Kinh Bốn Mươi Hai Chương

0
15

KINH BỐN
MƯƠI HAI CHƯƠNG

Hán dịch:
Ca-Diếp Ma-Đằng và Trúc-Pháp Lan đời Hậu-Hán đồng dịch.


Việt-dịch:
Thích-Tâm-Châu

 

Sau
khi thành đạo, đức Thế-Tôn suy nghĩ rằng: “Lìa bỏ sự ham muốn, an- trụ trong
vẳng-lặng, là điều cao hơn cả!”.

Ngài an-trụ trong
đại-định và hàng-phục các ma-đạo.

Trong vườn
Lộc-giả, Ngài quay bánh xe pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị đồng tu như Tôn-giả
Kiều-Trần-Như v.v…, chứng được đạo-quả.

Lại có các vị
Tỳ-Khưu nói lên những điều ngờ vực của mình, xin Phật chỉ dạy cho điều gì nên
tiến và điều gì nên ngưng.

Đức Thế-Tôn dạy
bảo
, ai cũng đều khai-ngộ. Các vị chắp tay, kính vâng và thuận theo lời Ngài
chỉ dạy.

 

CHƯƠNG THỨ NHẤT:
XUẤT-GIA, CHỨNG
QUẢ

Phật dạy: “Từ-biệt
người thân đi xuất-gia, nhận-thức được tâm, thấu – suốt được cội gốc và hiểu rõ
được pháp vô-vi, mới gọi là “Sa – môn”. Vị Sa – môn thường giữ hai trăm năm
mươi giới, khi tiến, khi ngưng, đều ở trong niệm thanh- tịnh và thực-hành
đạo-hạnh của bốn chân-đế, để thành bốn Thánh-quả như bậc A-La-Hán v.v…

A-La-Hán (Arahat)
là vị tu-chứng có thể phi-hành, biến-hóa, kéo dài thọ – mệnh nhiều kiếp và khi
an-trụ có thể làm rung-chuyển trời đất.

Thứ đến,
A-Na-Hàm (Angàmi). A-Na-Hàm là vị tu-chứng, sau khi mất, linh-thần sinh lên cõi
trời
thứ mười chín, chứng quả A -La-Hán.

Thứ đến,
Tư-Đà-Hàm (Sakrdàgàmi). Tư-Đà-Hàm là vị tu – chứng, chỉ còn một lần sinh lên
cõi trờimột lần trở lại cõi người trong Dục-giới là chứng được quả
A-La-Hán.
Thứ nữa là
Tu-Đà-Hoàn (Sotàpanna-phala). Tu-Đà-Hoàn là vị tu-chứng còn phải bảy lần sinh,
bảy lần tử nữa, mới chứng được quả A- La -Hán.

Chặt đứt ái-dục
như chặt tứ chi, không dùng gì nữa, (tức là vượt khỏi luân-hồi)!”.

 

CHƯƠNG THỨ HAI:
ĐOẠN DỤC TUYỆT
CHỨNG

Phật dạy: “Bậc
Sa-môn xuất-gia, dứt tham-dục, bỏ ái-nhiễm, biết nguồn tâm của mình, suốt lý
sâu của Phật, ngộ pháp vô-vi; bên trong, không có chỗ nào gọi là chứng-đắc bên ngoài,
không có chỗ nào gọi là cầu được; tâm không hệ – thuộc với đạo và cũng không
kết nghiệp, không suy-niệm, không tạo-tác, chẳng phải tu, chẳng phải chứng,
không trải qua các quả-vị mà tự thể – nhập diệu – quả cao thượng, đó gọi là
“đạo”.

 

CHƯƠNG THỨ BA:
CẮT ÁI BỎ THAM

Phật dạy: “Cắt
bỏ râu tóc, làm bậc Sa-Môn lĩnh-thụ đạo – pháp, bỏ của cải thế-gian, cầu xin
lấy đủ: giữa ngày một bữa ăn, một giấc ngủ dưới gốc cây, và thận-trọng, không
dám ham muốn đến hai lần. Vì, ái và dục làm cho người ta ngu-mê vậy”.

 

CHƯƠNG THỨ TƯ:
THIỆN, ÁC ĐỀU RÕ

Phật dạy: “Chúng-sinh
lấy mười việc làm thiện và, cũng lấy mười việc làm ác. Những gì là mười? – Thân
ba việc. Miệng bốn việc. Ý ba việc. Ba việc của thân là: sát, đạo, dâm. Bốn
việc của miệng là: hai lưỡi, ác khẩu, nói dối và nói thêu-dệt. Ba việc của ý
là: tham, sân, si.

Mười việc như
thế không thuận Thánh-đạo, gọi là mười hạnh ác. Việc ác ấy nếu ngưng-chỉ, thì
gọi là mười hạnh thiện”.

 

CHƯƠNG THỨ NĂM:
CHUYỂN NẶNG
THÀNH NHẸ

Phật dạy: “Người
ta có những tội lỗi mà không biết tự-hối, sớm dứt tâm tội-lỗi ấy đi, thì tội
lỗi
sẽ tới mình, như nước chảy về biển, dần dần thành sâu rộng. Nếu người ta có
tội-lỗi, tự biết là trái, đổi ác làm lành tội tự tiêu-diệt, như người đau, được
mồ-hôi xuất ra, dần dần được giảm bớt”.

 

CHƯƠNG THỨ SÁU:
NHẪN ÁC KHÔNG
GIẬN

Phật dạy: “Người
ác nghe có người nào làm thiện, cố ý tới làm nhiễu – loạn. Trường hợp ấy, ông
nên tự ngăn cấm, không nên giận trách. Người kia đem điều ác tới, họ tự vời lấy
điều ác”.

 

CHƯƠNG THỨ BẢY:
ÁC LẠI BẢN THÂN

Phật dạy: “Có
người nghe ta giữ đạo, làm việc rất nhân-từ, cố ý tới nhục – mạ Phật. Phật im
lặng
không đối đáp. Người mạ-nhục ấy ngưng, Đức Phật hỏi: “Ông đem lễ biếu
người nào đó, người ấy không nhận, lễ ấy, ông đem về chứ?” Người kia đáp: “Tôi
đem về!”.

Phật dạy: “Nay
ông mạ-nhục tôi, tôi không nhận, ông tự mang lấy tai – họa, nó quay về thân
ông. Việc làm ấy, như vang ứng tiếng, bóng theo hình, hoàn toàn không tránh
khỏi
được. Vậy, cẩn-thận chớ làm điều ác”.

 

CHƯƠNG THỨ TÁM:
TUNG, NHỔ TỰ-NHƠ

Phật dạy: “Người
ác hại người hiền, như ngửa mặt lên trời mà nhổ, nước bọt, nhổ không đến trời,
lại rớt xuống mình; ngược gió tung bụi, bụi không bay tới người kia, bụi cuộn
lại mình. Người hiền không thể hủy hoại được mà tai – họa quyết sẽ làm hoại
diệt
mình”.

 

CHƯƠNG THỨ CHÍN:
VỀ GỐC GẶP ĐẠO

Phật dạy: “Yêu
đạo bằng cách nghe nhiều thì đạo khó gặp được. Giữ chí bền chắc, vâng làm theo
đạo, đạo ấy rất lớn”.

 

CHƯƠNG THỨ MƯỜI:
HỶ-THÍ ĐƯỢC PHÚC

Phật dạy: “Thấy
người ta làm đạo bố thí giúp đỡ người ta bằng sự hoan – hỷ, được phúc rất lớn”.

Có vị Sa-Môn hỏi
Phật: “Bạch Thế-Tôn, phúc ấy có hết không?”

Phật dạy: “Như
lửa của một bó đuốc, vài ngàn trăm người, đều đem đuốc đến lấy lửa, lấy về, nấu
cơm chín, trừ nhà tối, mà lửa của bó đuốc ấy vẫn như cũ. Việc được phúc cũng
thế”.

 

CHƯƠNG MƯỜI MỘT:
CÚNG CƠM DẦN HƠN

Phật dạy: “Cho
cơm một trăm người ác, không bằng đãi cơm một người thiện. Đãi cơm ngàn người
thiện, không bằng đãi cơm một người giữ ngũ giới; đãi cơm vạn người giữ ngũ
giới
, không bằng cúng cơm một vị Tu – đà-hoàn; cúng cơm một trăm vạn vị
Tu-đà-hoàn không bằng cúng cơm một vị Tư-đà – hàm; cúng cơm một ngàn vạn vị
Tư-đà-hàm, không bằng cúng cơm một vị A -na- hàm; cúng cơm một ức vị A-na-hàm,
không bằng cúng cơm một vị A-La-Hán; cúng cơm mười ức vị A-La-Hán, không bằng
cúng cơm một vị Bích – chi-phật; cúng cơm trăm ức vị Bích-chi-phật, không bằng cúng
cơm một vị trong tam thế chư Phật; cúng cơm ngàn ức vị trong tam thế chư Phật,
không bằng cúng cơm một vị Vô-Niệm, Vô Trụ, Vô Tu, Vô Chứng”.

 

CHƯƠNG MƯỜI HAI:
KHÓ, KHUYÊN
GẮNG TU

Phật dạy: “Người
ta có hai mươi việc khó: “Bần-cùng, bố-thí, khó. Sang – trọng, học đạo, khó. Bỏ
mạng, quyết chết (cho chính-đạo), khó. Được thấy kinh Phật, khó. Sinh gặp đời Phật,
khó. Nhẫn sắc, nhẫn dục, khó. Thấy tốt, không cầu, khó. Bị nhục, không giận,
khó. Có thế không màng, khó. Chạm việc, vô tâm, khó. Học rộng, xét sâu, khó.
Trừ-diệt ngã-mạn, khó. Không khinh người chưa học, khó. Tâm làm việc bình-đẳng,
khó. Không nói thị-phi, khó. Gặp bậc thiện-tri-thức, khó. Học đạo, kiến tính,
khó. Tùy căn-cơ mà hóa-độ người, khó. Thấy cảnh không động, khó. Khéo giải
những phương tiện, khó.”

 

CHƯƠNG MƯỜI BA:
HỎI VỀ TÚC-MỆNH

Có một vị
Sa-Môn hỏi Phật: “Bạch Thế-Tôn bởi nhân-duyên gì mà biết được thân-mệnh của
kiếp trước và biết được chí-đạo?”
Phật dạy: “Tâm
trong-sạch, chí vững-bền có thể biết được chí – đạo. Ví như, lau gương bụi sạch
đi thì sáng còn lại. Dứt ham muốn, không tìm cầu, sẽ biết được thân-mệnh của
kiếp trước”.

 

CHƯƠNG MƯỜI BỐN:
HỎI VỀ THIỆN,
ĐẠI

Có vị Sa-Môn
hỏi Phật: “Bạch Thế-Tôn, gì là “thiện”? Gì là “tối đại” (rất lớn)?
Phật dạy: “Hành
đạo, giữ được lẽ chân-thực là “thiện”, chí và đạo hợp là “đại”.

 

CHƯƠNG MƯỜI LĂM:
HỎI VỀ LỰC, MINH

Có vị Sa-Môn
hỏi Phật: “Bạch Thế-Tôn, gì là “đa lực” (nhiều nghị-lực)? Gì là “tối minh” (rất
sáng)?
Phật dạy: “Nhẫn-nhục
đa lực (nhiều nghị lực), vì không ôm-ấp những điều ác, có thêm sự an vui,
khang-kiện. Người chịu nhẫn-nhục, không làm điều ác, quyết được người ta
tôn-kính. Tâm nhơ diệt hết, trong sạch không còn chút vết uế-nhiễm, đó là “tối
minh” (rất sáng). Kể từ khi chưa có trời đất cho đến ngày nay, những gì sở-hữu
trong mười phương, không có gì là không thấy, không có gì là không biết, không có
gì là không nghe, được “nhất-thiết-trí”, đáng gọi là “minh” vậy.

 

CHƯƠNG MƯỜI SÁU:
XẢ ÁI ĐẮC ĐẠO

Phật dạy: “Người
ta ôm-ấp tâm ái-dục, sẽ không thấy được đạo. Ví như nước lắng, thò tay khuấy
lên, mọi người tới xem, soi hình vào nước, đều không trông thấy bóng-dáng của
mình. Người ta đem ái-dục giao xen lẫn nhau, thì vẩn đục trong tâm nổi lên, nên
không thấy được đạo. Sa-Môn các ông, nên bỏ ái – dục. Cấu-nhiễm của ái-dục hết,
thì đạo có thể thấy được”.

 

CHƯƠNG MƯỜI BẢY:
SÁNG LẠI, TỐI
RỜI

Phật dạy: “Người
thấy được đạo, ví như người cầm bó đuốc vào trong nhà tối, bóng tối liền mất,
mà chỉ còn có ánh sáng. Người học đạo thấy chân – đế, vô minh liền diệt, mà chỉ
“minh” (ánh sáng) thường còn”.

 

CHƯƠNG MƯỜI TÁM:
NIỆM… VỐN
KHÔNG

Phật dạy: “Giáo-pháp
của ta, tuy niệm nhưng không chấp niệm, phi- niệm, hành nhưng không chấp hành,
phi-hành; ngôn nhưng không chấp ngôn, phi – ngôn; Tu nhưng không chấp tu,
phi-tu. Người hiểu được thì được gần đạo, mà người mê thì bị xa đạo vậy! Đường
ngôn-ngữ dứt, không thể bị bó – buộc bởi sự-vật. Thế nhưng, sai đi hào-ly thì
mất đi trong giây lát”.

 

CHƯƠNG MƯỜI CHÍN:
QUÁN GIẢ VÀ CHÂN

Phật dạy: “Xem
trời đất, niệm phi thường, xem thế-giới, niệm phi thường, quán tính linh giác
tức là bồ-đề. Hiểu biết như thế thì đắc đạo nhanh chóng vậy!”

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI:
CÁI TA VỐN KHÔNG

Phật dạy: “Nên
nghĩ, bốn đại trong thân này, mỗi đại đều tự có cái tên, nhưng chúng đều không
có cái TA. Cái TA đã không, thì chúng đều là như – huyễn vậy”.

 

CHƯƠNG HĂM MỐT:
THANH-DANH HẠI
MÌNH

Phật dạy: “Người
ta hướng theo tình dục tìm cầu thanh-danh. Thanh-danh rực-rỡ thì thân đã tàn
vậy! Tham-lam cái danh thường của thế-gian mà không học đạo, thực là uổng công
và mệt nhọc thân-hình vậy! Ví như đốt hương, tuy người ngoài ngửi được mùi
hương, nhưng hương thì tàn-lụi! Ngọn lửa dục đem lại nguy-hiểm cho thân, mà
nhất là nghiệp-quả sau này vậy!”

 

CHƯƠNG HĂM HAI:
TÀI, SẮC VỜI KHỔ

Phật dạy: “Đối
với người ta, tài và sắc không bỏ được, ví như lưỡi dao có mật, chút mật trên
lưỡi dao, không đủ một bữa ăn ngon nhưng, tiểu-nhi liếm vào thì có cái tai-họa cắt
lưỡi!”

 

CHƯƠNG HĂM BA:
CÁI NGỤC VỢ CON

Phật dạy: “người
nào hệ-lụy vào vợ, con nhà cửa, còn nặng hơn bị giam trong lao ngục. Lao ngục
còn có khi được phóng-thích, nhưng vợ con không có ý-niệm xa lìa được. Tình yêu
đắm vào sắc dục như thế, há không sợ còn đeo đuổi mãi sao? Tuy có tai-hoạn như
sao vào miệng hổ, tâm phải cố gắng gìn giữ, nén dẹp. Tự dìm ngập vào bùn nhơ là
kẻ phàm-phu. Hiểu suốt được cửa ái – dục ấy, để ra khỏi, là bậc La-Hán xuất
trần!”

 

CHƯƠNG HĂM BỐN:
SẮC DỤC CHƯỚNG
ĐẠO

Phật dạy: “Về
ái-dục không có gì tệ-hại hơn sắc. Sắc tạo ra sự ham muốn và, sự nguy-hiểm lớn
lao của nó, không có gì vượt ngoài nó được! May nó chỉ có một, nếu có hai cùng
như nó, thì khắp mọi người trong thiên hạ này không ai có thể làm đạo được!”

 

CHƯƠNG HĂM LĂM:
LỬA DỤC ĐỐT MÌNH

Phật dạy: “Người
ham đắm ái-dục, cũng như người cầm đuốc đi ngược chiều gió thổi, quyết-định sẽ
xẩy ra tại-hoạn cháy tay”.

 

CHƯƠNG HĂM SÁU:
THIÊN-MA QUẤY
PHẬT

Thiên-thần đem dâng
ngọc-nữ cho Phật, muốn làm suy-hoại tâm-ý Phật. Phật dạy: “Túi da bọc các đồ
nhơ! Ngươi đến đây làm chi? Đi! Ta không dùng!”
Thiên-thần càng thêm
cung-kính và nhân đó hỏi về ý đạo. Đức Phật liền vì Thiên-thần ấy giải-thuyết
về đạo-lý, tức thì, Thiên-thần ấy chứng được quả Tu – Đà-Hoàn.

 

CHƯƠNG HĂM BẢY:
KHÔNG CHẤP, ĐẮC
ĐẠO

Phật dạy: “Người
làm đạo cũng như cây gỗ trôi trên mặt nước, theo dòng nước mà đi, không chạm
vào hai bên bờ, không bị người ta vớt lấy, không bị quỷ-thần ngăn-trở, không bị
dòng nước xoáy đứng lại, cũng không bị mục-nát. Được như thế, Ta bảo-đảm cây gỗ
ấy, quyết định vào được biển”.

“Người học đạo,
không bị tình dục mê-hoặc không bị mọi thứ bất chính quấy-nhiễu, tinh-tiến
hướng theo đạo vô-vi, Ta bảo-đảm người ấy, quyết-định đắc-đạo vậy!”

 

CHƯƠNG HĂM TÁM:
ĐỪNG BUÔNG Ý-MÃ

Phật dạy: “Cẩn-thận,
đừng tin ý của ngươi. Ý của ngươi không thể tin được. Cẩn-thận, đừng hội-ngộ
với sắc, hội-ngộ với sắc thì họa – sinh. Khi chứng được quả A-La-Hán rồi, mới
có thể tin được ý của ngươi!”

CHƯƠNG HĂM CHÍN:
CHÍNH-QUÁN NGĂN
SẮC

Phật dạy: “Cẩn-thận,
đừng trông nữ-sắc, và cũng không nên cùng trò chuyện. Nếu cùng nói chuyện, nên
chính-tâm nhớ nghĩ: “ta là Sa – Môn, ở trong đời vẩn-đục, phải như hoa sen
không nhiễm bùn nhơ. Tưởng người già như mẹ, người lớn như chị, người trẻ như
em và người nhỏ như con, mà sinh ra tâm độ thoát, liền diệt được ác-niệm”.

 

CHƯƠNG BA MƯƠI:
XA LÌA LỬA DỤC

Phật dạy: “Người
làm đạo như mặc áo cỏ khô, lửa tới nên tránh. Người làm đạo thấy sắc-dục, quyết
nên xa tránh!”

 

CHƯƠNG BĂM MỐT:
TÂM VẲNG DỤC
DIỆT

Phật dạy: “Có
người lo ngại không ngưng được tâm dâm-dục, muốn chặt đứt âm-bộ của mình. Phật
bảo
người ấy rằng: “Nếu muốn chặt đứt âm-bộ của mình, không bằng chặt đứt tâm
của mình! Tâm như cơ-quan chỉ-đạo các công việc, cơ-quan này ngưng công-việc
thì những người tùy tòng cũng đều nghỉ. Tâm tà không ngưng, thì chặt đứt âm-bộ
có ích gì?”

Đức Phật liền
vì người ấy nói bài kệ rằng:

“Dục sinh ở ý
ngươi,
Ý bởi tư-tưởng
sinh.
Hai tâm đều
vẳng-lặng,
Chẳng sắc cũng
chẳng hành”.

Đức Phật dạy
tiếp: “Bài kệ ấy là do đức Phật Ca-Diếp nói ra!”

 

CHƯƠNG BĂM HAI:
TA KHÔNG, SỢ
DIỆT

Phật dạy: “Người
ta từ ái-dục sinh ra lo và từ ái-dục sinh ra sợ. Nếu lìa ái-dục, thì còn lo gì?
sợ gì?”

 

CHƯƠNG BĂM BA:
TRÍ SÁNG PHÁ MA

Phật dạy: “Người
làm đạo, ví như một người chiến-đấu cùng muôn người, mặc áo giáp ra ngoài cửa,
ý hoặc khiếp-nhược, hoặc nửa đường lui về, hoặc chống-cự mà chết, hoặc thắng
trận trở về. Sa-Môn học đạo, phải nên giữ vững tâm mình, tinh-tiến dũng nhuệ,
không sợ cảnh trước mắt, phá diệt mọi ma, mà được đạo-quả”.

 

CHƯƠNG BĂM BỐN:
TRUNG-BÌNH, ĐẮC
ĐẠO

Có vị Sa-Môn,
ban đêm tụng kinh Di-Giáo của Đức Phật Ca – Diếp, tâm vị ấy có vẻ buồn-rầu
hồi-hộp, suy nghĩ, phàn-nàn và muốn rút lui. Đức Phật hỏi vị ấy rằng: “Trước kia
ông ở tại gia thường làm nghề gì?”

– Vị ấy đáp:
“Con thích gảy đờn cầm.

Đức Phật hỏi:
“Dây đờn chùng thì sao?

– Vị ấy đáp:
“Tiếng không kêu”.

Đức Phật hỏi:
“Dây đờn căng thì sao?”

– Vị ấy đáp:
“Tiếng gắt vậy”.

– Dây đờn giữ
được mức trung-bình, tức là không căng, không chùng thì sao?

– Vị ấy đáp:
“Các tiếng của nó sẽ âm vang khắp vậy”.

Phật dạy: “Vị
Sa-Môn học đạo cũng thế, nếu tâm điều-hợp, đạo có thể chứng được vậy. Đối với
đạo, nếu quá hăng-hái, hăng-hái thì thân mệt; nếu thân mệt thì ý sinh não; nếu
ý sinh não thì sự thực-hành bị lùi; sự thực-hành đã lùi thì tội ắt sẽ thêm vậy.
Chỉ giữ được thanh-tịnh, an-lạc, thì đạo mới không mất vậy”.

 

CHƯƠNG BĂM LĂM:
NHƠ SẠCH SÁNG
CÒN

Phật dạy: “Như
người rèn sắt, bỏ sét đi thì thành đồ-vật, đồ – vật tinh – hảo. Người học đạo,
bỏ tâm cấu-nhiễm đi thì công-hạnh liền thanh – tịnh vậy”.

 

CHƯƠNG BĂM SÁU:
MỞ-MANG HƠN LÊN

Phật dạy: “Con
người ra khỏi đường ác, được trở lại làm người cũng khó. Đã được làm người, bỏ
thân nữ được thân nam cũng khó. Đã được làm thân nam, nhưng được sáu căn đầy đủ
cũng khó. Được sáu căn đầy đủ, nhưng được sinh nơi trung-quốc cũng khó. Được
sinh nơi trung-quốc, nhưng được gặp đời có Phật cũng khó. Được gặp đời có Phật,
nhưng gặp được đạo cũng khó. Đã gặp được đạo, nhưng khơi dậy được tín-tâm cũng
khó. Khơi dậy được tín-tâm nhưng phát bồ-đề-tâm cũng khó. Phát được bồ-đề-tâm, nhưng
đạt được bậc Vô-Tu, Vô Chứng cung khó”.

 

CHƯƠNG BĂM BẢY:
NIỆM GIỚI GẦN
ĐẠO

Phật dậy: “Phật-tử
xa Ta vài ngàn dậm, nhưng nhớ nghĩ đến giới-luật của Ta, Phật tử ấy quyết-định
sẽ được đạo-quả. Phật-tử nào ở ngay bên tả bên hữu Ta, tuy thường thấy Ta,
nhưng không thuận theo giới-luật Ta dạy, cuối cùng cũng không được đạo-quả gì”.

 

CHƯƠNG BĂM TÁM:
CÓ SINH CÓ DIỆT

Đức Phật hỏi
một vị Sa-Môn: “Mệnh người ta sống trong khoảng bao lâu?”

– Vị ấy thưa:
“Trong khoảng vài ngày”.

– Phật dạy:
“Ông chưa biết đạo”. Ngài lại hỏi một vị Sa-Môn khác: “Mệnh người ta sống trong
khoảng
bao lâu?”

– Vị ấy thưa:
“Vào khoảng một bữa ăn”.

– Phật dạy:
“Ông chưa biết đạo”. Ngài lại hỏi một vị Sa-Môn khác: “Mệnh người ta sống trong
khoảng
bao lâu?”

– Vị ấy thưa: “
Trong khoảng hô-hấp”.

– Phật dạy:
“Hay thay, ông biết đạo vậy”.

 

CHƯƠNG BĂM CHÍN:
DẠY BẢO KHÔNG
SAI

Phật dạy: “Người
học đạo Phật, đức Phật nói điều gì, đều nên tin thuận. Ví như ăn mật, ăn ở giữa
hay ở bên cũng đều ngọt. Kinh của Ta nói ra cũng như thế!”.

 

CHƯƠNG BỐN MƯƠI:
HÀNH ĐẠO TẠI TÂM

Phật dạy: “Vị
Sa-Môn hành đạo, đừng nên làm như con trâu kéo cối đá. Thân tuy hành đạo, nhưng
tâm đạo không hành. Tâm đạo nếu hành, thì dùng hành đạo làm gì!”

 

CHƯƠNG BỐN MƯƠI MỐT:
TRỰC-TÂM XUẤT
DỤC

Phật dạy: “Người
làm đạo, ví như con trâu mang đồ nặng, lại đi vào chỗ bùn sâu rất mệt, nhưng
không dám ngoái trông bên tả, bên hữu, chờ khi đi ra khỏi đám bùn lầy, mới có
thể nghỉ ngơi. Vị Sa-Môn nên quán sát tình-dục, còn tệ hơn bùn lầy. Trực-tâm
niệm đạo, được khỏi khổ vậy”.

 

CHƯƠNG BỐN HAI:
SUỐT SỰ BIẾT
HUYỄN

Phật dạy: “Ta
coi ngôi vị vương hầu, như hạt bụi qua kẽ hở; coi của báu vàng ngọc như ngói,
sỏi; coi trang-phục lụa nõn, như giẻ rách; coi cõi đại-thiên như một hạt ha-tư;
coi nước ao A-nậu như giọt dầu thoa chân; coi môn phương – tiện như đống
hóa-bảo; coi vô-thượng-thừa như mơ thấy vàng, lụa; coi Phật – đạo như bông hoa
trước mắt; coi thiền-định như cột núi Tu-Di; coi niết – bàn như cơn tỉnh ngủ
ban ngày; coi sự xoay, thẳng như sáu con rồng múa; coi lý bình – đẳng như nơi
nhất-chân pháp-giới; coi sự hưng-hóa như cây bốn mùa”.