Kinh Phân Biệt

0
12


KINH PHÂN BIỆT

Việt Dịch: Thích Thiện Trì

(Bản chữ Hán
của Tam Tạng Pháp-sư Trúc-Pháp-Hộ, Đại Tạng quyển 14 Kinh Tập bộ 1).

Như thật tôi nghe một thuở nọ Phật ở vườn cây của Trưởng giả
Cấp-Cô-Độc và Thái-tử Kỳ-Đà tại nước Xá-Vệ(*). Trong một buổi sớm mai, ánh bình
minh trải vàng trên muôn ngàn hoa lá, Đức Phật với lớp y vàng đoan nghiêm tĩnh
toạ. Ngài bảo A-Nan:

Này
ông A-Nan: Ông hãy nói với các Tỳ-kheo yên lặng lắng nghe. Ta sẽ nói cho các
ông biết về sự thọ khổ của cõi nhơn sanh.

A
Nan
liền rời chỗ ngồi đứng dậy sửa chiếc y rồi lạy Phật mà thưa rằng:

Bạch
Thế-Tôn, chúng con rất mong được nghe Thế-Tôn dạy cho điều đó.

Phật
dạy: Người đời có sáu điều ác tự lừa gạt và tự gây tổn hại: Mắt bị hình sắc lừa
gạt, tai bị âm thanh lừa gạt , mũi bị mùi thơm lừa gạt, ý bị tư tưởng tà vạy
lừa gạt. Đó là sáu thứ thường xuyên làm cho người đời phải sa vào các đường ác,
chịu khổ triền miên, khó mong giải thoát. Những người có trí mới nhận thức
được.

Lại
nữa, có ba điều người đời ưa làm nên họ phải chịu quả báo trong ba đường khổ:
Một là thân ưa sát hại, trộm cắpdâm dục. Hai là miệng ưa nói lời xuyên tạc,
chửi mắng độc ác, dối trá lừa gạt và nói thêu dệt. Ba là ý ưa nghĩ chuyện tham
lam
, giận hờn, si mê. Vì ba điều đó mà đoạ vào ba đường khổ: Địa-ngục, Ngạ-quỷ,
Súc-sanh. Chỉ người có trí mới nhận thức được.

Lại
nữa, có sáu điều người đời thường mê đắm, nên bị sa vào mười tám cảnh khổ: Mắt
mê đắm theo hình sắc, tai mê đắm theo âm thanh, mũi mê đắm theo mùi thơm, thân
mê đắm theo những thứ gây cảm xúc mát mịn êm dịu, ý mê đắm theo tư tưởng cuồng
loạn
sai lầm. Đó là những điều thường xuyên gây tổn hại, thế mà họ vẫn thường
xuyên
chấp nhận, cho nên bị rơi vào mười tám cảnh Địa-ngục, chịu sự thống khổ
mãi mãi, không lúc nào mong thoát khỏi!

A-Nan
thưa Phật: Nếu như những người nào có thờ Phậtthọ giới thì có thể
thoát được cảnh khổ ấy chăng?

Phật
đáp: Nếu như những người có thờ Phậtthọ giới thì được phước đức vô lượng,
không thể nào hình dung được. Nhưng ngược lại cũng có những người thờ Phật
sa vào chỗ cực cùng tội lỗi.

A-Nan
bạch Phật: Thờ Phậtthọ giới sẽ được phước đức vô lượng. Vậy thì tại sao có
kẻ mắc phải tội lỗi nặng? Con mong được Phật dạy cho điều đó.

Phật
đáp: A-Nan! Người mà thờ Phật, phụng trì kinh giới, tinh tấn tu niệm, không hề
trật phạm thì được phước đức vô lượng, không thể tỷ dụ được. Nhưng cũng có
người thờ Phật, thọ giới mà không giữ gìn thanh tịnh, không lo tinh tấn tư duy
thiền định, mà chỉ mượn danh thờ Phật, rồi chuyên làm những sự tà vạy tham cầu
không nhàm, không có tâm niệm biết đủ, không có ý nghĩ chế ngự, dâm dật sắc
dục
, ưa thích ca múa, tham đắm rượu thịt, buông lung phóng đãng, thì làm sao
tránh khỏi tội lỗi khó lường của họ? Vì lẽ đó, họ đoïa mãi ba đường , chịu
nhiều thống khổ, khó được giải thoát:

Phật
dạy: có ba hạng người thờ Phật:

Một
đệ tử của Ma thờ Phật.

Hai
là hàng Nhơn Thiên thờ Phật.

Ba
đệ tử của Phật thờ Phật.

Sao
gọi là đệ tử của Ma thờ Phật?

Phật
đáp: Tuy rằng thọ giới theo Phật, nhưng tâm niệm của họ ưa làm những việc
vạy
: Bói xâm, giải trừ, cúng tế cầu đảo, đồng bóng mê hoặc, tin có Quỷ Thần gần
gũi trong nhà, không tin theo những điều chơn chánh, không biết quả báo tội
phước. Chỉ mượn danh nghĩa thờ Phật mà thường theo những kẻ tà ác, chết đoïa
địa ngục không kịp trở tay, phải chịu khổ lâu lắm mới có ngày thoát ra, mà làm
bà con với boïn ma, siểm nịnh yêu quái, thật rất khó cứu độ. Hạng người này do
dư phước đời trước, nên tạm thời được gặp Chánh đạo mà tâm ý vẫn mù mờ, không
hiểu được túc phước. Rồi lại phải đi theo nẻo tà kiến mà bị sa đoạ không biết
bao giờ cùng! Ấy là đệ tử của Ma thờ Phật. Sao gọi là hàng Nhơn Thiên thờ Phật?

Người
thọ trì đủ năm giới cấm, tu mười pháp lành(1), dầu đến chết
cũng không dám huỷ phạm, biết tin tội phước, làm phải gặp phải, sau khi mạng
chung
liền sanh lên cõi trời. Ấy gọi là hàng Nhơn Thiên thờ Phật.

Sao
gọi là đệ tử của Phật thờ Phật?


những người biết phụng trì chánh giới, học rộng kinh luật, trao dồi trí tuệ,
biết rõ ba cõi là trường thống khổ, tâm không ưa đắm, muốn cầu giải thoát, tu
hành
theo những pháp môn như: Tứ-đẳng(2), Lục-độ(3). Thương xót chúng sanh,
muốn tế độ khắp tất cả, không tham tiếc thân mạng, biết chết đời này sanh lại
đời khác, cầu làm việc phước mãi mãi, không bao giờ làm theo những điều mê tín,
Ấy là đệ tử của Phật thờ Phật.

Phật
dạy: Sau khi Ta nhập Niết-bàn độ một ngàn năm sẽ có ma giáo nổi lên, thời thế
yêu ác, quốc gia không được toàn quyền tự chủ, nhân dân không được an cư lạc
nghiệp
, tai nạn chiến tranh sát hại tàn bạo, ngoại xâm nội loạn dồn dập, quốc
gia
không có phép tắc kỷ cương, xã hội đảo lộn. Lúc đó là thời tượng pháp.

A-Nan
thưa Phật: Sao gọi là tượng pháp?

Phật
đáp: trong thời đó có nhiều Tỳ-kheo không phụng trì đúng theo Chánh-pháp. Trái
lại
họ còn sống với vợ con, không tâm hổ thẹn, chỉ lo nghề nghiệp sanh sống,
không có học thức, không lo tu thiền, ưa thích ăn mặc theo kiểu thế tục, trên
dưới lộn xộn, giả dối lẫn nhau, bác bỏ những điều căn bản chính yếu trong sự
nghiệp
giáo hoá hộ đời, đắm theo sắc dục, không sợ tội lỗi. Khi có người hiểu
biết
Chánh-pháp vì muốn dùng lời trung thực chỉ bày giáo pháp chơn chánh thì họ
lại sanh tâm xấu ác, oán ghét, muốn tìm mọi cách chỉ trích phá hoại, phỉ báng,
cho rằng người ấy là kẻ thiếu sự hiểu biết. Vì vậy cho nên Chánh-pháp giảm dần.

A-Nan
thưa Phật: Khi đó có người nào phụng trì Chánh-pháp hay chăng?

Phật
đáp: Vẫn có nhiều người thờ Phật, và nhiều người xuất gia. Nhưng không mấy ai giữ đúng giới luật. Không sống với tinh thần lục hoà. Những
người tinh thông nghĩa lý thì lại rất ít. Phần nhiều là
những người kém hiểu biết!

A-Nan
thưa rằng: Vậy thì ngay trong khi đó, nước nào ác nhất, đến nỗi ít thấy được
những người tin tưởng tu hành đúng theo lời Phật?

Phật
đáp: Ở cõi Chơn-Đơn sẽ có hàng ngàn Tỳ-kheo ngay trong Tăng đoàn mà làm bạn với
ma. Trong số ấy chỉ có một vài vị là người thông minh hiểu biết và chính là đệ
tử
của Phật. Đến nỗi ít có người được sanh lên cõi Trời Lục-Dục. Những kẻ sa
vào cõi ma thì lại rất nhiều!

Phật
dạy: Sau khi ta nhập Niết-bàn, cũng có nhiều kẻ học ở bên ngoài đền cầu đạo ta.
Nếu người nào muốn tiếp độ họ thì cần phải dè dặt. Sau ba tháng, nếu biết ý chí
của họ có thể tu lập theo hạnh thanh-tịnh, thân tâm rỗng
lặng, ít lòng ham muốn, không làm những điều gì sai quấy, ô nhiễm, thì mới
có thể chính thức chấp nhận. Trước hết là truyền cho họ giới thập thiện.
Sau ba năm, nếu xét thấy họ tu tập đúng được với chánh đạo, không phạm những
tội ác nào, nhiên hậu mới được tiếp tục cho thọ hai trăm năm mươi giới pháp.
Nếu biết tinh tấn tu lập, hoàn toàn đến mục đích giải thoát, nhất định người ấy
sau sẽ gặp Phật Di-Lặc và được độ thoát.

A-Nan
thưa Phật: Như lời Phật dạy con xin hoàn toàn vâng thọ và nói lại cho người sau
biết rõ. Để sự nghiệp hoằng pháp của Phật sau này khỏi bị sai lầm tuyệt diệt.

Phật
dạy: Này A-Nan! Việc ông vâng thọ, trước sau như một, quán thống tất cả. Ông đã
hết lòng tin tưởng và lo hộ trì Phật pháp. Ta cũng đã chứng minh cho ông điều
đó.

A-Nan
thưa Phật: Sau này những người tin tưởng, muốn tu hành đúng theo chánh pháp,
hết lòng mong muốn cầu xa lìa thế tục, xuất-gia học đạo, nếu không được bậc
minh sư trao truyền giới pháp, mà có người viết chép giới, luật trao cho thì họ
có thể được độ và làm Phật sự được hay không?

Phật
dạy: A-Nan, hoàn toàn phải là người biết giới cấm và biết đạo lý mới có thể
trao truyền giới pháp. Nhưng không thể trao truyền qua văn tự mà cho là đúng
pháp được. Tại sao như vậy? Bởi vì Phật là bậc Đại trí cả trên trời dưới
trời, là Bậc Đại độ cả trên trời dưới trời, là bậc Đại minh cả trên trời dưới
trời, Không nên vọng truyền làm mất tôn chỉ, mà cần phải hiểu rõ giới pháp,
luật cấm, lão luyện mọi sự, mới có thể truyền giới cho người sau. Nếu không
thông hiểu những việc cốt yếu trong kinh phápoai nghi giới cấm, mà truyền
giới
pháp cho người ta là trái lời Phật dạy, thiếu sự thành kínhmất lòng
tin đối với mọi người. Chẳng những đã không ích lợi gì cho cả người truyền lẫn
người thọ, mà lại còn mắc phải tội lỗi không nhỏ. Vậy nên các ông cần phải suy
xét
cho rõ.

A-Nan
thưa Phật: Đời sau, như có những người chí tâm chí ý, vì chán nỗi thống khổ của
cảnh thế gian, muốn cầu được độ thoát, nếu gặp đời không có Phật thì phải làm
sao để tế độ họ?

Phật
dạy: A-Nan, hãy dẫn họ đến chỗ vị minh sư am hiển giới pháp, chỉ vẽ cho họ tập
theo những việc cốt yếu về các oai nghi giới cấm. Nếu như xét thấy người có thể
độ thì sẽ độ cho họ. Bằng như tự mình không hiểu rõ giới pháp mà truyền cho
người, thì cả hai đều mê lầm, sai đạo, lộn xộn vô cùng, còn nương vào đâu mà
được độ thoát!

Phật
dạy: Sau này có những Tỳ-kheo, bản thân không được thanh tịnh, nuôi dưỡng vợ
con
, thân thì hành động phi pháp, phá giới, ô nhiễm, mà ý lại tham phước mà
mong an lạc, thì khó nỗi thoát khỏi quả báo tội ác! Những hạng người như thế
thật đáng thương xót!

A-Nan
thưa Phật: Sau này những người đã có nhơn duyên xuất gia tu học, như vậy là đều
đã được nhờ oai thần của Phật, thì lẽ ra cũng đều được giải thoát, tại sao có
kẻ không tin lời minh giáo của Phật, mà lại trái phạm giới luật, để rồi phải
chịu không biết bao nhiêu thống khổ trong vô số kiếp? Phật dạy: Do bởi đời
trước, khi bị đoạ trong cảnh thống khổ, vì quá đau đớn, người ấy đã nhất thời
ăn năn tự trách, nên được chút phước sanh làm thân người ở thời mạt pháp, lại
được gặp kinh Phật và có thể cạo bỏ râu tóc mà làm vị Tỳ-kheo. Nhưng ý thức
chưa dứt trừ được, tâm do dự, mù mờ không rõ, lại không gặp được bậc minh sư
trí đức, nên thường có những hành động ô trược, phần đông không thể hoàn toàn
ly tục. Như vậy mai sau còn phải đoạ vào các cảnh khổ cực, lần lượt thọ tội
trải vô số kiếp!

Phật
dạy: Này các Tỳ-kheo. Các ông nay đã là người xuất gia, bỏ cả lối sống gia đình
vợ con, bỏ những sự nghiệp kinh doanh ở đời để làm bậc Sa-môn, thì các ông cần
phải
siêng năng tu tập, giữ gìn giới hạnh, như pháp của các bậc A-La_hán. Thà
rằng các ông lấy nước đồng sôi tự uống vô, làm cháy tiêu ruột gan, chứ không nên
làm người vô đạo đức mà nhận của tín thí. Người vô đạo đức mà nhận của tín thí
sẽ phải chịu tội thống khổ nhiều kiếp. Do chút phước mọn, được làm thân người,
rồi phải trở lại tuần tự đền trả, Có kẻ phải làm con cái để đền trả, có kẻ phải
làm cha mẹ để đền trả v.v…

A-Nan
thưa Phật: Sao gọi là đền trả?

Phật
đáp: Có người làm thân tôi tớ bị chủ nhà đánh đập, mắng chửi tàn tệ, đối xử
đạo
, thế mà tôi tớ vẫn đành cam chịu, không hề oán hận, lại còn siêng năng làm
mọi công việc không biết mỏi mệt, giữ gìn
của cải cho người chủ nhà không để hư mất. Chính là đời nay làm thân tôi tớ để
đền trả nghiệp đời trước đã nhận của tín thí mà không lo tạo những việc công
đức
. Thì ra sau khi kẻ ấy chịu đủ tội khổ xong rồi, còn trở lại làm người để mà
đền trả. Trong số đó cũng có người biết được phần nào nghiệp báo đời trước, nên
đành cam chịu!

Sao
gọi là làm con cái để đền trả?

Nghĩa
là sự việc con cái không dám than phiền dù làm được bao nhiêu của tiền đều bị
cha mẹ tiêu dùng không biết hạn lượng. Ấy là làm con cái để đền trả nghiệp báo
đời trước.

Sao
gọi là làm cha mẹ để đền trả?

Nghĩa
là sự việc cha mẹ vẫn cam tâm đành chịu dù làm ra bao nhiêu của tiền đều bị con
cái xài phá hoang phí, làm hư gia bại sản.

Sở
ai cũng chịu đựng như vậy, là vì họ cảm nhận được phần nào nhân duyên nghiệp
báo
đời trước mà đành cam chịu, không trách ai cả. Thế nhưng những kẻ phải trả
nợ cho nhau ấy, nhân duyên đưa đẩy gặp nhau trong một thời gian, sau khi trả
xong lại phải chia ly, chứ không thể nào sống chung mãi. Người trí biết rõ lẽ
đó cho nên không gây ra nghiệp duyên để phải đền trả.

Chỉ
đạo đức mới được tồn tại. Như ta thuở quá khứ cũng từng phải làm cha mẹ, con
cái, tôi tớ nhiều đời không thể tính kể. Tất cả đều do nhơn duyên một thời phải chịu, mà không làm sao chạy khỏi. Và cha mẹ của
ta có được hiện thời là do nhơn duyên đạo đức nhiều đời,
chứ không do nhơn duyên nghiệp báo. Nhiều đời cha mẹ ta đã để cho ta tự do học
đạo
. Chính nhờ công ơn đó ta đã tinh tấn tu hành trải qua nhiều kiếp nay mới
được thành Phật. Vậy nên người muốn học đạo không thể không tinh tấn lo sao cho
tròn chữ hiếu. Chớ để một khi bị đoạ mất thân người, muôn
kiếp khó bề trở lại!

Sau
này, gặp thời mạt pháp, các người cần nên tu hành hiếu thuận, được gặp kinh
pháp
, không thể không lo siêng năng tu lập. Gặp Phật ra đời, không thể không
hết lòng quy kính. Gặp bậc minh sư, không thể không lo hết lòng phụng thờ,
chuyên cần học hỏi, thân cận thọ lãnh những giáo huấn.

Tại
sao như thế? Vì nguyên được làm thân người đã là việc rất khó. Sáu giác quan
cũng khó được đầy đủ. Khó được thông minh tài khí. Khó được gặp Phật, khó được
nghe chánh pháp. Cho nên các ông cần phải hết lòng siêng năng tu tập. Sau khi
ta nhập niết bàn, sẽ có thời kỳ thế gian xảy ra tai ác, ngũ nghịch. Khi đó ở
cõi Chơn đơn có nhiều ma quái thạnh hành, chánh đạo bế tắc; tuy kinh pháp
của Phật vẫn lưu truyền, nhưng ít ai học hỏi thấu đáo. Và dẫu có ai học hỏi thì
cũng ít có người thực hành. Giửa đời tuy cũng có hình bóng của các vị Tỳ-kheo,
nhưng ít ai tự giữ gìn giới hạnh thanh tịnh. Phần nhiều là những kẻ phá giới,
nhiễm trước, tập theo thói tục, chỉ có tham vọng đây đó cho thoã
chí du nhàn không khác gì người đời. Ưa mặc đồ tốt đẹp, ưa
học theo sách vở nghị luận của thế gian, tập những thứ âm nhạc ca xướng , ưa
kết tụ bè đảng, ưa cầu danh vọng như người thế tục. Họ nhận người vào đạo, độ
làm đệ tử nhưng không biết cách dạy giữ gìn giới hạnh ngăn
ngừa
ma nghiệp, không theo chánh đạogiáo hoá độ đời,
không chịu tìm bậc minh sư trí đức, không biết giữ gìn cẩn thận các giác quan, mà vẫn tự xưng ta là đại đức. Họ si mê
không biết rằng tuy nay được làm thân người cũng chỉ tạm thời mà thôi, nhưng cứ
tưởng là lâu dài. Và mặc dù đời là tạm thời và tương đối nhưng tội lỗi đã gây
ra thì sau phải chịu khổ sở vô cùng, điên đảo lăn lộn ở
trong chúng ma. Thật là thống khổ biết dường nào! Này các Tỳ-kheo! Các ông nay
đã được làm thân người, được đầy đủ sáu giác quan, lại được gặp Phật, gặp kinh
luật, giới pháp thì các ông cần phải siêng năng tu tập. Nếu
không
, một khi đánh mất căn bản nhân cách, muôn kiếp khó bề hồi phục. Phật ra
đời cũng khó được gặp, kinh Pháp dạy cũng khó được nghe. Nên các ông phải biết
tự suy nghĩ.

Phật
nói kinh này xong thì các vị Tỳ-kheo đều ngồi im lặng tư duy quán tưởng và liền
được chứng quả A-La-hán.

Dịch
tại Phật Học Viện Quảng Hương Già Lam Gia Định

Phật
đản
2515

Chú thích

(1) Mười pháp lành:

1-
Không sát sanh.

2-
Không trộm cắp.

3-
Không tà hạnh

4-
Không nói dối.

5-
Không nói thêu dệt.

6-
Không nói xuyên tạc.

7-
Không nói độc ác.

8-
Không tham lam.

9-
Không sân hận.

10-
Không si mê tà kiến.

Ngược
lại mười điều trên là mười điều ác.

(2) Tứ đẳng: Cũng được gọi là Tứ Vô Lượng Tâm: TỪ, BI, HỶ, XẢ, là bốn đức
tánh bao labình đẳng của chư Phật đối với tất cả chúng
sanh
. Theo kinh Lăng-già quyển ba nói thì tứ đẳng là: Tự đẳng, Ngữ đẳng, Pháp
đẳng và Thân đẳng. Tự đẳng như Phật tự xưng là Phật, thì chữ Phật ấy cũng là
tiếng tôn xưng cho tất cả chư Phật. Tự tánh của chữ Phật không có gì sai khác,
nên gọi tự đẳng. Ngữ đẳng là những âm thanh ngôn ngữ thuyết pháp của tất cả các
đức Phật đều như nhau. Thân đẳng là ba thân: Pháp thân, Báo thânỨng hoá thân tướng hão trang nghiêmđức
Phật
nào cũng có đầy đủ như nhau. Pháp đẳng là Ba mươi bảy pháp giác ngộ giải
thoát
thuyết pháp độ sanhđức Phật nào cũng có như nhau. Theo hai thuyết
trên ta thấy như có sự sai khác, nhưng kỳ thật thì tuỳ theo
nhơn quả mà nói Vì nhơn TỪ BI HỶ XẢ bình đẳng vô lượngđạt đến quả TỰ NGỮ
PHÁP THÂN cũng bình đẳng vô lượng.

(3) Lục độ: Là sáu pháp môn chính yếu của Bồ tát hạnh tự độ và độ tha, là
sáu món diệu dược chữa trị sáu căn bịnh trầm trọng làm cho chúng sanh đắm trong
sanh tử. Bồ tát dùng sáu pháp này để đưa chúng sanh qua biển sanh tử, lên bờ
giải thoát, nên gọi là độ:

1.Bố
thí độ
, tiếng Phạn gọi là Đàn ba-la mật( Dànapàramita), là hạnh bố thí rốt ráo,
để độ tâm xan tham bỏn xẻn của mình, và để cứu giúp cho kẻ khác đang bị cảnh
nghèo cùng thiếu thốn do nhơn bỏn xẻn đời trước gây ra.

2.
Trì giới độ, tiếng Phạn gọi là Thi-la ba-la mật ( Silapàramita) đối trị sự huỷ phạm giới cấm.

3.
Nhẫn nhục độ tiếng Phạn gọi là Sằn đề ba la mật (
Ksatipàramita) đối trị sân hận.

4.
Tinh tấn độ tiếng Phạn gọi là Tỳ-lê-da ba la-mật ( Viryapàramita) đối trị trễ nải.

5.
Thiền định độ, tiếng Phạn gọi là Thiền na ba la-mật ( Dhyàpàramita) đối trị tán
loại.

6.
Trí tuệ độ, tiếng Phạn gọi là Bát nhã ba-la-mật (Prajnãpàramita) đối trị si mê.