Kinh Ưu Bà Tắc

0
9

KINH ƯU-BÀ-TẮC (128)
Hán dịch: Phật Đà Da XáTrúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú: Thích Tuệ Sỹ Sài gòn 2002
(Trích: SỐ 26 – KINH TRUNG A-HÀM (I))

Tôi
nghe như vầy:

Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.

Bấy
giờ, Cư sĩ Cấp Cô Độc cùng chúng Ưu-bà-tắc gồm có năm
trăm người đi đến chỗ Tôn giả Xá-lê Tử. Cư sĩ Cấp
Cô Độc
cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Năm
trăm Ưu-bà-tắc cũng làm lễ rồi ngồi xuống một bên.
Cấp Cô Độc và năm trăm Ưu-bà-tắc sau khi ngồi xuống
một bên, Tôn giả Xá-lê Tử thuyết pháp cho họ, khuyến phát
khát ngưỡng, thành tựu sự hoan hỷ. Ngài dùng vô lượng
phương tiện thuyết pháp cho họ, khuyến phát khát ngưỡng,
thành tựu sự hoan hỷ rồi, liền rời chỗ ngồi đi đến
chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật và ngồi xuống một
bên.

Sau
khi Tôn giả Xá-lê Tử đi chẳng bao lâu, Cư sĩ Cấp Cô Độc
và năm trăm Ưu-bà-tắc cũng đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ
sát chân Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi Tôn giả
Xá-lê Tử và mọi người đã an tọa, Đức Thế Tôn dạy:

“Này
Xá-lê Tử, nếu thầy biết rằng bạch y Thánh đệ tử[2]
gìn giữ, thực hành năm pháp một cách hoàn hảo và được
bốn tăng thượng tâm[3], hiện pháp lạc trú, dễ được chứ
không phải khó được. Xá-lê Tử, thầy nên xác nhậän rằng
Thánh đệ tử này không còn đọa địa ngục, cũng không còn
sanh vào loài súc sanh, ngạ quỷ và các chỗ ác, được quả
Tu-đà-hoàn, không đọa ác pháp, nhất định thẳng tiến tới
quả vị Chánh giác, tối đa chịu bảy lần sanh tử nữa.
Sau bảy lần qua lại cõi trời, nhân gian, liền được chấm
dứt
khổ đau.

“Xá-lê
Tử, thế nào là bạch y Thánh đệ tử khéo giữ gìnthực
hành
năm pháp[4]? Đó là bạch y Thánh đệ tử xa lìa sát sanh,
vứt bỏ dao gậy, có tâm tàm quý, tâm từ bi, làm lợi ích
cho tất cả, cho đến loài côn trùng, người ấy đối với
sự sát sanh, tâm đã tịnh trừ. Đó là pháp thứ nhất mà
bạch y Thánh đệ tử đã giữ gìnthực hành một cách
hoàn hảo.

“Lại
nữa, này Xá-lê Tử, bạch y Thánh đệ tử xa lìa việc lấy
của không cho, dứt trừ việc lấy của không cho. Khi nào cho
mới lấy, vui với việc cho mới lấy, thường ưa bố thí,
hoan hỷ không keo kiết, không mong đền trả, không tham lam,
thấy tài vật của kẻ khác không lấy về mình[5]. Người
ấy đối với việc không cho mà lấy tâm đã tịnh trừ. Đó
là pháp thứ hai mà bạch y Thánh đệ tử đã giữ gìn
thực hành một cách hoàn hảo.

“Lại
nữa, Xá-lê Tử, bạch y Thánh đệ tử xa lìa tà dâm, dứt
trừ tà dâm. Người nữ kia hoặc có cha giữ gìn, hoặc có
mẹ giữ, hoặc cả cha cả mẹ cùng giữ, hoặc anh em giữ,
hoặc chị em giữ, hoặc gia nương giữ, hoặc thân tộc giữ,
hoặc người cùng họ giữ, hoặc là vợ của người khác,
hoặc có phạt gậy[6], khủng bố, hoặc đã có ước hẹn
bằng tài hóa, cho đến bằng một tràng hoa[7]; đối với tất
cả những người nữ ấy, không xâm phạm đến. Người ấy
đối với tà dâm, tâm đã tịnh trừ. Đó là pháp thứ ba
bạch y Thánh đệ tử đã giữ gìnthực hành một cách
hoàn hảo.

“Lại
nữa, Xá-lê Tử, bạch y Thánh đệ tử xa lìa nói dối, dứt
trừ nói dối; nói lời chân thật, ưa sự chân thật, an trụ
nơi sự chân thật, không dời đổi sai chạy. Tất cả những
lời nói đều đáng tin, không lừa dối thế gian. Người ấy
đối với sự nói dối, tâm đã tịnh trừ. Đó là pháp thứ
tư mà bạch y Thánh đệ tử giữ gìnthực hành một cách
hoàn hảo.

“Lại
nữa, Xá-lê Tử, bạch y Thánh đệ tử lìa rượu, bỏ rượu.
Người ấy đối với việc uống rượu, tâm đã tịnh trừ.
Đó là pháp thứ năm mà bạch y Thánh đệ tử giữ gìn
thực hành một cách hoàn hảo.

“Này
Xá-lê Tử, thế nào là bạch y Thánh đệ tử được bốn
tâm tăng thượng, hiện pháp lạc trú, dễ chứ không phải
khó được[8]? Đó là bạch y Thánh đệ tử niệm tưởng Như
Lai
[9], Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành
Tựu
, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp
Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu. Nhớ nghĩ Như Lai như
vậy rồi, nếu có những ác dục liền được tiêu diệt.
Trong tâm có những điều bất thiện, nhớp nhơ, sầu khổ,
âu lo cũng được tiêu diệt. Bạch y Thánh đệ tử nương
vào Như Lai, tâm tịnh được hỷ, nếu có những điều ác
dục
liền được tiêu diệt. Trong tâm có những điều bất
thiện
nhớp nhơ, sầu khổ, âu lo cũng được tiêu diệt. Như
vậy, bạch y Thánh đệ tử được tâm tăng thượng thứ nhất,
hiện pháp lạc trú, dễ được chứ không phải khó được.

“Lại
nữa, Xá-lê Tử, bạch y Thánh đệ tử niệm tưởng Pháp[10]
được Thế Tôn khéo giảng, pháp chắc chắn đưa đến cứu
cánh
, không phiền, không nhiệt, hằng hữu, không di động.
Quán pháp như vậy, biết pháp như vậy, nhớ nghĩ pháp như
vậy rồi nếu có những điều ác dục liền được tiêu diệt.
Trong tâm có những điều bất thiện nhớp nhơ, sầu khổ,
âu lo, cũng được tiêu diệt. Bạch y Thánh đệ tử duyên
vào pháp, tâm tịnh được hỷ. Nếu có những điều ác dục,
liền được tiêu diệt. Trong tâm có những điều bất thiện
nhớp nhơ, sầu khổ, âu lo, cũng được tiêu diệt. Như vậy,
bạch y Thánh đệ tử được tâm tăng thượng thứ hai.

“Lại
nữa, Xá-lê Tử, bạch y Thánh đệ tử niệm chúng Tăng[11],
Thánh chúng của Như Lai là những bậc thiện thú hướng, chánh
thú hướng, như lý hành, pháp tùy pháp hành, chúng ấy thật
có A-la-hán hướng, A-la-hán quả, có A-na-hàm hướng, A-na-hàm
quả, có Tư-đà-hàm hướng, Tư-đà-hàm quả, có Tu-đà-hoàn
hướng, Tu-đà-hoàn quả. Đó là bốn cặp tám bậc, là chúng
của Như Lai thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu
trí tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu giải thoát tri
kiến
, đáng kính, đáng trọng, đáng phụng, đáng cúng, là
ruộng phước an lành của thế gian. Người ấy nhớ nghĩ chúng
của Như Lai như vậy, nếu có những điều ác dục liền được
tiêu diệt. Trong tâm có những điều bất thiện, nhớp nhơ,
âu lo, cũng được tiêu diệt. Bạch y Thánh đệ tử duyên
vào chúng của Như Lai, tâm được hoan hỷ, nếu có những
điều ác dục liền được tiêu diệt. Trong tâm có những
điều bất thiện, nhớp nhơ, sầu khổ, âu lo cũng được
tiêu diệt. Như vậy, bạch y Thánh đệ tử được tâm tăng
thượng
thứ ba, hiện pháp lạc trú dễ được chứ không
phải khó được.

“Lại
nữa, Xá-lê Tử, bạch y Thánh đệ tử tự niệm tưởng giới[12],
giới này không sứt mẻ, không rách nát, không ô uế, không
cấu bẩn, vững như mặt đất, không hư vọng, đó là điều
Đức Phật ngợi khen, thọ trì đầy đủ tốt đẹp. Người
ấy tự nhớ nghĩ giới như vậy, nếu có những điều ác
dục
, liền được tiêu diệt. Trong tâm có những điều bất
thiện
, sầu khổ, nhớp nhơ, âu lo cũng được tiêu diệt.
Bạch y Thánh đệ tử duyên vào giới, tâm định được hỷ.
Nếu có những điều ác dục liền được tiêu diệt. Trong
tâm có những điều bất thiện, nhớp nhơ, sầu khổ, âu lo
cũng được tiêu diệt. Như vậy, bach y Thánh đệ tử được
tâm tăng thượng thứ tư, đối với hiện pháp lạc trú dễ
được chứ không phải khó được.

“Này
Xá-lê Tử, nếu thầy biết rằng bạch y Thánh đệ tử giữ
gìn
thực hành năm pháp một cách hoàn hảo và được bốn
tâm tăng thượng, hiện pháp lạc trú, dễ được chứ không
phải khó được, thì này Xá-lê Tử, thầy nên ghi nhận rằng
‘Thánh đệ tử này không còn đọa địa ngục, cũng không
sanh vào loài súc sanh, ngạ quỷ và các chỗ ác, được quả
Tu-đà-hoàn, không đọa ác pháp, nhất định thẳng tiến đến
quả vị Chánh giác, tối đa chịu bảy lần sanh tử nữa,
sau bảy lần qua lại cõi trờinhân gian, liền được chấm
dứt
khổ đau’.”

Khi
ấy Đức Thế Tôn nói tụng rằng:

Kẻ
trí sống tại gia,

Thấy
địa ngục, sợ hãi;

Do
thọ trì Thánh pháp,

Trừ
bỏ tất cả ác.

Không
sát hại chúng sanh,

Biết
rồi hay lìa bỏ,

Chân
thật
không nói dối,

Không
trộm của kẻ khác;

Tri
túc
với gia phụ,

Không
ái lạc vợ người;

Dứt
bỏ việc uống rượu,

Gốc
tâm loạn cuồng si.

Thường
nên niệm chánh giác,

Suy
nghĩ
các pháp lành.

Niệm
Tăng
, quán cấm giới,

Do
đó được hoan hỷ.

Muốn
hành hạnh bố thí,


cầu mong hưởng phước,

Trước
thí bậc tịch tịnh[13],

Như
vậy thành quả báo.

Ta
nói, bậc tịch tịnh,

Xá-lợi
nên nghe kỹ.

Nếu
có đen và trắng,


sắc đỏ hay vàng

Tạp
sắc, sắc đang yêu[14],


và các chim câu,

Tùy
loại
chúng sanh ra.


thuần, đi phía trước,

Thân
sức thành đầy đủ;

Đi
nhanh lại về nhanh,

Dùng
theo khả năng chúng,

Kẻ
gì sắc tốt xấu.

Nhân
gian
này cũng vậy,

Tùy
theo
chỗ thọ sanh,

Sát-đế-lị,
Phạm chí,


hay thợ thuyền,

Tùy
thọ sanh của họ,

Trưởng
thượng
do tịnh giới.

Bậc
Vô Trước, Thiện Thệ,

Cúng
thí ấy, quả lớn.

Phàm
phu
, vô sở trí,

Không
tuệ
, không học hỏi,

Thí
nơi ấy, quả nhỏ.

Không
quang minh rọi đến,

Nơi
nào rọi quang minh,

Phật
đệ tử
trí tuệ,

Tín
tâm
nơi Thiện Thệ,

Thiện
căn
được vững bền,

Người
ấy sanh thiện xứ,

Như
ý
chứng Gia gia,

Tối
hậu
đắc Niết-bàn,

Như
vậy có duyên cả.

 

Phật
thuyết như vậy
. Tôn giả Xá-lê Tử, chư Tỳ-kheo, Cư sĩ Cấp
Cô Độc
và năm trăm Ưu-bà-tắc sau khi nghe lời Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.

Chú
thích

[1]Tương
đương Pāli A.5.179: Gihi-sutta.

[2]Bạch
y
Thánh đệ tử 白衣聖弟子.
Pāli: gihi odātavasana, tại gia áo trắng.

[3]Bốn
tăng thượng tâm 增上心,
ở đây chỉ bốn chứng tịnh hay bốn bất hoại tín, (xem
Pháp Uẩn 2, No.1537, trang 460a). Pāli: cataro ābhicetasikā dhammā;
xem đoạn dưới.

[4]Thiện
hộ hành ngũ pháp 善護行五法.
Pāli: pañcasu sikkhāpadesu saṃvutta- kammanto, hoạt động được
phòng hộ trong năm điều học, tức hộ trì năm giới.

[5]Bất
dĩ thâu sở phú thường tự hộ dĩ 不以偷所覆常自護以,
không bị ám ảnh bởi việc ăn trộm. Sau khi thường tự giữ
gìn
… Câu này bất thường so với các nơi khác cũng trong
bản Hán này. Ở đây dịch theo thông lệ của các trường
hợp
kia.

[6]Hữu
tiên phạt, khủng bố 有鞭罰恐布,
roi vọt và đe dọa; hai hạng nữ không là vợ hay con của
ai, nhưng một hạng được pháp luật vua gìn giữ; và một
hạng vốn là nô tì được chủ gìn giữ.

[7]Người
nữ đã hứa hôn.

[8]Nghĩa
là, do có bốn tăng thượng tâm (catunnaṃ ābhicetasikānaṃ)
mà sống an lạc ngay trong hiện tại (diṭṭhadhammavihārānaṃ).

[9]Hán:
niệm Như Lai 念如來;
Pāli: buddhe aveccappasādena samannāgato, thành tựu niềm tin không
dao động đối với Phật. Có bốn niềm tin bất động, gọi
là bốn chứng tịnh hay bất hoại tín; xem đoạn tiếp của
kinh.

[10]Hán:
niệm Pháp. Pāli: dhamme aveccappasādena samannāgato, thành tựu
niềm tin bất động nơi Pháp.

[11]Niệm
Tăng
. Pāli: saṅhge aveccappasdēna samannāgato.

[12]Tự
niệm thi-lại 自念尸賴.
Pāli: ariyakantehi sīlehi aveccappasādena samannāgato, thành tựu
các học giới mà Thánh ái mộ.

[13]Hán:
tiên thí ư tức tâm 先施於息心,
bố thí cho người có tâm tịch tĩnh trước hết.
Pāli: santesu paṭhamaṃ dinnā.

[14]Mang
sắc ái lạc sắc 尨色愛樂色.
Pāli: kammasāsu sarūpāsu, (những con bò) có đốm hay cùng màu.
Hình như bản Hán đọc là surūpa thay vì sarūpa.