chiếu đến đều được lìa các khổ, không có một chúng sanh nào sanh tâm ba độc,
cũng không còn oán ghét thù nhau, yêu thương nhau như con như mẹ, Tất cả ba
ngàn đại thiên thế giới đều chấn động sáu cách. Khi ấy các Thiên tử ở cõi Dục
cõi Sắc đều đến cúng dường Bồ tát Diệu Cát Tường. Họ tấu lên trăm ngàn điệu
nhạc, mưa hoa đẹp của trời đầy ngập khắp đường để làm trang nghiêm. Bồ tát Diệu
Cát Tường
dùng thần lực khiến cho con đường ấy đều bằng phẳng giống như bàn
tay, trang hoàng với vô số trân bảo, rải hoa đẹp lớn như bánh xe. Đó là những
loại hoa Ưu bát la, Câu mẫu đà, Bôn noa lợi ca.v.v… lại dùng tràng lưới báu
che phía trên, dựng các tràng phan bảo cái đầy khắp hư không. Lại hiện đài bảy
báu
và các cây báu. Trên cây báu ấy, hoa quả bằng phệ lưu ly báu, dùng các dây
báu mà nối kết lại với nhau. Mỗi cây hoa báu đều tỏa ra mùi thơm vi diệu bay
khắp cả do tuần. Giữa rặng cây ấy có ao dưới đáy bằng cát vàng ròng chứa đầy
nước tám công đức và mọc nhiều hoa đẹp. Đó là hoa Ưu bát la, Bát nạp ma, Câu
mẫu đà, Bôn noa lợi ca.v.v…

Lại có những giống chim uyên ương, chim nhạn, vịt trời qua
lại trong đó. Dưới mỗi gốc cây có 25 thiên nữ cầm hương chiên đàn để cúng
dường
. Ở trong định, Bồ tát Diệu Cát Tường hiện ra những sự việc thù thắng như
vậy. Sau khi xuất định, Bồ tát nói với tôn giả Ca Diếp:

– Bây giờ tôi với ông đến đại thành Vương xá, vào cung vua
nước Ma Già Đà để thọ sự cúng dường thức ăn. Đại đức là bực kỳ túc nên đi
trước
. Còn tôi phải đi sau.

Ca Diếp thưa:

– Thưa Bồ tát! Như vậy không được. Đại sĩđại trí huệ,
thần thông vô lượng, đa văn biện tài, nói thông suốt về pháp giải thoát, được
Phật Thế Tôn của tôi khen ngợi. Chúng sanh thấy đều phát tâm Bồ đề tu hạnh Bồ
tát
. Trong chúng Thanh văn, tuy tôi gọi là bậc kỳ túc nhưng không làm được, sao
dám đi trước được, tôi xin đi sau Bồ tát. Vì sao? Vì tất cả chúng sanh mới phát
tâm
Bồ đề và tất cả Thanh văn, Duyên giác đối với bản thân tôi còn không sánh
kịp, huống chi bằng người hành lâu đạo Bồ tát. Ví như Sư tử con mới sanh liền
sức mạnh lớn, mạnh mẽ xông xáo không sợ sệt gì cả, mùi trên thân nó lan tỏa
theo gió, bầy thú nào nghe được cũng đều kinh hãi, cho đến voi lớn tuy có nhiều
sức mạnh, tất cả thế gian không ai điều phục được vậy mà nó nghe mùi của Sư tử con
mới sanh cũng phải kinh sợ. Chúng sanh nào phát tâm Bồ đề dõng mãnh kiên cố thì
tất cả chúng ma đều lo sợ, Thanh văn, Duyên giác không sao sánh kịp. Nghe Phật
nói pháp đại thừa, các đại Bồ tát tâm bất động rất hoan hỷ và rống lên tiếng
tử
điều phục được tất cả. Cho nên Bồ tát Diệu Cát Tường ở trong chơn pháp không
tam thừa, chỉ lấy tâm Bồ đề làm trên hết. Vì tất cả các pháp lành đều do tâm
Bồ đề sanh ra. Nay Bồ tát đi trước giống như tâm Bồ đề sanh ra vô lượng pháp
lành.

Thế rồi, Bồ tát Diệu Cát Tường đi trước, chúng đại Bồ tát đi
hai bên, chúng Thanh văn đi phía sau, rời khỏi trụ xứ vào thành Vương xá. Khi
ấy trời mưa nhiều loại hoa, trên hư không trỗi lên trăm ngàn âm nhạc, phóng đại
ánh sáng lớn chiếu khắp đại chúng, trong ánh sáng ấy lại mưa nhiều hoa sen.
Nhân dân trong thành Vương xá được thấy Bồ tát, lòng họ rất vui mừng, đem các
hương hoa để rải cúng dường.

Bấy giờ, nghe Bồ tát Diệu Cát Tường cùng tám vạn đại Bồ tát
và 500 chúng Thanh văn đến hội, vua nước Ma Già Đà suy nghĩ: “ Ta đã chuẩn bị
xong 500 phần thức ăn uống, nay chúng Bồ tát này rất đông, thức ăn thì ít
bây giờ làm sao cho đủ đây, lại ngồi đâu cho đủ”. Trong lúc vua đang nghĩ vậy,
Bồ tát Diệu Cát Tường liền sai Đa Văn Thiên Vươngcung tỳ la, chủ đại Dạ xoa
trong chốc lát biến thành đồng tử đến trước vua thưa:

Đại vương đừng lo lắng suy nghĩ, Bồ tát Diệu Cát Tường
đại phương tiện, phước đức trí huệ không thể nghĩ bàn, có thể đem một phần thức
ăn
cung cấp cho tất cả chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới, tất cả đều
no đủ mà thức ăn vẫn còn dư. Nay tám vạn Bồ tát và 500 chúng Thanh văn này, số
ấy không nhiều vua có gì phải lo. Vì sao? Vì Bồ tát Diệu Cát Tườngphước đức
trí huệ vốn vô cùng tận, thức ăn cũng vô tận.

Nghe họ nói vậy, vua nước Ma Già Đà rất vui mừng, sung
sướng
, đối với Bồ tát Diệu Cát Tường vua cung kính tôn trọng thật thắng phục,
cùng quyến thuộc đem hương hoa, hương vụn, hương xoa… trỗi các âm nhạc ra đón
Bồ tát. Thấy Bồ tát, vua quì lạy, thăm hỏi rải hoa hương và đi trước đưa Bồ tát
vào cung vua.

Sau khi đến cung vua, Bồ tát Diệu Cát Tường nói với Bồ tát
Phổ Chiếu:

– Này thiện nam tử! Ông hãy sửa soạn đạo tràng, đã đến giờ
rồi.

Nhận lệnh, Bồ tát Phổ Chiếu liền dùng sức thần thông làm cho
cung điện của vua bỗng nhiên rộng lớn sạch đẹp, trang hoàng đủ cách không có gì
làm trở ngại, treo các loại hoa, dựng tràng phan bảo cái anh lạc, trang hoàng
thành đạo tràng vĩ đại nhất. Bồ tát Diệu Cát Tường lại bảo Bồ tát Pháp Thượng:

– Này thiện nam tử! Ông hãy vì tôi mà sắp đặt tòa thượng
diệu cho các đại chúng.

Khi ấy trong khảy móng tay, Bồ tát Pháp Thượng liền triệu
tập
tám vạn ba ngàn tòa tốt đẹp hiện ra nơi đạo tràng được trang nghiêm đủ loại
trân báu. Những tòa ấy đầy khắp trong đạo tràng mà không chật chội.

Bấy giờ, Bồ tát Diệu Cát Tường liền đến tòa ngồi, bảo các
chúng Thanh văn, Bồ tát đến chỗ ngồi của mình.

Lúc này vua nước Ma Già Đà thưa trước Bồ tát Diệu Cát Tường:

– Cúi xin Bồ tátđại chúng thương xót con, đợi một chút
nữa thức ăn uống sẽ mang đến.

Bấy giờ, Tứ Đại Thiên Vương cùng các quyến thuộc đến nơi đạo
tràng
, lễ lạy cúng dường Bồ tát Diệu Cát Tườngđại chúng. Lại có Đế Thích
Thiên
Chủ cùng các quyến thuộcquyến thuộc A tu la đều đem hương vụn chiên
đàn
đến đạo tràng cúng dường đại chúng. Lại có Đại Phạm Thiên Vương chủ cõi Ta
biến thành đồng tử cùng các chúng Phạm đứng làm thị giả hai bên, ai cũng cầm
phất báu đến đạo tràng. Sau khi lễ lạy Bồ tát Diệu Cát Tường rồi đứng qua một
bên. Các Phạm chúng đến cũng cầm phất báu và đứng qua một bên các Bồ tát
chúng Thanh văn. Lại có Vô Nhiệt Não Long vương đến đạo tràng đứng giữa
không
, ẩn thân thòng xuống những anh lạc. Trong anh lạc tuông ra nước tám công
đức
tất cả đại chúng dùng không hết.

Bấy giờ vua nước Ma Già Đà nghĩ như vầy: “ Các Bồ tát này
đều không có bình bát làm sao mà ăn?” Biết tâm niệm của vua, Bồ tát Diệu Cát
Tường
nói với vua:

– Vua đừng nghĩ như vậy, các Bồ tát này không mang bình bát.
Khi nào cần thì sẽ có tất cả bình bátcõi Phật của họ tự nhiên đến.

Vua rất vui mừng liền thưa Bồ tát Diệu Cát Tường:

– Các Bồ tát này ở cõi Phật nào và từ đâu đến? Con muốn nghe
danh hiệu Phật và quốc độ của các Bồ tát đã đến đây.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói:

Đại vương nên biết! Phương Đông có cõi tên là Thường
Thanh. Phật hiệu Cát Tường Thanh Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác hiện
đang thuyết pháp. Các Bồ tát này từ cõi đó đến thọ nhận sự cúng dường của vua,
để cho đại vương thấy được việc hy hữu.

Ngay lúc đó, thế giới Thường Thanh đem đến tám vạn ba ngàn
bát báu. Nhờ sức oai thần của Phật ấy và sức hạnh nguyện của các Bồ tát mà bát
báu ấy từ hư không đến thế giới Ta Bà này. Đến ao Vô Nhiệt Não có tám vạn ba
ngàn long nữ lấy nước tám công đức để rửa sạch rồi tất cả đem đến trước các Bồ
tát
. Thấy sự việc như vậy, vua nước Ma Già Đà khen ngợi thật không thể nghĩ bàn
chưa từng có, lòng vua rất vui mừng.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói với vua:

Bình bát của các Bồ tát đã đến rồi, vua hãy sớt thức ăn
uống cúng dường đại chúng.

Vua liền đem tất cả thức ăn uống đã chuẩn bị xong dâng lên
cúng dường Bồ tát và các đại chúng.

Bấy giờ đại chúng trong đạo tràng, ai nấy đều no đủ không có
một vị nào thiếu thốn. Thấy thức ăn uống vẫn còn dư, vua thưa Bồ tát Diệu Cát
Tường
:

– Thật hy hữu thay, thưa Đại Sĩ! Con đem ít thức ăn cúng
dường
khắp đại chúng mà vẫn còn dư.

Bồ tát nói:

– Này đại vương! Pháp chân thật không cùng tận nên thức ăn
từ nơi sanh cũng không cùng tận.

Sau khi ăn xong, các đại chúng Bồ tát đều ném bát lên
không
, không bị lay động.

Vua thưa Bồ tát:

– Bát ấy trụ ở đâu?

Bồ tát nói:

– Này đại vương! Pháp chân thật có chỗ trụ không?

Vua trả lời:

Pháp chân thật không có chỗ trụ.

Bồ tát nói:

Đại vương nên biết! Pháp chân thật không có chỗ trụ, bát
ấy cũng không có chỗ trụ. Nếu bát có chỗ trụ thì các pháp cũng thế.

Đại vương nên biết! Vì tánh của các pháp là không nên phải
trụ như vậy.

Sau khi cúng dường Bồ tát Diệu Cát Tường và các đại chúng
xong, vua nước Ma Già Đà đứng trước Bồ tát nói với lòng khao khát được nghe
pháp
của Bồ tát, vua liền thưa Bồ tát Diệu Cát Tường:

Bồ tát có lòng đại bi vì con mà nói pháp hy hữu!

Bồ tát nói:

– Này đại vương! Pháp hy hữu nghĩa là giả sử hằng hà sa số
chư Phật Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác trải qua trăm ngàn kiếp cũng nói
không hết.

Nghe nói vậy, vua kinh hãi mê muội không vui, khi ấy tôn giả
Đại Ca Diếp nói với vua:

– Vua đừng cho rằng hằng hà sa số chư Phật không thể giảng
nói pháp hy hữu, hay Bồ tát Diệu Cát Tường cũng không thể nói. Nhưng vì pháp
của chư Phật không cùng tận chẳng phải dùng lời nói mà có thể hết được. Ông hãy
theo sự ưa thích của mình mà hỏi Bồ tát Diệu Cát Tường. Đại sĩ này có vô lượng
sức phương tiện thiện xảo chắc chắn có thể nói pháp hy hữu cho ông.

Nghe nói vậy, vua liền tỉnh ngộ và thưa tôn giả rằng:

– Vừa nghe Bồ tát nói, tôi có nghi ngờ, nhờ tôn giả nói làm
tôi tỉnh ngộ.

Vua liền thưa Bồ tát Diệu Cát Tường:

Bồ tát cũng như hằng hà sa số chư Phật đều không thể nói
pháp hy hữu, con nghe như vậy, lòng con không hoang mang cúi xin Bồ tát quyết
nghi
cho con.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói:

– Này đại vương! Hằng hà sa số chư Phật đều có thể nói pháp
hy hữu. Pháp mà không có gì để nói đó là pháp hy hữu.

Này đại vương! Đối với tất cả pháp, tâm không chỗ trụ, pháp
ấy không thể nói. Chư Phật Như Lai cũng không thể nói. Đối với chư Phật Thế
Tôn
, đại vương có thấy tướng không?

Vua trả lời:

– Không!

Bồ tát lại hỏi:

– Tâm sanh có thể thấy không? Tâm diệt có thể thấy không?

Vua trả lời:

– Không!

Bồ tát hỏi:

Pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp chân thật, pháp hư vọng đều
có thể thấy không?

Vua trả lời:

– Không thể thấy.

Bồ tát hỏi:

– Với tất cả pháp có tướng để thấy, với tất cả pháp có gì để
nói không?

Vua trả lời:

– Không!

Bồ tát Diệu Cát Tường nói:

– Này đại vương! Do nghĩa như vậy nên ta nói rằng: Pháp hy
hữu
, hằng hà sa số chư Phật không thể giảng nói. Còn nữa này đại vương!
không
không có tướng cũng không chuyển động, khói, mây, bụi, sương không thể
dính vào. Tánh của hư không vốn là thanh tịnh, không có pháp nào nhiễm cũng
không có pháp nào tịnh. Chư Phật Như Lai hiểu rõ tất cả pháp giống như
không
. Vì nghĩa đó mà hằng hà sa số chư Phật nói không thể hết.

Lại nữa này đại vương! Trong tướng vô trụ, chư Phật Như Lai
ngưng đọng bất động hoạt dụng mà thường tịch. Vì sao? Vì pháp không thay đổi,
vì lìa xứ chẳng phải xứ. Pháp không thể đắc vì lìa các tướng thủ. Đại vương nên
biết! Các pháp chẳng phải sanh cũng chẳng phải không sanh, chẳng lớn
chẳng nhỏ, chẳng chơn thật chẳng phải không chân thật, chẳng phải hữu tưởng
chẳng phải vô tưởng, không tạo tác chẳng phải không tạo tác, không trí huệ
không ngu si, không thủ tướng chẳng phải không thủ tướng, chẳng tập chẳng tan,
không đến không đi, chẳng điên đảo chẳng lìa điên đảo, chẳng phải là phiền não
chẳng phải lìa phiền não, chẳng phải tự nhiên sanh, chẳng phải do vật khác
sanh.

Này đại vương! Các pháp như hư không không chuyển động, các
pháp không gì bằng vì không bạn bè; các pháp không có hai tướng vì không phân
biệt
; các pháp khôngbiên giới vì không thể thấy, các pháp không có đo lường
vì chẳng có lớn nhỏ, các pháp không cùng tận vì thường chuyển, các pháp rộng
lớn vì biến khắp pháp giới, các pháp không có chỗ trụ vì không có trong, ngoài,
chặng giữa, các pháp không phân biệt vì lìa vọng tưởng. Các pháp là thường vì
không biến đổi, các pháp là lạc vì không khổ não. Các pháp có chủ tể vì lìa
vọng chấp. Các pháp là thanh tịnh vì không có cấu nhiễm. Các pháp tịch tịnh vì
luôn lắng trong. Các pháp không chỗ đắc vì lìa ngã tướng. Các pháp không thể
lạc vì giải thoát tướng. Các pháp không bỏ thử vì lìa ngã thủ. Các pháp
không
phá hoại vì lìa các tướng. Các pháp một vị vì đồng tánh giải thoát. Các
pháp một tướng vì lìa các dị tưởng. Các pháp đều không vì lìa các kiến. Các
pháp vô tướng vì tướng thanh tịnh. Các pháp vô nguyện vì lìa ba đời. Các pháp
không
ngoài ba đờiquá khứ, hiện tại, vị lai không thể đắc. Sanh tử, Niết
bàn
vốn bình đẳng nên các pháp đều bình đẳng.

Này đại vương! Các pháp đã như vậy thì phiền não nghi ngờ
còn sanh không?

Vua trả lời:

– Không! Vì các pháp đều không, nên phiền não nghi ngờ làm
sao còn.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói:

– Nếu phiền não không sanh thì pháp không nói. Tánh phiền
não
không là bình đẳng với các pháp. Sanh tử Niết bàn vốn bình đẳng. Phiền não
Bồ đề cũng bình đẳng.


Hết quyển thứ tư –

Quyển
thứ năm.

Lại nữa, này đại vương! Pháp hy hữu
rất sâu xa khó hiểu, là tướng tịch diệt của tất cả pháp, chẳng nắm bắt, chẳng
xả bỏ, chẳng tụ tập, chẳng tan rã, do nhơn duyên sanh, không có chủ tể. Vì do
duyên sanh nên chẳng phải mình chẳng phải người, các pháp khôngtự tánh. Vì
tự tánh là không, nên nó không sở đắc. Do không sở đắc nên tất cả pháp tịch
tịnh. Tướng tịch tịnh là tướng chân thật. Đại vương nên có lòng tin chân chánh
nên tu học như vậy, nên quán sát như vậy. Nếu học như vậy là lìa tất cả tướng,
chẳng phải có sở học chẳng phải không có sở học, không được không mất. Nếu hiểu
như vậy là chánh giải thoát. Tướng giải thoát là các pháp. Tánh không của
các pháp là nghĩa chân thật, tức là không chấp trước không hạn ngại. Nên đó gọi
là pháp hy hữu vô thượng.

Lại nữa, này đại vương! Ông nên biết rằng nhãn căn chẳng
nhiễm chẳng tịnh. Vì sao ? Vì tự tánh của nhãn căn vốn chân thật. Nhĩ, tỷ,
thiệt, thân căn cũng chẳng nhiễm chẳng tịnh, vì tự tánh của chúng vốn chân
thật
.

Này đại vương! Sắc chẳng nhiễm chẳng tịnh, thọ tưởng hành
thức
cũng chẳng nhiễm chẳng tịnh. Vì sao ? Vì tự tánh của uẩn vốn chân thật.
Cho đến tất cả pháp cũng như vậy chẳng nhiễm chẳng tịnh vì tự tánh vốn chân
thật
.

Đại vương nên biết! Tâm khônghình tướng nên mắt không
chỗ quán tâm không chỗ trụ. Trong, ngoài, chặn giữa đều không thể đắc. Vì sao ?
tự tánh của tâm chẳng nhiễm chẳng tịnh, không tăng giảm không động chuyển.
Cho nên này đại vương! Nên quán như thật đừng có nghi ngờ hãy trụ vào pháp chân
thật. Vì tâm này chân thật nên các pháp cũng như vậy.

Này đại vương! Ví như hư không lìa các sắc tướng, cũng không
động chuyển. Nếu có người nói rằng : “ Ta lấy khói, mây, bụi, sương làm ô nhiễm
hư không” thì điều này ông có tin không ?

Vua trả lời :

– Không! Vì hư không không có tướng nên không bị ô nhiễm.

Bồ tát nói :

– Tâm cũng như vậy, xưa nay vốn thanh tịnh không chứa chấp
trần cấu. Cũng vậy, cho đến tất cả pháp, tự tánh nó không nhiễm.

Lại nữa, này đại vương! Tất cả pháp và pháp giới chẳng hợp
chẳng lìa, vốn tánh bình đẳng không có sai khác. Nếu ai hiểu rõ điều này tức là
đối với các pháp không bị chướng ngại cũng không tăng không giảm.

Khi Bồ tát Diệu Cát Tường nói pháp này, vua Ma Già Đà giác
ngộ
tánh không của các pháp, lòng rất vui mừng lập tức đắc được Vô sanh pháp
nhẫn
, phát tâm hy hữu, chắp tay cung kính thưa với Bồ tát Diệu Cát Tường :

Bồ tát có lòng đại biphương tiện thiện xảo, pháp ngài
nói rất là hy hữu, vi diệu sâu xa, xưa con chưa từng được nghe. Hôm nay,
con không còn nghi ngờ gì nữa, tâm đã được khai sáng.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói :

– Này đại vương! Đừng nói rằng : Nghi ngờ đã được trừ, nếu
ai nói như vậy tức là chưa đoạn được các tướng. Vì còn có tướng ở nơi tâm thì
đó là đại nghi ngờ.

Đại vương nên biết! Các pháp tịch diệt không nói năng, không
biểu thị không nghe không đắc, thì chẳng lẽ có nghi ngờ để trừ sao ?

Vua nói :

– Thưa Bồ tát! Nếu như vậy thì tất cả phiền não tham sân
si
… có làm chướng ngại tâm không ?

Bồ tát nói :

– Này đại vương! Trước đây ta đã nói hư không vốn thanh tịnh
không bị nhiễm, nghĩa ấy như vậy. Này đại vương! Tâm vốn thanh tịnh, phiền não
tánh không, hai pháp này không đắc thì sao bị chướng ngại. Cho nên trong tâm
đừng có sanh tướng tội cấu.

Đại vương nên biết! Tâm quá khứ không thể đắc, tâm vị lai
không thể đắc, tâm hiện tại không thể đắc cho đến tất cả pháp cũng như vậy. Ở
trong ba đời không đến không đi, không trụ không chấp, không có chỗ nhập vào
không có chỗ nương tựa, lìa các vọng tưởng, chẳng phải dùng tri kiến để lường
kịp. Nếu lìa tướng tri kiến thì đó là Phật nói. Cho nên người trí nên quán như
vậy, nên hiểu rõ như vậy.

Bấy giờ đại vương thưa Bồ tát Diệu Cát Tường :

– Như Bồ tát đã nói thì con đã hiểu rõ tự tánh của tâm, tự
tánh
của các pháp xưa nay vốn thanh tịnh, không bị những chướng làm ô nhiễm,
cũng không có tướng để đắc. Cho nên hôm nay ở trước Bồ tát con được lòng tin
bất hoại.

Bồ tát nói :

– Này đại vương! Nếu như vậy tức là được giải thoát, xa lìa
các lỗi lầm.

Nghe Bồ tát Diệu Cát Tường giảng nói diệu pháp, vua nước Ma
Già Đà
rất vui mừng, liền đứng dậy đem vải mỏng thượng diệu giá trị trăm ngàn
tiền đến dâng cúng dường Bồ tát Diệu Cát Tường và định lấy vải ấy khoác vào
thân Bồ tát. Lúc đó trong sát na, Bồ tát biến mất chỉ nghe giữa không trung có
tiếng rằng :

– Này đại vương! Nếu còn thấy có tướng thì ta không thọ
nhận. Nếu muốn ta thọ nhận thì không còn thấy thân mình không thấy thân người,
không có người bố thí, không có người được bố thí, cho đến tất cả pháp cũng đều
như vậy, không còn thấy các tướng xa lìa tâm chấp thủ.

Này đại vương! Vải để cúng dường đó nếu có thể thấy thân ai
thì nên cúng dường cho vị ấy.

Bấy giờ có Bồ tát tên Trí Ngộ. Vua liền đem vải ấy dâng cúng
Bồ tát. Bồ tát ấy nói :

– Này đại vương! Nếu còn thấy tướng thì tôi không nhận. Nếu
tôi thọ nhận thì không chấp dị sanh và pháp dị sanh, không trụ vào hữu học
pháp hữu học, không chứng vô học và pháp vô học, không hướng đến Duyên giác
pháp Duyên giác, cũng không cầu giải thoát Niết bàn của chư Phật Như Lai để làm
quả chứng. Như vậy đối với tất cả pháp không có tướng để chấp. Hai loại năng
thí và sở thí đều thanh tịnh không lợi không đắc. Nếu ai bố thí như vậy thì tôi
có thể nhận.

Lúc ấy đại vương định lấy vải khoác vào thân Bồ tát nhưng
lập tức Bồ tát đã biến mất, chỉ nghe tiếng trong hư không :

Nếu có thể thấy thân ai thì hãy cúng dường vị ấy.

Bấy giờ có Bồ tát tên Thiện Tịch Giải Thoát. Vua liền đem vải
dâng cúng, Bồ tát nói :

– Này đại vương! Nếu còn thấy tướng thì ta không nhận. Nếu
ta nhận thì không còn có ta thấy và vật ta thấy, chẳng phải hợp phiền não chẳng
phải lìa phiền não, chẳng phải tâm trụ định chẳng phải tán loạn, chẳng phải trí
huệ
chẳng phải ngu si, lìa các nắm bắt và xả bỏ. Nếu bố thí như vậy thì có thể
thọ nhận.

Lúc ấy đại vương định lấy vải khoác lên thân Bồ tát nhưng
lập tức Bồ tát biến mất, chỉ nghe tiếng trong hư không rằng :

Nếu có thể thấy thân ai thì hãy cúng dường vị ấy.

Lại có Bồ tát tên Tối Thắng Tác Ý, vua liền đem vải đến cúng
dường
. Bồ tát nói :

– Này đại vương! Nếu còn thấy có tướng thì ta không nhận.
Nếu ta nhận thì không còn có các tướng, không hành thân nghiệp, không sanh ngữ
nghiệp
, không tạo ý nghiệp, không chấp vào uẩn xứ giới, hiểu rõ tất cả pháp đều
không thể đắc, chẳng phải dùng trí để biết, chẳng phải dùng lời nói để đo
lường, không có chỗ nương tựa mà phải lắng trong như hư không. Người bố thí như
vậy thì ta nhận.

Lúc ấy đại vương định đem lấy vải khoác lên thân Bồ tát
nhưng lập tức Bồ tát biến mất, chỉ nghe tiếng trong hư không :

Nếu có thể thấy thân ai thì nên cúng dường vị ấy.

Lại có Bồ tát tên Thượng Ý. Vua liền đem vải dâng cúng
dường
, Bồ tát nói :

– Nếu còn tướng để thấy thì ta không nhận. Nếu ta nhận thì không
còn chấp tướng và tâm mong cầu. Nếu ai nói phát tâm Vô thượng Bồ đề đó là chấp
tướng
có mong cầu. Vì sao ? Vì lìa tâm hữu tướng đó là tâm đại Bồ tát. Vì tâm
này bình đẳng cho nên tâm Bồ đề cũng bình đẳng. Tâm Bồ đề này là tâm của tất cả
Như Lai. Do tâm bình đẳng cho nên các pháp cũng bình đẳng, không hai không
khác, không nắm bắt cũng không xả bỏ. Vì lìa nắm bắt và xả bỏ nên tướng ngã
không
sanh, tướng ngã đã diệt thì không có gì để mong cầu. Người bố thí như vậy
thì
ta có thể nhận.

Lúc đó đại vương định lấy vải khoác lên thân Bồ tát nhưng
lập tức Bồ tát biến mất, chỉ nghe tiếng trong hư không :

Nếu có thể thấy thân ai thì cúng dường cho vị đó.

Lại có Bồ tát tên Tam Muội Khai Hoa, vua liền đem vải đến
cúng dường, Bồ tát ấy nói :

– Còn thấy có tướng thì ta không nhận. Nếu như ta nhận thì
đối với tất cả môn Tam Ma Địa đã chứng nhưng lại vô tướng, không phân biệt,
hiểu rõ tánh của tất cả pháp là không động tứcTam Ma Địa. Bố thí như vậy
thì
ta nhận.

Lúc đó đại vương định đem vải khoác vào thân Bồ tát nhưng
lập tức Bồ tát đã biến mất, chỉ nghe tiếng trong hư không :

Nếu có thể thấy thân ai thì cúng dường cho vị đó.

Lại có Bồ tát tên Thành Tựu Ý, vua lại đem vải đến cúng
dường
, Bồ tát ấy nói :

– Này đại vương! Còn thấy có tướng thì ta không nhận. Nếu
như ta nhận thì hiểu rõ tất cả ngôn ngữ văn tự, tự tánh vốn không, không có
tướng để chấp. Ai sanh tâm ham muốn cầu các pháp thì rơi vào hữu tướng, không
gọi là thành tựu. Nếu hiểu rõ tất cả pháp không sở đắc thì là thành tựu tất cả.
Tất cả đều như ý. Bố thí như vậy thì ta nhận.

Lúc đó đại vương định khoác vải lên thân Bồ tát nhưng lập
tức
Bồ tát biến mất, chỉ nghe tiếng trong hư không :

Nếu có thể thấy thân ai, thì cúng dường cho vị đó.

Lại có Bồ tát tên Tam Luân Thanh Tịnh, vua liền đem vải đến
cúng dường, Bồ tát ấy nói :

– Này đại vương! Còn thấy có tướng thì ta không nhận. Nếu
như ta nhận thì phải không có người cúng dường, không có người thọ nhận. Người
thọ nhận không sở đắc, người cúng dường không sở đắc, ngã còn không có thì sở
hữu
của ngã cũng không. Bố thí như vậy thì ta nhận.

Lúc đó Vua định đem vải khoác lên thân Bồ tát nhưng Bồ tát
đã biến mất, chỉ nghe tiếng trong hư không :

Nếu có thể thấy thân ai, thì cúng dường cho vị ấy.

Lại có Bồ tát tên Pháp Hóa, vua liền đem vải đến cúng dường,
Bồ tát ấy nói :

– Này đại vương! Còn thấy có tướng thì ta không nhận. Nếu
như ta nhận thì không lấy Niết bàn của Thanh văn, Duyên giác mà làm quả
chứng
, cũng không lấy đại bát Niết bàn mà làm quả chứng, không lìa pháp luân
hồi, không cầu pháp Niết bàn. Vì sao ? Vì sanh tửNiết bàn cả hai đều bình
đẳng
. Bố thí như vậy thì ta nhận.

Lúc ấy đại vương định lấy vải khoác lên thân Bồ tát nhưng Bồ
tát
đã biến mất, chỉ nghe tiếng trong hư không :

Nếu có thể thấy thân ai, thì cúng dường cho vị đó.

Đại vương đã đem vải dâng cúng dường, nhưng các đại Bồ tát
đều ẩn thân không thọ nhận.

Đại vương lại đem vải ấy đến chỗ tôn giả Đại Ca Diếp thưa
rằng :

– Thưa tôn giả Ca Diếp! Trong chúng Thanh văn, ngài tuổi cao
đức lớn được đức Phật khen ngợi là hạnh đầu đà đệ nhất, cúi xin ngài nhận vải
đẹp thượng diệu này để con được thỏa lòng cúng dường của con.

Ca Diếp nói :

– Này đại vương! Còn thấy có tướng thì ta không nhận. Như
người mà ta nhận là không đoạn tham sân si, không bị nhiễm trước, cho đến
minh
, hữu ái cũng đều không đoạn, cũng không tương ưng với không. Thấy khổ,
đoạn tập, chứng diệt, tu đạo, không thấy Phật, không nghe pháp, không nhập vào
số chúng, chẳng phải tận trí, vô sanh trí mà có thể đắc, có thể chứng, không có
người bố thí, không có người nhận, không có quả lớn, không có quả nhỏ, không có
luân hồi để nhàm chán, không có Niết bàn để chứng. Các pháp thanh tịnh xa lìa
các tướng. Người bố thí như vậy thì có thể nhận.

Vua liền đem vải định khoác vào thân tôn giả, nhưng Ca Diếp
cũng biến mất, chỉ nghe tiếng giữa hư không nói :

Nếu có thể thấy thân ai thì nên cúng dường vị đó.

Cứ như vậy, đại vương đã đem vải dâng cúng cho 500 đại Thanh
văn nhưng vị nào cũng ẩn thân không thọ nhận.

Khi ấy, đại vương suy nghĩ : “ Chúng Thanh văn, Bồ tát này
đều không nhận vải cúng dường của ta. Bây giờ ta đem về hậu cung để tặng phu
nhân
và các quyến thuộc chắc chắn mọi người sẽ nhận”. Suy nghĩ vậy xong, vua
đem vải vào cung để định đưa cho họ, nhưng đại vương không thấy phu nhân. Vua
lại nghĩ đem cho các cung tần nhưng cũng chẳng thấy họ đâu cả. Như vậy, vua lần
lượt
quán sát tất cả nhà, cung điện, thành đều trống trơn chẳng thấy gì cả. Đại
vương
lại suy nghĩ : “ Vải đẹp thượng diệu này không được cúng dường”. Nghĩ vậy
xong, vua định lấy vải tự khoác vào thân mình, nhưng tức khắc vua không thấy
thân mình đâu nữa, chỉ nghe tiếng giữa hư không : “ Nếu có thể thấy thân ai thì
hãy cúng dường vị ấy. Này đại vương! Ông hãy tự quán sắc thân tướng của mình
nay ở đâu ?

Vua tự quán mà không thấy tướng của mình, thì quán người
khác cũng vậy. Tướng của mình và người đều không thể đắc. Nếu ai thấy như vậy
tức là thấy pháp chân thật. Pháp chân thật là xa lìa tất cả kiến. Vì lìa các
kiến cho nên trụ vào pháp bình đẳng”.

Khi nghe giữa hư không nói như vậy, đại vương lìa tâm hữu
tướng
, đoạn trừ tưởng nghi ngờ. Như từ trong giấc ngủ mà được tỉnh ngộ. Tức thì
quyến thuộc, hậu phi, nhà cửa, cung điện thành quách đều hiện ra sắc tướng của
trở lại như cũ. Vua liền đến chỗ đại chúng Bồ tát lại được nhìn thấy tất cả
tướng của các Bồ tát như xưa không khác.

Bấy giờ, đại vương đến trước Bồ tát Diệu Cát Tường thưa :

Đại chúng Bồ tát vừa rồi đã đi đâu mà con không thấy ?

Diệu Cát Tường nói :

– Này đại vương! Vua đừng nghi ngờ, đại chúng này tướng vốn
không đến thì đi về đâu.

Này đại vương! Bây giờ vua có thấy chúng đây không ?

Vua trả lời :

– Dạ con đã thấy.

Bồ tát hỏi :

– Vua thấy thế nào ?

Vua trả lời :

– Như thấy pháp chân thật thì quán chúng này cũng như vậy.

Bồ tát hỏi :

Pháp chân thật này vua thấy thế nào ?

Vua trả lời :

Pháp chân thật lìa tất cả tướng, chẳng phải dùng mắt để
quán, không ở trong, không ở ngoài, không ở chặn giữa nên nói tướng hai pháp
không
thể đắc.

Bồ tát Diệu Cát Tường lại nói với vua :

Đại vương nên biết! Trước đây vua tạo ác. Tôi nghe Phật
thọ
ký vào đời sau sẽ đọa vào đường ác phải không ?

Vua thưa Bồ tát :

– Thưa Đại sĩ, không có. Phật Thế Tôn chưa từng nói người
đọa đường ác hay người chứng Niết bàn. Vì sao ? Vì trong pháp chân thật không
có hai riêng biệt.

Bồ tát lại nói :

– Thưa đại vương! Không phải vậy. Như đức Phật đã nói nghiệp
quả
thiện ác ứng chiếu như vậy. Nếu nói như vậy thì nghĩa là thế nào ?

Đại vương nói :

– Thưa Đại Sĩ Bồ tát! Theo ý của con thì chư Phật Như Lai
tùy theo phương tiện mà khéo nói sanh tử Niết bàn, để các chúng sanh nhàm chán
khổ sanh tử mà hướng đến vui Niết bàn. Nếu nói một cách như thật thì sanh tử
Niết bàn đều bình đẳng. Vì sao ? Vì các pháp đều không, không có tự tánh. Tánh
của các pháp ấy là tánh pháp giới. Trong tánh pháp giới không có hai riêng
biệt. Do nghĩa đó mà các pháp không chỗ sanh không chỗ trụ, không ham muốn
không nhàm chán. Nay con có lòng tin chân chánh không còn lo sợ.

Bồ tát Diệu Cát Tường nói :

Lành thay đại vương! Vua nói điều này rất rõ ràng đó là
lìa các hữu tướng.

Vua nói :

– Thưa Bồ tát! Tự tánh của con là không, vậy người nói là ai
? Pháp vốn vô tướng vậy lìa cái gì ? Như Phật đã nói, trong pháp chân thật thì
ngã tướng vốn không lìa tình chẳng phải tình. Các pháp không tạo tác cũng không
có người thọ nhận.

Bồ tát nói :

– Đại vương! Trong pháp chân thật mặc dầu ông đã hiểu rõ
nhưng còn sanh chấp trước.

Vua hỏi :

– Làm sao để lìa chấp trước ?

Bồ tát trả lời :

– Không hoại tướng cõi ác, đó là không chấp trước.

Vua nói :

– Đúng vậy! Đúng vậy! Theo ý của con tướng cõi ác không động
chuyển
, không hoại không chấp trước, không có gì lo sợ. Nay con đã lìa được các
chấp trước, vĩnh viễn không còn sanh sự thấy về hữu tướng. Ví như Bồ tát đắc
Nhẫn không còn tư tưởng về ba độc.

Khi ấy Bồ tát Trí Tràng nói với vua :

– Đại vương! Đối với đạo trí huệ, vua đã được thanh tịnh,
lìa các trần nhiễm, được đầy đủ Nhẫn.

Vua thưa Bồ tát :

– Các pháp rất thanh tịnh rộng lớn không thể lường. Phiền
não
không thể nhiễm ô, Niết bàn không thể đắc. Chỉ có Phật Thế Tôn mới có thể
tự chứng tri.

Khi Bồ tát Diệu Cát Tường và các Đại Sĩ vào cung vua nói
chánh pháp, vua nước Ma Già Đà đắc được Vô sanh pháp nhẫn. Trong cung vua có 32
cô gái. Sau khi thấy Bồ tát Diệu Cát Tường dùng thần thông biến hóa tất cả đều
phát tâm Vô thượng Bồ đề. Trong chúng hội có 500 người đắc pháp Nhãn tịnh. Tất
cả nhân dân trong thành Vương xá đều đem hương hoa thơm đẹp nổi tiếng tụ tập
trước cửa cung vua để cúng dường Bồ tát Diệu Cát Tường và các đại chúng.

Bấy giờ, Bồ tát Diệu Cát Tường thấy thương xót tất cả nhân
dân
trong thành, để làm lợi ích cho họ, Bồ tát dùng ngón chân đặt xuống đất.
Tức thì mặt đất đều thành màu phệ lưu ly trong suốt sáng rỡ thấu cả trong lẫn
ngoài. Khi ấy trong thành tất cả nhân dân dù nam hay nữ cũng đều được thấy Bồ
tát
Diệu Cát Tường và các đại chúng không bị chướng ngại. Ví như gương tròn
trong sáng chiếu rõ mặt của mình. Tất cả nhân dân chiêm ngưỡng tướng Bồ tát
cũng như vậy. Lúc đó Bồ tát Diệu Cát Tường vì họ mà nói pháp trong thành có tám
vạn bốn ngàn người đắc pháp Nhãn tịnh, 500 người phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Sau khi Bồ tát Diệu Cát Tường thọ sự cúng dường thức ăn uống
của vua nước Ma Già Đà, và vì vua mà giảng pháp thì quyến thuộc trong cung vua
cho đến tất cả nhân dân đều được lợi lạc, phát tâm hy hữu và rất vui mừng.

Bồ tát Diệu Cát Tường liền đứng dậy và cùng đại chúng Bồ tát
lần lượt rời khỏi cung vua. Khi ấy, vua Ma Già Đà, các tùy tùng cùng quyến
thuộc
lễ lạy bái tạ và theo Bồ tát đến hội của đức Phật. Bồ tát đã ra khỏi cung
vua và đi chậm rãi. Giữa đường, Bồ tát thấy một người ở dưới gốc cây khóc lóc
thảm thiết nói rằng :

– Tôi đã tạo nghiệp sát sanh thật đáng sợ hãi, đời sau nhất
định
đọa vào địa ngục, làm thế nào để tôi được cứu độ đây ?

Thấy người này như vậy, Bồ tát quán biết căn duyên của họ đã
thành thục, có thể hóa độ được. Bồ tát liền hóa thành một người giống y như ông
ta và đến gần bên ông ta cũng khóc lóc thảm thiết nói như vầy :

– Tôi tạo nghiệp sát sanh rất đáng sợ hãi, đời sau nhất định
sẽ đọa vào địa ngục.

Sau khi nghe vậy, người kia liền nói với hóa nhơn rằng :

– Tôi cũng tạo nghiệp sát sanh như vậy. Đã gặp nhau ở đây,
ai có phương tiện để cứu độ được ?

Hóa nhơn liền nói với người kia rằng :

Chúng ta tạo tội rất nặng, dù rất lo sợ nhưng không có ai
cứu được, chỉ có Phật Thế Tôn mới có đại phương tiện để cứu độ được thôi. Chúng
ta
nên cùng nhau đến chỗ Phật.

Hóa nhơn nói vậy xong rồi liền đi trước. Người kia thấy vậy
cũng đi theo đến chỗ Phật. Sau khi đến hội của Phật, hóa nhơn đem đầu mặt lễ
lạy
sát chân Phật và thưa :

– Bạch Thế Tôn! Con tạo nghiệp sát sợ đọa địa ngục, cứu xin
Phật từ bi cứu độ con.

Thế Tôn liền khen :

Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Nay ở trước Phật
ông đã nói lên lời thành thật. Việc ông làm gọi là nói một cách chân thật. Theo
lời ông đã nói, người tạo nghiệp sát thì với ông từ tâm nào mà có tướng tội, là
quá khứ, vị lai hay hiện tại ? Nếu khởi tâm quá khứ thì quá khứ đã diệt tâm
không
thể đắc. Nếu khởi tâm vị lai thì vị lai chưa đến, tâm không thể đắc. Nếu
khởi tâm hiện tại thì hiện tại không dừng tâm cũng không thể đắc. Ba đời đều
không thể đắc thì tức là không tạo tác. Vì không tạo tác nên thấy tướng của tội
ấy ở đâu ?

Này thiện nam tử! Tâm không chỗ trụ, không ở bên trong bên
ngoài hay chặn giữa, tâm khôngsắc tướng, chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng.
Tâm không tạo tác vì không có người tạo. Tâm chẳng phải huyễn hóa vì vốn chân
thật
. Tâm khôngbiên giới vì chẳng hạn lượng. Tâm không thủ xả vì chẳng phải
thiện ác. Tâm không động chuyển vì chẳng sanh diệt. Tâm như hư không vì không
chướng ngại. Tâm không nhiễm tịnh vì lìa tất cả số.

Này thiện nam tử! Những người có trí nên quán như vậy. Ai
quán như vậy tức là cầu tất cả pháp nhưng tâm không thể đắc. Vì sao ? Vì tự
tánh
của tâm tức là tánh của các pháp. Tánh không của các pháp là tánh chân
thật
. Do nghĩa này, ông không nên lầm lạc mà sanh sợ hãi.

Nghe Phật giảng nói pháp chân thật, hóa nhơn rất vui mừng
thưa với Phật :

– Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Ngài nói rõ về tự tánh
thanh tịnh của pháp giới. Con nay ngộ được tánh không của nghiệp tội nên không
sợ hãi. Con muốn ở trong Phật pháp được xuất gia tu đạo giữ phạm hạnh. Cúi xin
đức Thế Tôn thâu nhận con.

Phật nói :

– Thiện tai! Này thiện nam tử! Nay đã đúng giờ ta thâu nhận
ngươi.

Khi ấy chỉ trong chốc lát, hóa nhơn râu tóc tự rụng, ca sa
mặc vào thân thành tướng Bí sô và bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn! Bây giờ con nhập Niết bàn, cúi xin Phật cho
phép
.

Phật nói :

Tùy ý.

Khi ấy nhờ sức oai thần của Phật, hóa nhơn liền vọt lên
không
cao bảy cây đa la hóa lửa tự thiêu thân không còn gì cả, giống như
không
kia.

Sau khi thấy hóa nhơn xuất gia và nghe Phật thuyết pháp,
người tạo nghiệp thật liền suy nghĩ : “ Người này tạo nghiệp tội giống như ta,
được giải thoát trước. Ta cũng nên cầu xin Phật hóa độ”. Suy nghĩ vậy xong,
liền lễ lạy sát chân Phật và thưa :

– Bạch Thế Tôn! Con tạo nghiệp sát sợ đời sau đọa vào đại
địa
ngục, cúi xin Phật từ bi mà rủ lòng cứu độ con.

Phật nói :

Lành thay này thiện nam tử! Ở trước Phật, ông đã nói lên
lời thành thật. Nghiệp ông đã tạo sanh ở tâm nào ? Tướng của tội nghiệp ra sao
?

Vì người này do căn lành đã thành thục nên sau khi
nghe Phật hỏi từ các lỗ chân lông trên thân phát ra lửa dữ cháy xung quanh thân
của ông. Ông ta liền thưa :

– Con nay qui y Phật xin Ngài rủ lòng cứu độ con.

Bấy giờ Thế Tôn duỗi cánh tay vàng lên trên đỉnh đầu ông ta.
Lập tức lửa trên thân của người ấy liền dập tắt, không còn khổ não và được
khoái lạc lớn, với lòng tin thanh tịnh, chắp tay thưa trước Phật :

– Thật hy hữu thay bạch đức Thế Tôn! Trước đây con nghe Phật
giảng nói pháp thanh tịnh, pháp giới, lìa tướng. Nay con được giác ngộ về tánh
không
của nghiệp tội nên không còn tư tưởng sợ hãi. Con cũng muốn ở trong Mật
pháp
xuất gia tu trì phạm hạnh, cúi xin Phật thâu nhận con.

Phật nói :

Lành thay! Đã đúng lúc Ta thâu nhận ngươi.

Tức thời râu tóc của người này tự rụng, ca sa mặc vào thân
thành
tướng Bí sô như người trăm tuổi lạp. Các căn ổn định, oai nghi đỉnh đạc,
sở nguyện được viên mãn.

Bấy giờ đức Thế Tôn giảng pháp Tứ đế cho ông ta. Nghe pháp
xong, ông ta liền xa lìa trần cấu, đắc pháp nhãn tịnh, lại quán rất kỹ về đế
lý. Ngay trong hội, ông ta chứng quả A la hánbạch Phật :

– Bạch Thế Tôn! Bây giờ con muốn nhập Niết bàn cúi xin Phật
cho phép.

Phật nói :

Tùy ý.

Khi ấy Bí sô vọt lên hư không cao bảy cây đa la hóa lửa tự
thiêu
thân không còn gì cả. Lúc đó trong hội có 100 ngàn trời người phát tâm hy
hữu
đều kính lạy Phật.

– Hết quyển thứ năm –

Quyển
thứ sáu

Sau khi thấy người tạo nghiệp sát kia
theo Phật xuất gia, được chứng quả thánh với việc hư hữu như vậy, tôn giả Xá
Lợi Phất
thưa trước Phật :

– Thật hy hữu thay bạch Thế Tôn ! Như Lai có lòng đại bi
dùng phương tiện xảo giảng nói chánh pháp. Người đã tạo nghiệp sát kia gốc tội
rất nặng mà chỉ trong chốc lát Như Lai đã cứu độ khiến cho người ấy được giải
thoát
. Đây chính là do sức phương tiện của chư Phật Như Lai. Pháp mà Ngài đã
nói đều là cảnh giới của chư Phật. Chỉ có Đại Sĩ Diệu Cát Tường và các Bồ tát
mặc giáp tinh tấn mới hiểu rõ thông suốt. Đó chẳng phải là cảnh giới của Thanh văn,
Duyên giác chúng con. Vì sao ? Vì các hàng Thanh văn trí huệ cạn hẹp căn cơ của
chúng sanh còn không thể phân biệt được thì sao hiểu rõ pháp phương tiện.

Phật dạy :

– Đúng vậy ! Đúng vậy ! Này Xá Lợi Phất ! Cảnh giới của chư
Phật chỉ có các Bồ tát đắc đầy đủ pháp nhẫn mới có thể hội nhập được. Hàng
Thanh văn các ông mặc dầu lìa kiến chấp về Bổ đặc già la nhưng chỉ cầu Niết bàn
tự lợi. Mặc dầu tu tập công đức hạnh đầu đà nhưng cũng chỉ thích cầu đầy đủ
giới định huệ, không thích tu học pháp của chư Phật, làm việc gì cũng có tướng
có ngại. Cho nên đối với cảnh giới của Phật đều có thể nghĩ bàn.

Này Xá Lợi Tử ! Ông nên biết : Người tạo nghiệp sát được hóa
độ
vừa rồi đã từng cung kính cúng dường trồng căn lành với 500 đức Phật và cũng
từng được nghe pháp như vậy. Cho nên người này nay ở trước ta được nghe giảng
chánh pháp, nhờ sức căn lành xưa kia mà được thấy lý chơn thật của các pháp,
như phápgiải thoát.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử ! Nếu người nào được nghe chánh pháp
này dù chỉ nghe một bài kệ bốn câu thì người ấy không đọa vào các cõi ác, dứt
khổ não được giải thoátnhất định thành Nhất thiết trí của Phật, huống gì
thọ trì đọc tụng như pháptu hành. Công đức người ấy đạt được vô lượng
biên
.

Bấy giờ Bồ tát Diệu Cát Tường cùng chúng đại Bồ tát, các đại
Thanh
văn Ca Diếp.v.v.. và vua nước Ma Già Đà với quyến thuộc đồng thời đi trở
về
hội Phật Thích Ca Mâu Ni trong núi Thứu Phong. Sau khi đến chỗ Phật, tất cả
đều lễ lạy sát chân Phật và lui đứng qua một bên.

Bấy giờ, tôn giả Xá Lợi Tử nói với vua Ma Già Đà :

– Pháp hy hữu đại thừa mà vua ưa thích, Bồ tát Diệu Cát
Tường
đã khai thị giảng nói. Như vậy với pháp ấy vua có thật đã hiểu rõ rồi
không ?

Vua trả lời :

– Thưa tôn giả ! Tôi đã hiểu rõ về pháp hy hữu.

Xá Lợi Tử hỏi :

– Vua hiểu rõ như thế nào ?

Vua trả lời :

– Theo ý của tôi thì đối với tất cả pháp lìa các nhiễm chấp,
không được không mất, chẳng nắm bắt chẳng xả bỏ, chẳng phải cảnh giới của
tâm, tướng không thể đắc tức là pháp chân thật, hiểu rõ như vậy dứt hẳn các
nghi ngờ, tất cả các chướng lụy không do đâu mà sanh nữa.

Xá Lợi Phất bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Căn lành của vua Ma Già Đà đã thành thục,
ưa thích mùi hương pháp thâm sâu của đại thừa, thấy được pháp vô sanh, tận trừ
các nghiệp chướng. Như vậy là thật sự đã diệt tận hay là còn ? Việc này như thế
nào cúi xin Phật hãy nói cho con !

Phật dạy :

– Này Xá Lợi Tử ! Ví như hạt cải lượng của nó rất nhỏ, núi
chúa Tu Di có thể nghiền nát nó được không ? Ông nên biết ! Nghiệp chướng của
vua giống như hạt cải, còn pháp thâm sâu mà ta đã nói giống như núi chúa kia.
Cho nên vua ấy nghe pháp thâm sâu đâu còn chướng lụy nào mà không diệt tận.

Xá Lợi Tử thưa :

– Thật hy hữu thay bạch Thế Tôn ! Vua này thật là lợi căn
sáng suốt có thể nghe pháp hiểu rõ và diệt sạch các chướng. Như những gì Phật
nói là chân thật không hư dối.

Phật nói :

– Này Xá Lợi Tử ! Vua này đã từng cung kính cúng dường,
trồng các căn lành với 72 câu chi đức Phậtquá khứ. Sau khi nghe chánh pháp
từ nơi chư Phật ấy, nhờ căn lành đó nên đương lai vua nhất định đắc Vô thượng
Bồ đề
.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử ! Ông có thấy Bồ tát Diệu Cát Tường
này không ?

Xá Lợi Tử trả lời :

– Thưa đã thấy.

Phật nói :

– Nay vua nước Ma Già Đà này có nhơn duyên lớn với Bồ tát
Diệu Cát Tường. Này Xá Lợi Tử ! Về quá khứ có kiếp tên Vô Cấu, có Phật ra đời
hiệu là Diệu Tý. Trong kiếp đó lại có ba câu chi đức Phật hiện ra đời. Chư Phật
ấy đều do Bồ tát Diệu Cát Tường khai mở tâm đạo. Chư Phật Như Lai ấy sống rất
lâu, chuyển đại pháp luân làm lợi ích cho chúng sanh. Trong kiếp đó, vua nước
Ma Già Đà đã được gặp Bồ tát Diệu Cát Tường giáo hóaphát tâm Vô thượng Bồ
đề
. Sau khi phát tâm vua đã trồng các căn lành nơi chư Phật Thế Tôn ấy mà nghe
thọ pháp hy hữu đại thừa.

Này Xá Lợi Tử ! Ông nên biết rằng, nhờ nhơn duyên căn lành
sâu dày đó mà sau khi vua Ma Già Đà qua đời, qua 400 cõi Phật ở phương trên có
cõi Phật tên Trang Nghiêm. Đức Phật đó hiệu là Bảo Tụ Như Lai Ứng Cúng Chánh
Đẳng Chánh Giác
và vua sanh vào cõi Phật này cũng gặp Bồ tát Diệu Cát Tường,
nghe thọ pháp thâm sâu. Nghe rồi vua hiểu rõ ràng và chứng Vô sanh pháp nhẫn.
Cho đến đời đương lai, Bồ tát Từ Thịcõi Ta Bà này sau khi thành chánh giác,
thì vua Ma Già Đà này từ cõi Phật Trang Nghiêm mà đến và ở trong pháp của Từ
Thị
Như Lai, được làm Bồ tát tên Vô Động, lúc ấy vua cũng gặp Bồ tát Diệu Cát
Tường
. Sau khi giảng nói lại pháp cho Bồ tát Vô Động đã được nghe thuở quá khứ,
Từ Thị Như Lai nói với đại chúng :

– Các ông có thấy Bồ tát Vô Động kia không ? Bồ tát này đâu
phải người nào lạ chính là vua nước Ma Già Đà trong pháp hội của Phật Thích Ca
Mâu Ni
quá khứ. Vị này được nghe thọ chánh pháp nơi Bồ tát Diệu Cát Tường
được đắc Vô Sanh pháp nhẫn.

Phật dạy :

– Này Xá Lợi Tử ! Từ Thị Như Lai khi giảng nói pháp vi diệu
cho Bồ tát Vô Động, thì trong hội có tám ngàn Bồ tát đắc Vô Sanh pháp nhẫn, hai
vạn bốn ngàn các tiểu Bồ tát tiến lên Sơ địa.

Này Xá Lợi Tử ! Từ đó về sau Bồ tát Vô Động ấy tu hành trong
tám trăm atăngkì kiếp, làm thanh tịnh cõi Phật giáo hóa chúng sanh hướng vào
địa Thanh văn, Duyên giácBồ tát, và làm cho các chúng sanh diệt trừ tất cả
nghiệp chướng, hiểu rõ chánh pháp dứt hết nghi ngờ. Sau khi trải qua tám trăm
kỳ kiếp, Bồ tát Vô Độngthế giới Vô Nhiễm mà chứng Vô thượng Bồ đề, hiệu là
Thanh Tịnh Cảnh Giới Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu.
Đức Phật ấy sống bốn trung kiếp, chánh pháp trụ ở đời một câu chi năm, có 70
vạn chúng Thanh văn đều đầy đủ ba minh lục thông, đắc tám giải thoát. Có 12 câu
chi
chúng đại Bồ tát, tất cả đều đầy đủ phương tiện trí huệ. Tất cả chúng sanh
cõi đó đều ưa thích pháp thâm sâu. Đức Phật Như Lai ấy giảng nói rộng rãi khắp
nơi, chúng sanh nghe pháp đều giác ngộ, lìa các phiền não, thân tâm thanh tịnh
và không còn tưởng về tướng Ngã.

Bấy giờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói việc vua Ma Già Đà sẽ
thành Phật cho Xá Lợi Tử nghe, trong hội có ba vạn hai ngàn thiên tử phát tâm
Vô thượng Bồ đề, họ phát nguyện rằng :

– Con nguyện sẽ được sanh vào thế giới Vô Nhiễm để thấy đức
Thanh
Tịnh Cảnh Giới Như Lai thành đạo Chánh Giác.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền thọ ký cho họ :

– Các ngươi sẽ được sanh vào thế giới đó để thấy Như Lai ấy
thành đạo Chánh Giác.

Thuở ấy vua Ma Già Đà có một thái tử tên Nguyệt Cát Tường
vừa mới tám tuổi, trước đây có theo phụ vương đến hội của Phật. Sau khi nghe Phật,
thái tử tự cỡi các trân châu anh lạc đeo nơi cổ dâng cúng dường đức Phật
nguyện như vầy :

– Nay con xin dâng cúng Phật để được căn lành mà hồi hướng
lên Vô thượng Bồ đề. Con nguyện vào đời sau được sanh trong cõi đức Thanh Tịnh
Cảnh
Giới Như Lai làm Kim Luân Vương trọn đời, con đem tứ sự cúng dường đức
Phật
ấy và chúng Bí sô. Sau khi Phật ấy diệt độ, con sẽ thâu lấy xá lợi của
Ngài mà cung kính cúng dường. Con nguyện tiếp tụccõi Phật đó chứng đắc
thượng Bồ đề
.

Sau khi thái tử Nguyệt Cát Tường nguyện xong, nhờ sức oai
thần
của Phật nên anh lạc đã cúng dường trụ trong hư không phía trên đức Phật
biến thành lầu bảy báu, bên trong có tòa bảy báu. Trên tòa có Phật ngồi kiết
già
trang nghiêm đầy đủ tướng tốt.

Bấy giờ từ giữa chặn mày đức Thế Tôn phóng sáng nhiều màu
xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, xanh lục. Những ánh sáng ấy chiếu khắp vô biên thế
giới
, lên đến Phạm Thế mà ánh sáng vẫn rực rỡ che lấp ánh sáng mặt trời mặt
trăng
. Ánh sáng ấy trở lại bao quanh Phật ba vòng rồi vào đỉnh đầu Thế Tôn.

Tôn giả A Nan đứng dậy, trịch bày vai phải gối phải sát đất
chắp tay thưa trước Phật nói kệ :

Đại
Mâu Ni đã đến bờ kia

Đầy
đủ các công đức thù thắng

Được
trời người thế gian tôn quí

Bậc
Nhất thiết trí lìa các chấp

Căn
tánh
, tâm hành của chúng sanh

Như
Lai
đều biết rõ tận tường

Giảng
diệu pháp làm lợi quần sanh

Bậc
tối thắng hơn cả thế gian

Ánh
sáng lớn hy hữu phóng ra

Chiếu
khắp tất cả cõi mười phương

Câu
chi
na do tha chúng sanh

Nhờ
ánh sáng chiếu được an ổn

Bậc
Thiện Thệ đã đủ mười lực

Niệm
huệ
viên mãn xuất thế gian

Biết
rõ tâm, việc làm chúng sanh

Giảng
pháp
đoạn nghi không ai bằng

Tất
cả Phạm vươngĐế thích

Mặt
trời
, trăng, sao và các trời

Nghe
Phật giảng nói môn diệu pháp

Xa
lìa
phiền não được an ổn

Như
Lai
tối thắng trong tất cả

Chúng
sanh
nào nghi được giải bày

Duyên
gì nay phóng ánh sáng ấy

Xin
Phật từ bi nói cho con.

Thế Tôn dạy A Nan :

– Ông có thấy thái tử Nguyệt Diệu Cát Tường không ?

A Nan thưa :

– Dạ thưa con đã thấy.

Phật dạy :

– Trong quá khứ, thái tử này đã tu hạnh Bồ tát , cúng dường
ta để trồng sâu căn lành. Do cơ duyên ấy đã thành thục, nay ở trước ta phát tâm
Vô thượng Bồ đề, phát đại thệ nguyện. Do đó mà phóng ánh sáng này.

Này A Nan ! Vào đời đương lai trong pháp của đức Thanh Tịnh
Cảnh
Giới Như Lai ở cõi Vô Nhiễm, thái tử này làm Kim Luân Vương cúng dường đức
Phật
ấy và chúng Bí sô. Sau khi đức Phật ấy diệt độ, vương lại thâu lấy xá lợi
cung kính cúng dường. Sau khi vị vương ấy qua đời sanh vào cõi trời Đâu
suất
. Sống trong thế giới Vô Nhiễm mãn một kiếp, Kim Luân Vương chứng Vô thượng
Bồ đề
tên là Nhật Tràng Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười
hiệu. Đức Phật Thế Tôn ấy và tất cả chúng Bồ tát Thanh văn tuổi thọ như nhau.

Sau khi nghe đức Phật thọ ký thái tử Nguyệt Cát Tường, các
chúng Bồ tát từ phương khác đến đại hội đều bạch Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Đức Phật Thích Ca Mâu NiBồ tát Diệu Cát
Tường
ở nơi nào cũng làm đại Phật sự làm lợi ích chúng sanh không uổng phí. Vì
sao ? Vì đức PhậtBồ tát với tâm đại bi làm các phương tiện, ở nơi thành ấp
quốc thành cho đến khắp cả xóm làng đều vì các chúng sanhgiảng pháp giáo
hóa
, để các chúng sanh nghe pháp được giải thoát, lìa các sợ hãi, đoạn trừ tất
cả phiền não chướng nặng. Hôm nay chúng con được ở đây nghe đức PhậtBồ tát
Diệu Cát Tường giảng nói Diệu pháp và thấy việc hy hữu phóng ánh sáng, làm lợi
ích
chúng sanh thật không uổng phí.

Lúc ấy đức Thế Tôn dạy các Bồ tát :

– Này các thiện nam tử ! Đúng vậy ! Đúng vậy ! Phật và Bồ
tát
ở nơi nào cũng vì các chúng sanh mà giảng nói chánh pháp thi hành Phật sự,
nên quán nơi ấy như tháp của Phật. Vì sao ? Vì trong đời quá khứ ta gặp đức
Nhiên
Đăng Như Lai. Vì ta có lòng tin sâu sắc đã trải tóc trên đất nâng chân
Ngài. Taliền đắc Vô sanh pháp nhẫn. Biết ta đã đắc Vô sanh pháp nhẫn, đức Nhiên
Đăng Như Lai liền thọ ký Vô thượng Bồ đề cho ta và nói rằng :

– Qua atăngkì kiếp đời sau, ông sẽ được thành Phật hiệu
Thích Ca Mâu Ni Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác đầy đủ mười hiệu.

Sau khi thọ ký cho ta đức Phật Nhiên Đăng nói với chúng Bí
sô :

– Ở đất này các ông nên có ý tưởng tôn trọng đừng khinh khi.
Vì sao ? Vì ở đất này có thiện nam tử trải tóc trên đất nâng chân Thế Tôn. Do
sức thù thắng ấy mà được đầy đủ pháp nhẫn làm cho tất cả trời người ở đất này
chiêm ngưỡng cung kính giống như Tháp của Phật không khác.

Khi đức Phật Nhiên Đăng nói như vậy, có 80 câu chi trời
người đồng thanh thưa Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Chúng con ở đất này có lòng tôn trọng cung
kính
như Tháp của Phật.

Khi ấy trong hội có một trưởng giả tên Hiền Thiên bạch Phật
Nhiên Đăng :

– Nay con xây tháp bảy báu ở đây để các chúng sanh chiêm
ngưỡng
lễ lạy được phước.

Theo lời nói, trưởng giả sanh tâm hy hữu tập trung tất cả
trân báu xây một ngọn tháp cao rộng đẹp đẽ, trang hoàng đủ loại. Công trình ấy
rất nguy nga chẳng phải làm một ngày mà hoàn thành. Sau khi xây tháp xong,
trưởng giả liền đến thưa Phật Nhiên Đăng :

– Bạch Thế Tôn ! Con đã xây xong ngọn tháp bảy báu rất đẹp,
vậy đời sau con được bao nhiêu phước ?

Phật dạy :

– Này trưởng giả ! Nếu có thiện nam tử nào chứng địa Vô sanh
pháp nhẫn
đào lấy đất ấy xuống tới đụng nước rồi lấy đất này cung kính cúng
dường
thì phước đạt được còn như cúng dường tháp của Phật, huống chi nay ông
với lòng tin thanh tịnh xây tháp bảy báu, phước ông đạt được nhiều hơn gấp bội
người kia, vô lượng vô biên không thể tính lường.

Khi ấy Phật Nhiên Đăng lại nói với trưởng giả Hiền Thiên :

– Hôm nay ở đây, ông trồng sâu căn lành thì trong đời vị lai
được Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký Vô thượng Chánh Giác.

Vì các Bồ tát từ phương khác đến đại hội, đức Phật Thích Ca
đã nói nhơn duyên thọ ký thuở xưa và Ngài dạy các Bồ tát :

– Các ông nên biết ! Khi xưa ta đã trồng căn lành nơi Phật
Nhiên Đăng nên nay ta được thành Phật. Lúc ấy ta đắc địa pháp nhẫn, được trời
người ở đó cung kính như tháp Phật. Hôm nay các ông trong đất này cũng nên có
lòng tôn kính.

Lại nữa, này các Bồ tát ! Các ông nên biết ! Trưởng giả Hiền
Thiên thuở đó không phải người nào lạ chính là trưởng giả Hiền Thiên này đây
vậy, bởi vì trong pháp thuở ấy cũng tên là Hiền Thiên. Đời sau, vị này sẽ được
thành Phật, hiệu là Thiện Kiến Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác đầy đủ
mười hiệu.

Lại nữa, này các Bồ tát ! Pháp thâm sâu ta đã nói, nếu có Bí
sô, Bí sô ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nào thọ trì tụng đọc, giảng nói cho người
khác, thì nơi vị ấy ở được trời người cung kính tôn trọng như tháp Phật không
khác.

Lại nữa, này các Bồ tát ! Nếu có thiện nam thiện nữ nào tu
hạnh Bố thí, tập trung bảy báu đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, ngày đêm
sáu thời cúng dường chư Phật và chúng Bí sô, như vậy cho đến kiếp tận cũng
không bằng đối với chánh pháp vị tằng hữu này mà nghe thọ trì đọc tụng một bài
kệ
bốn câu. Công đức của vị này nhiều hơn gấp bội ở trước.

Lại nữa, nếu người nào tu hạnh trì giới, trong một kiếp giữ
giới
pháp của Phật không hủy phạm, viên mãn tất cả công đức tịnh giới, cũng
không bằng đọc tụng thọ trì chánh pháp này. Công đức này nhiều hơn trước cả
ngàn phần.

Lại nữa, nếu người nào tu hạnh nhẫn nhục, trong một kiếp
luôn tu nhẫn nhục đối với tất cả chúng sanh không sân giận làm hại, đạt được
hạnh nhẫn viên mãn như vậy, nhưng cũng không bằng đọc tụng thọ trì chánh pháp
này rồi như pháptu hành, đạt được pháp nhẫn đầy đủ công đức, như vậy là tối
thượng
.

Lại nữa, nếu có người nào tu tinh tấn, trong một kiếp siêng
năng giáo hóa tất cả chúng sanh, tâm không chút giải đãi, đạt đươc tinh tấn
viên mãn nhưng không bằng thọ trì đọc tụng chánh pháp này, công đức đạt được
nhiều gấp bội ở trước.

Lại nữa, nếu có người nào tu thiền định, trong một kiếp trụ
trong định nhất tâm chuyên chú, xa lìa các tán loạn, đạt được hạnh định viên
mãn
như vậy cũng không bằng thọ trì đọc tụng chánh pháp này, công đức đạt được
nhiều gấp bội ở trước.

Lại nữa, nếu người nào tu trí huệ, trong một kiếp tu các
phương tiện trí huệ, đạt được trí huệ viên mãn như vậy, nhưng không bằng nghe
thọ trì đọc tụng chánh pháp này, công đức đạt được to lớn vô lượng sớm viên mãn
quả Nhất Thiết Trí.

Nghe đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng nói về công đức thâm sâu
của pháp này, các Bồ tát từ phương khác đến đại hội, đều thưa Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Chúng con nghe thọ pháp này, khi trở về trú
xứ sẽ giảng nói lưu bố cho mọi người để các chúng sanh được lợi ích.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói :

Lành thay ! Lành thay ! Này các thiện nam tử, các ông nên
lưu bố pháp này, hãy vì các chúng sanhthi hành Phật sự.

Khi ấy các Bồ tát ấy rải hoa đẹp khắp ba ngàn đại thiên thế
giới
cúng dường đức Phật Thích Ca Mâu NiBồ tát Diệu Cát Tường rồi nói như
vầy
:

– Nguyện cho chánh pháp này tồn tại lâu dài trong Diêm Phù
Đề
để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Nguyện đức Phật Thích Ca Mâu NiBồ
tát
Diệu Cát Tường sống lâu dài trên thế gian phóng ánh sáng pháp để chiếu khắp
chúng sanh. Hôm nay chúng con được dự vào hội này được thấy Phật Thế Tôn, được
nghe nói diệu pháp là đều nhờ Bồ tát Diệu Cát Tường khuyên dạy. Giả sử chúng
con xả bỏ đầu mắt tay chân của mình để cúng dường cũng còn không thể báo ân Bồ
tát
. Nay rãi hoa này chưa gọi là báo ân cúng dường. Cho nên nếu có thiện nam
thiện nữ
nào được thấy chư Phật, được nghe chánh pháp, giả sử xả bỏ đầu mắt tay
chân của mình cũng không bao giờ báo ân hết cho chư Phật. Cho nên cần phải đối
với Phật, Bồ tát và các kinh pháp nên có lòng tin thanh tịnh, tôn kính cúng
dường
, đừng xem thường và có ý tưởng nghi ngờ. Ai có ý tưởng như vậy sẽ mắc đại
trọng tội.

Nghe nói vậy, các đại Bồ tát từ phương khác đến đại hội đều
lạy sát chân Thế Tôn và đi nhiễu ba vòng rồi biến mất khỏi đại hộitrở về
tại cõi Phật của mình. Mỗi vị ở trước mỗi đức Phật thưa :

– Ở cõi Ta Bà, con được nghe đức Phật Thích Ca Mâu NiBồ
tát
Đại Cát Tường giảng nói chánh pháp. Sau khi thọ trì, con sẽ giảng nói rộng
rãi
cho chúng sanh ở đây để tất cả chúng sanh nhất định chứng Vô thượng Bồ đề.

Bấy giờ tôn giả Đại Ca Diếp thưa Phật :

– Bạch Thế Tôn ! Chánh pháp này rất là hy hữu, con đã thấy
Bồ tát Diệu Cát Tường thọ nhận thức ăn cúng dường trong cung của vua nước Ma
Già Đà
, Bồ tát giảng nói pháp này cho vua. Khi ấy vua chứng đắc Vô sanh pháp
nhẫn
, con cũng tùy hỷ nghe thọ pháp ấy, tự thầm trách mình nên rất vui mừng.

Bạch Thế Tôn ! Về đời sau cùng nếu có chúng sanh nào nghe
chánh pháp này hiểu một cách đúng đắn thì người ấy mới có thể biết được tự tánh
của pháp đoạn trừ các nghi ngờ, tương lai nhất định thành Đẳng Chánh Giác.

Phật dạy :

– Này Ca Diếp ! Lành thay ! Lành thay ! Ông nói lời này rất
hoàn hảo. Nếu các chúng sanh nào sau khi nghe pháp này vào tương lai chắc chắn
sẽ chứng quả Bồ đề của Phật.

Đức Phật dạy Bồ tát Từ Thị :

– Ông nay thọ trì pháp này, vào đời rốt sau hãy giảng nói
lưu bố để cho các chúng sanh được lợi ích, được khoái lạc lớn.

Bồ tát Từ Thị thưa :

– Theo lời Thế Tôn chỉ dạy, con sẽ thọ trì. Bạch Thế Tôn ! Ở
nơi Phật quá khứ con cũng đã từng nghe thọ pháp này. Nay ở trước Phật con lại
được nghe thật là hân hạnh sung sướng. Vào đời sau con sẽ hộ trì lưu bố để pháp
này tồn tại lâu dài, đến khi qua đời con sanh lên cõi trời Đâu suất. Trong cõi
trời
này, nếu có người nào căn tánh thành thục ưa thích đại thừa thì con cũng
khai thị giảng nói để người ấy phát tâm đạo, còn ở Diêm phù đề thì không cho
đứt đoạn. Lại trong đời mạt phápthiện nam thiện nữ nào thọ trì đọc tụng
chánh pháp này, nếu bị các ma làm nhiễu loạn thì khi đó con bí mật đến đó mà
bảo vệ, không để các ma làm hại.

Bạch Thế Tôn ! Trong đời mạt pháp, nếu ai được nghe pháp này
rồi đọc tụng y như pháp mà tu hành, thì nên biết đó là do oai thần của Phật
kiến
lập.

Bấy giờ đức Phật dạy chủ trời Đế Thích :

– Này Kiều Thi Ca ! Ông hãy thọ trì ghi nhớ chánh pháp này
để ủng hộ đời sau cùng. Vì sao ? Vì pháp này có thể đoạn trừ các nghi ngờ, có
thể làm sạch các nghiệp chướng, bình đẳng với các pháp, lại có oai lực lớn.

Đế Thích nên biết ! Nếu gặp lúc chiến đấu với A tu la thì
ông nên ghi nhớ pháp này sẽ được chiến thắng còn A tu la sẽ rút lui.

Lại nữa, nếu ai ở trong các nạn như nạn vua, nạn giặc cướp,
nạn hổ lang, trùng, thú, kẻ ác mà tư duy ghi nhớ pháp này thì người ấy được
tránh xa các nạn.

Thiên chủ Đế Thích thưa :

– Theo Thế Tôn chỉ dạy con sẽ hộ trì đời sau cùng. Nếu thành
ấp quốc thành xóm làng chỗ nào có pháp ấy con sẽ đến đó cung kính cúng dường.
Có ai trì giữ pháp này thì đến bảo vệ giúp đỡ.

Bấy giờ Phật dạy tôn giả A Nan :

– Ông hãy thọ trì chánh pháp này của ta, vào đời sau cùng
giảng nói lưu bố cho các chúng sanh. Vì sao ? Vì pháp này thâm sâu xưa chưa
từng có. Nếu người nam người nữ nào thọ trì pháp này thì được chấm dứt các nghi
ngờ
, diệt trừ tất cả cấu phiền não, cho nên ông phải ghi nhớ thọ trì.

A Nan thưa :

– Bạch Thế Tôn ! Con nhờ oai thần của Phật gia hộ, vào đời
sau
cùng con sẽ giảng nói pháp này, để các chúng sanh đều được lợi ích.

Bạch Thế Tôn ! Kinh này tên là gì ? Chúng con phụng hành như
thế nào ?

Phật dạy :

– Này A Nan ! Kinh này tên là Vị Tằng Hữu Chánh Pháp, nên
thọ trì như vậy.

Sau Thế Tôn phó chúc lại cho Bồ tát, Thanh vănĐế Thích,
Thế Tôn ngay trong hội hai bên thân phóng ánh sáng lớn chiếu khắp tất cả thế
giới
trong mười phương. Trong ánh sáng phát ra tiếng vi diệu bảo đại chúng :

Chánh phápNhư Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng chánh Giác đã
nói dù cho kiếp hoại, biển lớn có khô cạn đi nữa nhưng chánh pháp này không
bị hoại, có thể làm lợi ích lớn cho chúng sanh.

Sau khi trong ánh sáng phát ra tiếng như vậy thì ánh sáng ấy
quay tròn lại thân Phật.

Thế Tôn dạy A Nan :

– Ông hãy giữ gìn lời nói của ta đừng quên mất, vào đời sau
giảng rõ pháp này làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói Vị Tằng Hữu Chánh Pháp ấy,
có chín vạn sáu ngàn trời người xa lìa trần cấu đắc pháp Nhãn tịnh, có 780 vạn
người phát tâm Vô thượng Bồ đề, ba vạn hai ngàn Bồ tát đắc Vô sanh pháp nhẫn,
80 vạn Bí sô không chấp thủ các pháp, được lậu tận ý giải. Khi ấy ba ngàn đại
thiên thế giới
chấn động sáu cách, trời Dục Sắc giới ở trong hư không trỗi lên
trăm ngàn âm nhạc để cúng dường Thế Tôn và pháp đã nói. Khi đức Phật Thích Ca
Mâu Ni
nói chánh pháp này, tất cả trời, ma, ngoại đạo nghe được đều kinh hãi
qui y đức Phật giống như Phật ban đầu chuyển pháp luân chiến thắng Thiên ma.
Pháp này là dấu ấn của chư Phật, là dấu ấn của đại pháp, là dấu ấn của giải
thoát
. Người nào có trí nên học như vậy, tu hành như vậy.

Sau khi Phật nói kinh này xong, vua nước Ma Già Đà cùng
quyến thuộc, các đại Bồ tát : Diệu Cát Tường .v.v… các Đại Thanh văn Đại Ca
Diếp
, A Nan, Xá Lợi Tử, Mục Kiền Liên.v.v… cho đến trời người thế gian, A tu
la
, Càn thát bà… Nghe Phật nói tất cả đại chúng đều rất hoan hỷ tin thọ phụng
hành
.


Hết quyển thứ sáu –