Học Được Gì Từ “Kinh Vu-lan-bồn”?

0
127

blankHỌC ĐƯỢC GÌ TỪ
KINH VU-LAN-BN”?
Thích Nữ Hằng Như

 

                                                        I. DẪN NHẬP

blankkinh vu lan bonHôm nay là ngày 15/8 dương lịch nhằm ngày mồng Tám tháng Bảy, Tân Sửu. Chỉ còn một tuần nữa là tới Rằm tháng Bảy. Rằm tháng Bảy âm lịch là ngày mà các chùa theo đạo Phật khắp nơi trên thế giới đều tổ chức Lễ Vu-Lan rất trọng thể. Lễ Vu-Lan từ lâu đã được xem như là ngày Lễ Báo Hiếu của những người con dành cho bậc cha mẹ. Hòa cùng nhịp tim của những người con thảo luôn nghĩ nhớ đến công ơndưỡng dục sanh thành của cha mẹ nhất là vào mùa Vu-Lan báo hiếu này. Hôm nay chúng tôi muốn cùng quý vị tìm hiểuý nghĩabài kinh quan trọng luôn được tụng đọc trong ngày đại lễ Vu-Lan tổ chức tại các chùa Phật giáoBắc tông. Đó là “Kinh Vu-Lan-Bồn” hay “Phật thuyết Vu-Lan-Bồn kinh” .

Trước khi đi vào nội dung của bài kinh, chúng tatìm hiểuý nghĩa của tựa đề “Phật thuyết Vu-Lan-Bồn Kinh”như thếnào?

Phật thuyết: Đây là những lời giảng dạy của đức PhậtThích Ca.

– Vu-Lan hay Vu-Lan-Bồn: Do người Trung Quốc phiên âm từ tiếng Phạn là “Ullambana” là Vu-Lan hay Vu-Lan-Bồn.

Ullambana: Nghĩa là “giải đảo huyền” hay “cứu đảo huyền”.

– Giải: Có nghĩa là giải tỏa, giải phóng, giải thoát, cứu thoát ra khỏi nỗi khổ  nào đó.

– Đảo:  Là đảo ngược, dốc đầu xuống đất, chân đưa lên trời.

– Huyền: Là treo.

Đảo huyền: Ý nói  nỗi khổ bị treo ngược.

– Giải đảo huyền: Có nghĩa là tháo bỏ các cực hình bị treo ngược.

– Bồn: (phát âm từ chữ bana): Là vật đựng thức ăn, thức uống. Như bồn đựng nước hay thau đựng nước hoặc khay hay mâm. Ở đây bồn có thể xem như là khay hoặc mâm đựng lễ phẩm thức ăn dâng lên chư Tăng trong ngày Lễ Vu-Lan.

Theo tinh thần của kinh Vu-Lan, cái khổ tàn khốc nhất của chúng sanh là bị đọa vào cảnh giới quỷ đói. Do đó, “giải đảo huyền” là tháo gở cực hìnhbị treongược” tức là tháo gở cái ách bị đày đọa trong cảnh giớingạ quỷđịa ngục.

 

II. TÌM HIỂUÝ NGHĨA “KINH VU-LAN-BỒN”

“Kinh Vu Lan Bồn” hay “Phật thuyết kinh Vu-Lan-Bồn ” là một bản kinh ngắn thuộc bộ “Hiếu kinh” trong Phật giáo, do Pháp sư Trúc-Pháp-Hộ người nước Nguyệt Thị, Thiên Trúc (Ấn Độ) đến Trung Quốchoằng pháplợi sanh. Pháp sư đã phiên dịch kinh này từ Phạn văn sang Hán văn vào khoảng thế kỷ thứ III sau Tây lịch. Bản kinh tiếng Hán này đã được dịch sang tiếng Việt qua thể văn và thể thơ. Bài kinh hôm nay chúng tôi chọn là bài kinh thể văn xuôi trích trong Bộ Kinh Tập số 10 (T0685) thuộc“ĐạiChánh Tân Tu Đại Tạng Kinh”.

Kinh kể lại nguồn gốc và phương phápbáo hiếu của tôn giả Mục-Kiền-Liên đối với thân mẫu của ngài. Đại ý quan trọng của kinh này là: Tôn giả Mục-Kiền-Liên dùng pháp Vu-Lan-Bồn do Phật dạy để cứu mẹ. Pháp Vu-Lan-Bồn không những cứu được cha mẹ hiện đời, mà còn có thể cứu được cha mẹ bảy đời quá khứ.

Chúng ta có thể chia nội dung bài kinh thành 3 phần: (1) Nguồn gốc của pháp báo hiếu; (2) Phương phápbáo hiếu; (3) Báo hiếutrách nhiệm chung của tất cả những người con.

 

A. VĂN KINH:

“Tôi nghe như vầy;

“Một thời, Đức Phật trú tại vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc trong thành Xá Vệ.  Bấy giờ Trưởng giả Đại Mục-Kiền-Liên mới chứng đắc sáu thứ Thần thông, muốn cứu độcha mẹ để báo ân đức sâu dày dưỡng dục, bèn dùng Đạo nhãnquan sát khắp thế giới, thấy người mẹ đã qua đời của mình bị đọa trong loài ngạ quỷ, không được ăn uống nên thân hình chỉ còn da bọc lấy xương. Tôn giả Mục-Liên thấy vậy vô cùngxót thương, buồn bã, liền lấy bát đựng đầy cơm và vận dụng Thần thông đem hiến dâng cho mẹ. Bà mẹ vừa nhận được bát cơm, liền dùng tay trái che đậy, tay phải bốc ăn, cơm chưa vào miệng đã hóa thành than hồng nên không thể ăn được. Tôn giả Mục-Liên lớn tiếng kêu khóc trở vềbạch Phật, thuật lại đầy đủ  mọi việc như vậy. (hết trích)

         

B.TÌM HIỂUÝ NGHĨA KINH:

          – Đạo nhãn: thiên nhãn do đắc đạo mà có được.

          – Sáu thứ thần thông: Sáu loại này không bị ngăn che chướng ngại nên gọi là “thần thông”.

          (1) Thần túc thông: Phép biến hóa, có thể xuyên qua tường, qua núi, qua sông, qua biển v.v…

          (2) Thiên nhãn thông: Xa thế nào cũng nhìn thấy được, không gì cản trở tầm nhìn.

          (3) Thiên nhĩ thông:Thính giác không bị chướng ngại.

          (4) Tha tâm thông: Biết và hiểu được những suy nghĩ của người khác.

          (5) Túc mạng thông: Biết được những việc nhiều đời trong quá khứ.

          (6) Lậu tận thông: Sạch lậu hoặc, chứng Tứ quả (A-la-hán), thoát khỏiluân hồisinh tử trong tam giớihữu lậu (dục giới, sắc giới hay vô sắc giới)

– Nội dung đoạn kinh này nói về nguồn gốc phát sinh phápbáo hiếu:

          Do duyên tôn giả Mục-Kiền-Liên cầu cứuđức Phật dạy cách cứu mẹ thoát kiếp ngạ quỷ, nên pháp báo hiếu mới có cơ hội ra đời. Bài kinh kể lại vào thời gian đó, đức Phật đang trú tại tịnh xá trong vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc thuộc thành Xá Vệ, nước Kiều-Tát-La. Khi ấy ngài Mục-Kiền-Liên vừa thành tựu sáu phép thần thông là: Thần túc thông, Tha tâm thông,Thiên nhĩ thông,Thiên nhãn thông, Túc mạng thôngLậu tận thông. Ngài muốn cứu độcha mẹ để đền ơndưỡng dục, nên dùng thiên nhãnquan sát khắp tam giới, tìm thấy mẹ của ngài bị đọa làm ngạ quỷđịa ngục, thân hình gầy ốm da bọc xương vì không được ăn uống. Tôn giả là vị thánh Tăngtu hànhchứng đắc, tuy biết rõ nghiệp chướng của ngạ quỷ không thể thọ thực, nhưng thấy mẹ chịu khổ như vậy, là người con hiếu thảo, ngài không thể làm ngơ, liền vận thần thông xuống địa ngục dâng bát cơm đầy cho mẹ.

Trong kinh ghi lại cảnh mẹ của tôn giả Mục-Kiền-Liên,  khi nhìn thấy bát cơm đã vội vàng lấy tay trái che bát cơm, tay phải bốc ăn. Hành động lấy “tay trái che bát cơmbiểu lộ tánh ích kỷ, sợ người khác cướp giựt cơm của mình, và “tay phải bốc ăn”biểu lộ tánh tham, không quan tâm đến người khác cũng đang đói như mình. Đó là do thói quentham lambỏn xẻn lúc còn sống, theo bà đến kiếp ngạ quỷ này. Nếu thay bằng hành động khác như nghĩ đến sự đói khát của chúng ngạ quỷxung quanh, phát tâmchia xẻ cơm với người cùng khổ như mình, biến lòng “bỏn xẻntham lam” thành “từ bi bố thí” thì có lẽ cơm đã không hóa thành than lửa. Nhưng sống kiếp ngạ quỷ, thì quỷ nào cũng đói, quỷ nào cũng tham lamsân hận, có còn tâm trí đâu mà lo cho chúng quỷ khác. Đã thế nơi âm u đó, đâu có ai khai thị soi sáng để chuyển đổitâm thức, cho nên chúng quỷ chìm đắmtriền miên trong nỗi khổ đói khát không biết bao giờ mới được giải thoát.

 Do không có cách nào giúp được mẹ, nên tôn giả Mục-Kiền-Liên ôm mối thương xót mẹ trở về trần gian bạch lên đức Thế Tôn, thỉnh cầu Ngài chỉ phương cách cứu mẹ.

 

VĂN KINH (tiếp theo):

“Đức Phật bảo:

“Mục-Liên! Thân mẫu của ông tội chướng sâu dày, không phải năng lựcmột mình ông có thể cứu được. Tuy lòng hiếu thảo của ông vang động đất trời, những thiên thần, địa thần, tà ma ngoại đạo, đạo sĩ, và bốn vị Thiên Vương cũng không thể làm gì được. Nay ông phải nhờ vào oai lực của Tăng chúngmười phương thì mới có thể cứu mẹ ông siêu thoát được. Nay ta chỉ dạy cho ông phương phápcứu tế để cho tất cả những kẻ khổ nạn cũng được siêu thoát.

“Này Mục-Liên! Ngày Rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ của mười phươngTăng chúng, nên vì cha mẹ bảy đời, cha mẹhiện tại, những người đang ở trong vòngkhổ nạnluân hồi,  mà sắm sửa đầy đủ cơm, thức ăn, năm thứ trái cây, bồn chậu múc nước, hương dầu đèn nến, giường chõng, đồ nằm đầy đủ, đều là loại tươi ngon, tốt đẹp ở đời để dâng cúng đại đứcchúng Tăng ở khắp mười phương. Chính trong ngày này, các vị Hiền thánh tăng hoặc tu thiền định, hoặc đắc bốn đạo quả, hoặc kinh hành dưới cây, hoặc những vị với Lục Thôngtự tạigiáo hóaThanh VănDuyên Giác, hoặc các bậc Thập-Địa Bồ-tát phương tiệnhiện tướng Tỳ-kheo giữa đại chúng. Tất cả đều quy tụ trong hàng chúng Tăng, đồng đẳng nhất tâm thọ bát cơm của ngày Tự Tứ. Vì giới phápthanh tịnh đầy đủ, nên đạo đức của Tăng chúngsâu rộngmênh mông.  

Nếu có người dâng cúng chúng Tăng vào ngày Tự Tứ, thì tất cả cha mẹ, bà conquyến thuộctrong đờihiện tại đã quá vãng sẽ được siêu sinh trong ba đường khổ, liền được đầy đủ áo cơm. Nếu cha mẹ, lục thân  quyến thuộc còn sống thì được hưởng phước lạc sống lâu trăm tuổi, còn cha mẹquá khứ bảy đời thì sinh lên cõi trờiTự tại, hóa sanh ở trong cõi trời hoa lệ chói sáng, hưởng vô lượng phước lạc.

Bấy giờ, Phật bảochúng Tăngmười phương, trước tiên phải vì gia đình của thí chủchú nguyện cho cha mẹ bảy đời của họ. Phải nhiếp tâm định ý, rồi sau đó mới thọ thực. Lại nữa, khi vừa tiếp nhận khay cúng dường, trước hết hãy đặt ở trước tháp của Phật, tại nơi Tăng chúng hoặc ở trong chùa tháp cũng vậy, chúng Tăng đều phải chú nguyện trước, rồi sau đó mới thọ thực.” (hết trích).

 

B. TÌM HIỂUÝ NGHĨA ĐOẠN KINH NÀY:

Tội chướng sâu dày:  Gốc rễ tội lỗi gây ra từ thân khẩu ý theo thời giantội nghiệp nặng nề không kể xiết.

Tà ma:Phạn ngữ là “mala” nghĩa phá hoại. Tà ma nghĩa là suy nghĩ theo tà kiến, đi theocon đường sai quấy.

Ngoại đạo: Đạo khác với đạo Phật.

Đạo sĩ: Là người tu đạo.

– Bốn thiên vương: Là bốn vị thần trấn giữ bốn cửa núi có tên là: Trì-Quốc Thiên vương ở phương Đông, Tăng-Trưởng Thiên vương ở phương Nam, Quảng- Mộc Thiên vương ở phương Tây và Đa-Văn Thiên vương ở phương Bắc.

–  Thập phương: Là Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, trên, dưới …

Chúng Tăng: Là những người tu hành, dụng công đoạn trừ phiền não liễu thoát sanh tử. Chúng tăng sống chung một tự viện từ bốn người trở lên được xem là đơn vịTăng già. Tăng già phiên âm từ tiếng Phạn là sangha, là đòan thể những người xuất gia tu theo Chánh pháp, thanh tịnh, hòa hợp, đoàn kết. Hòa hợpbao gồm 6 loại gọi là Lục hòa. Lục hòa là chất keo gắn chặt lâu bền gữa Tăng chúng, là nền tảng vững chắc của tòan thể Tăng:

(1) Thân hòa đồng trụ: Về phần thân, sống trong chúng, lao động, tu hành, ăn mặc, ngủ nghỉ, tất cả đều hòa đồng như nhau.

(2) Khẩu hòavô tranh:  Nói bàn, tranh luận học tập trong tinh thầnhòa nhã, trọng đạo đức, không tranh cãi hơn thua, không dùng lời lẽ nặng nề tranh phần thắng bại.

(3) Ý hòa đồng duyệt: Tâm ý vui hoà, không chống trái, ngang ngạnh, thù hằn lẫn nhau.

(4) Kiến hòa đồng giải: Đóng góp mọi kiến giảisai biệt trong lúc hạ thủcông phu hay trong khi học giáo lý với tinh thần hài hòa, thông cảm, vui vẻ…

(5) Giới hòa đồng tu: Sách tấn nhau cùng giữ giới luật đã thọ nhận.

(6) Lợi hòa đồng huân:  Lợi dưỡng nếu có, đều được phân chiađồng đều, bình đẳng, không ai có quyền giữ riêng hay thọ hưởng nhiều hơn.

Chúng Tăng không chỉ sống hòa hợp trên “mặt sự” vừa kể mà còn phải hòa hợp trên “mặt lý”,  tức là đồng liễu thoát sanh tử, cùng chứng Niết-bàn. Sự hòa hợp cả sự lẫn lý như vậy, mới đúng nghĩa là đoàn người thanh tịnh sống hòa hợp và đoàn kết. Sau khi đức Phậtdiệt độ, mạng mạch Phật pháp nương vào Tăng truyền. Vì thế Tăng già được xem là một trong ba ngôi bảo cao quý.

Lục thân:  Sáu thân gần gồm: Cha, mẹ, anh, em, vợ và con (phụ, mẫu, huynh, đệ, thê, tử)

Quyến thuộc: Bà conhọ hàngthân thuộc.

Thanh văn:Đệ tử của đức PhậtThích Ca, tu theo giáo lý Tứ-diệu-đế, quả vị cao nhất là A-La-Hán.

Duyên giác:  Là bậc tu theo giáo phápThập Nhị Nhân Duyên, phần nhiều tự tu, tự ngộ đến quả Duyên Giác.

          – Bồ-tát: Bồ-tát là danh hiệu dành cho các vị đã đắc quả Bồ-tát, và vẫn tiếp tụctình nguyện dấn thân vào hồng trần để cứu độchúng sanh, bổ túc cho pháp tu và công hạnh của mình, trợ duyên cho Bồ-tát hoàn thànhPhật quả.. Khái niệm Bồ-tát cũng dùng để chỉ cho bất cứ chúng sanh nào phát tâmtu hànhđi theocon đườngChánh đẳng chánh giác.

-Thập địa Bồ-tát: Theo “Tự Điển Phật Học/Đạo Uyểngiải thíchý nghĩa của mười quả vịtu chứng của các vị Bồ-tát như sau:

(1) Hoan hỷ địa: Đắc quả này, Bồ-tát rất hoan hỷ trên con đườngGiác ngộ (bodhi). Ngài phát Bồ-đề tâmthệ nguyệncứu độ tất cả chúng sinhthoát khỏiluân hồi, không còn nghĩ tới mình. Bố thí không cầu phúc. Chứng được tánh Vô ngã của tất cả các Pháp (dharma)

(2) Ly cấu địa: Bồ-tát giữ giớithực hiệnthiền định.

(3) Phát quang địa: Bồ-tát chứng được quy luậtVô thường. Khi gặp chướng ngại trong việc cứu độ tất cả chúng sanh, các Ngài tu trì hạnh Nhẫn nhục.  Để đạt đến cấp này, Bồ-tát phải diệt trừba độc là tham, sân, si, thực hiện bốn cấp định an chỉ của bốn xứ và chứng đạt năm thành phần trong Lục Thông.

(4) Diệm huệ địa: Bồ-tát đốt hết tất cả những quan niệmsai lầm, tu tậptrí huệ Bát nhã và 37 Bồ đề phần.

(5) Cực nan thắng địa: Bồ-tát nhập định, đạt trí huệ, nhờ đó liễu ngộ Tứ-diệu-đế và Chân như, tiêu diệtnghi ngờ và biết phân biệt. Bồ -tát tiếp tụchành trì 37 giác chi.

(6) Hiện tiền địa(Mặt hướng đến): Bồ-tát liễu ngộ mọi pháp là vô ngã, ngộ lý 12 nhân duyênchuyển hóatrí phân biệt thành trí Bát nhã, nhận thứctánh Không. Trong xứ này Bồ-tát đạt đếntrí huệ Bồ-đề (bodhi) và có thể nhập Niết-bàn thường trụ. Vì lòng từ bi đối với chúng sanh, Bồ-tát lưu lại trong thế gian, nhưng không bị sinh tửràng buộc, đó là Niết-bàn vô trụ.

(7) Viễn hành địa: Đạt tới cảnh giới này, Bồ-tát đầy đủ khả năng, có mọi phương tiện để giáo hóachúng sinh. Đây là giai đoạn mà Bồ-tát tùy ýxuất hiện trong bất kỳ dạng nào.

(8) Bất động địa: Trong giai đoạn này, không còn bất kỳ cảnh ngộ gì làm Bồ-tát dao động. Bồ-tát đã biết lúc nào mình đạt Phật quả.

(9) Thiện huệ địa: Trí huệ Bồ-tát viên mãn, đạt Mười lực, Lục Thông, Bốn tự tín, Tám giải thoát. Biết rõ cơ sở mọi giáo pháp và giảng dạy giáo pháp.

(10) Pháp vân địa(Mây lành của Pháp): Bồ-tát đạt Nhất-thiết trí, đại hạnh, Pháp thân của Bồ-tát đã đạt tới mức viên mãn. Ngài ngự trên tòa sen với vô số Bồ-tát chung quanh trong cung trời Đâu Suất. Phật quả của Ngài đã được chư Phật ấn chứng. Những vị Bồ-tát đạt cấp này là Di Lặc, Quán Thế ÂmVăn Thù.

 – Nội dung đoạn kinh này, đức Phật dạy phương phápbáo hiếu, đó là pháp Vu-Lan-Bồn.

Đức Phật dạy rằng một mìnhtôn giả Mục-Kiền-Liên không thể cứu độ được mẹ của ngài, các thần ma, đạo sĩ hay tứ đại thiên vương cũng không thể cứu, cần phải nhờ uy lựcđạo đứctu tập của các chúng Tăngmười phương trong ba tháng an cư cùng chú nguyện mới có thể khiến cho mẹ ngài nương vào sức lực của chúng Tăng, nhổ được cội gốc tội lỗithoát khỏi cái khổ treo ngược.

Đức Phật nói thêm: “Nay ta chỉ dạy cho ông phương phápcứu tế để cho tất cả những kẻ khổ nạn cùng được siêu thoát” nghĩa là pháp này nói ra không những chỉ giúp cho mẹ của tôn giả Mục-Kiền-Liên thoát khổ, mà khiến cho những người đang chìm đắm trong ba đường dữ đều có thể thoát lykhổ nạn.

Phật dạy rằng ngày Rằm tháng Bảy, Mục Kiền Liên nên sắm lễ phẩm tứ sự như cơm, thức ăn, trái cây, nước uống, giường chỏng, hương đèn  v.v… dâng cúng mười phươngthánh Tăng cầu họ từ bichú nguyện cho mẹ của tôn giả Mục-Kiền- Liên thoát khỏigông cùmđịa ngục. Phật cũng dạy chúng Tăng phải chú nguyện cho thí chủ trước khi thọ dụng lễ phẩm và thọ thực.

Tại sao thời gian lập đàn tràngchú nguyện là ngày Rằm tháng Bảy mà không phải là những ngày khác trong năm?

Ngày Rằm tháng Bảy là ngày Tăng Tự tứ. Theo giới luật thì từ ngày  Rằm tháng Tư đến ngày Rằm tháng Bảy, tức ba tháng này là thời giankiết hạ an cư” phải vân tập tại một chỗ dụng côngtu học, cùng nhau thúc liễm thân tâm, trau giồi giới-định-huệ. Thời gian ba tháng viên mãn, đến ngày Rằm tháng Bảy là ngày giải hạTự tứ. Trong ngày này chúng Tăng cùng nhau kiểm thảo giúp đỡ lẫn nhau nhận ra những lỗi lầm phạm phải trong thời gianan cư kiết hạ. Nếu biết mìnhphạm giới, thì chủ động khai tội rồi sám hối. Nếu phạm giới mà không biết, thì tự nguyện thỉnh chư Tăng cử tội. Nếu thừa nhậnphạm giới thì trước mặtchúng Tăngnhư phápsám hối”. Tự giácsám hối hay bị cử tội mà sám hối như thế rồi, thì được giới thểthanh tịnh, trở thànhthanh tịnh Tăng.

Ngày Rằm tháng Bảy, tất cả Tăng chúng tu Thánh hạnh chứng chánh quả, có người trong núi tu thiền định, có người đắc được tứ quả do tu phápTứ Đế như sơ quảTu Đà Hoàn, nhị quảTư Đà Hàm, tam quả A-Na-Hàm, tứ quả A-La-Hán,

Lại có các vị dưới gốc câyđi kinh hành hoặc tham thiền, hoặc tu Chỉ Quán. Đây là nói tất cả Tăng chúng trong ba tháng “an cư kiết hạ” đều đang dụng côngtu đạo.

Ngoài các bậc Thánh chúng trên, còn có các vị đã đắc được Lục thông nên vô ngạitự tại, có thể giúp đồng đạo, đệ tử cùng các hàng hậu tiến tu Tứ đế, Mười hai nhân duyên, nên nói giáo hóaThanh vănDuyên giác.

Có Bồ-tát đã chứng đắcthập địaquả vị. Các Ngài ứng hiện Tỳ-kheo trong đại chúnghoằng dương chánh phápgiáo hóachúng sanh.

Tất cả các bậc Thánh chúng trước ngày Rằm tháng Bảy, an cư khác nơi, khác chỗ. Hôm nay vân tập về một nơi cử hànhpháp hộiVu-Lan-Bồn”. Các ngài thọ “Vu-Lan-Bồn” này đều là các bậc thanh tịnh Tăng, đạo cao đức trọng, đầy đủ tam học giới-định-huệ, đạo đức của các Ngài mênh mông như biển lớn, nên sức trì chú của các ngài có năng lực không thể nghĩ bàn, giúp chuyển đổi được tâm thứctham sân si của ngạ quỷ, khiến họ buông bỏ được dục vọngxan tham. Lòng tham sân si là nhà tù giam cầm chúng sanhngạ quỷ, nay buông bỏ thì cửa địa ngục sẽ mở toang và họ thoát khỏi cảnh khổ.

Tôn giả Mục-Kiền-Liên y lời Phật dạy thiết lậptrai đàn nhờ oai đức của chư Tăng giúp mẹ ngài chuyển hóatâm thức, thoát kiếp ngạ quỷ sanh về cõi trờiTự Tại (Tha Hóa Tự Tại Thiên là tầng trời cao nhất trong 6 tầng trời cõi dục).

 

A. VĂN KINH (tiếp theo)

Khi ấy tôn giả Mục-Kiền-Liên cùng chư đại Bồ-tát ở trong Pháp hội này đều vui mừngvô cùng, và tiếng than khóc của Mục-Liên cũng chấm dứt. Chính vào ngày hôm đó, mẹ của Mục-Liên được thoát khổ trong loài ngạ quỷ.

Khi ấy ngài Mục-Kiền-Liên lại bạch:

“Bạch Thế Tôn! Thân mẫu của con đã được siêu thoát, đó là nhờ năng lựccông đứcTam bảouy lực của Tăng chúng. Nếu đời vị lai, tất cả đệ tửđức Phật muốn hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ thì kinh Vu-Lan-Bồn này có thể cứu độcha mẹhiện tạicho đếncha mẹ trong bảy đời chăng?”

Đức Phật bảo:

“Lành thay! Điều mà Như Lai muốn nói, Tôn giả đã hỏi.

Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, quốc vương, vương tử, đại thần, tể tướng, bách quan cùng cả thảy dân chúng, muốn thực hành đức từ hiếu, trước nên vì cha mẹhiện tiền, kế đó cha mẹ bảy đời trong quá khứ, là cứ đến  Rằm tháng Bảy, ngày chư Phật hoan hỷ, ngày chư TăngTự Tứ, nên sắp đặt đủ thứ các loại trái cây, thức ăn, nước uống vào bồn Vu-Lan để dâng cúng chư Tăngmười phương. Ngày chư TăngTự tứcầu nguyệncha mẹ hiện còn, sống lâu trăm tuổi, không bệnh tật. Cha mẹ trong bảy đời quá khứthoát khỏi khổ đau trong loài ngạ quỷ, được sinh trong cõi trời, hưởng phước lạc an vui.

Thiện nam, thiện nữđệ tử của đức Như Lai phải nên thực hành chữ hiếu, trong mỗi niệm thường thương tưởng đến cha mẹhiện tại, cho đếncha mẹ bảy đời trong quá khứ. Hằng năm đến ngày Rằm tháng Bảy, đem lòng từ hiếu thương tưởng song thânhiện tiền, cha mẹ bảy đời quá khứ, sắm sửa bồn Vu-Lan, hiến cúng Phật-đà, dâng cúng chúng Tăng để đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Nếu là đệ tử của đức Phật thì phải tuân giữ những điều trên đây.

Lúc ấy, Tôn giả Mục-Kiền-Liên cùng với bốn chúngđệ tử nghe Phật giảng dạy, đều rất hoan hỷtín thọ phụng hành (hết trích)

 

B. Ý NGHĨA ĐOẠN KINH CUỐI

          – Báo hiếutrách nhiệm của tất cả những người làm con

Sau khi mẹ được cứu thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, tôn giả Mục-Kiền-Liên vô cùnghoan hỷ, ngài trình hỏi đức Phật sau này các Phật tử có thể cứu thoátcha mẹhiện tại và bảy đời quá khứ qua việc cúng dường Vu-Lan-Bồn như ngài đã làm hay không?

Nhân dịp này, đức Phật đã khuyên tất cả những người con nên học theo gương hiếu hạnh của ngài Mục-Kiền-Liên cứ đến ngày Rằm tháng Bảy là ngày chư Tăngtự tứ, là ngày Phật hoan hỷ, nên chí thànhcúng dườngmười phương Tăng để cho cha mẹ hiền tiền được phước thọ tăng thêm, không bệnh không khổ, cha mẹ bảy đời quá khứ thoát khổ cảnhngạ quỷ được sinh trong cõi trời, cõi người an vui.

          Cũng trong dịp này, đức Phật nhắc nhở bất luận là người tu sĩxuất giahay haycư sĩtại gia. Tất cả mọi người con, dù là ai trong xã hội, là vua chúa, quan quân hay người thường dân, người phú quý hay kẻ bần hàn, ai ai cũng đều do cha mẹ sanh ra, cho nên đối với cha mẹ phải luôn hiếu thuận trong từng phút, từng giây, từng niệm suy nghĩ, chứ không phải chờ đến ngày Lễ Vu Lan mới lo báo hiếu.

          Tóm lạibáo hiếutrách nhiệm của tất cả mọi người con.

          Sau khi nghe lời khuyến khích dặn dò phó chúc của đức Phật, tôn giả Mục -Kiền-Liên và tứ chúngđệ tử của đức Phật tức nam nữtu sĩnam nữcư sĩnghe lờidạy bảo của đức Phật đều rất hoan hỷ, y phápthực hànhbáo đápân đứccha mẹ.

 

            III. CHÚNG TA HỌC ĐƯỢC GÌ NƠI “BÀI KINH VU-LAN-BỒN”?

– Bài học về Nhân Quả: Mỗi người tự làm chủ cuộc đời của mình. Nghiệp lànhnghiệp ác tự mình tạo ra thì sớm hay muộn gì mình cũng thọ nhận hậu quả. Hình ảnhđịa ngục, hay ngạ quỷphản ảnhnhận thứchành viđộc ác, xấu xa, keo kiệttham lam của mình. Mình gieo ác thì gặp ác, không ai cứu nổi mình. Biết như thế, là Phật tử phải giữ tròn giới hạnh sống đạo đức, luôn nhớ làm lành, tránh dữ… thì ngay trong cuộc sống hiện tại của mình được an vui hạnh phúc, không chờ đến chết bị đọa địa ngục hay ngạ quỷ chịu khổ như bà Thanh Đề mẹ của tôn giả Mục-Kiền-Liên.

-Không dựa vàotha lực: Trong Kinh Vu-Lan có đề cập đến các thiên thầnđịa thần, tứ đại thiên vương v.v… cũng không thể cứu giúp được cho thân mẫu của tôn giả Mục-Kiền-Liên. Riêng tôn giả Mục-Kiền-Liên là vị Thánh Tăngđắc quả A-La-Hán thành tựuLục Thông, vậy mà khi dâng bát cơm cho mẹ, mẹ Ngài cũng không thể ăn được, vì cơm đã hóa thành than hồng. Sự kiện này cho thấy chúng ta không thể dựa vàotha lực, dù tha lực đó có thần thôngbiến hóa khôn lường cũng không cứu được chúng ta ra khỏi địa ngục.

– Bài học về đoàn kết: Một cá nhân dù tài giỏi, một mình khó hoàn thành được việc lớn. Nhiều người góp sức thì việc gì khó cũng có thể làm được. Tục ngữ có câu: “Một cây làm chẳng nên non. Ba cây dụm lại nên hòn núi cao”.Một mìnhtôn giả Mục-Kiền-Liên dù đắc quả A-La-Hán thành tựuLục thông cũng không cứu được mẹ. Phải nhờ đến mười phương Tăng họp sứcchú nguyện mới cứu được bà Thanh Đề.

– Bài học về đạo hiếu thảo: Nhân vật chính báo hiếu trong Kinh Vu-Lan-Bồn là ngài Mục-Kiền-Liên, vị đệ tửlỗi lạcthần thông số một của đức Phật.

Trong bài kinh khác là “Kinh Báo Ân”, đức PhậtThích Ca đã thể hiệnlòng hiếu thảo của ngài qua sự kiệnbản thân ngài đã thành kínhđảnh lễ đống xương khô, trong đó có cửu huyền thất tổ của ngài.

Đức Phật và chư thánh nhân không quên công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹtrong đời này và nhiều đời trước. Các Ngài đã tìm cáchbáo đáp, còn chúng tađệ tử của Phật làm sao dám quên công ơncha mẹ không lo sớm hôm báo đền. Báo hiếucha mẹ không phải chờ đến ngày Rằm tháng Bảy mới báo hiếu, Phật dạy làm con phải hiếu thuận với cha mẹ từng phút từng giây, mỗi niệm suy nghĩ phải thương tưởng đến cha mẹ. Cha mẹ còn sống phải chăm lo săn sóc cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Về vật chất lo đầy đủ miếng ăn, giấc ngủ, giường nệm ấm êm, quần áo sạch sẽ. Về tinh thần thì khuyến khích cha mẹ lo tu hành theo chánh pháp tạo nghiệp lành tránh nghiệp ác, chứ không chờ cha mẹ qua đời rồi tổ chức cúng giỗ rềnh rang, hay đến ngày Lễ Vu Lan hằng năm mới theo người ta đến chùa tham dựpháp hội  báo hiếu.

 

IV. KẾT LUẬN

Tóm lại, nội dung kinh “Vu-Lan-Bồn hay “Phật Thuyết Vu-Lan-Bồn kinh đề cao đạo đức chữ hiếu. Ngoài việc hướng dẫn phương pháp độ tử, bài kinh còn ngầm nhắc nhở chúng sanh ngay trong đời sống hiện tại cần giữ ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, làm việc thiện lành tránh việc xấu ác. Kinh khuyến khích các hình thứctôn kínhphụng sựTam Bảo, trong ý nghĩa gắn liền sự sinh hoạt của Phật tử đối với đạo pháp, đồng thờiphản ảnhthái độtôn kínhchân lý Phật dạy và đạo đức của chư tônđức tăng ni là những vị đã dày côngtu tập, đang hoằng truyền pháp Phật vì lợi ích của số đông chư thiênloài người.

Với một thông điệp gồm những nội dung giá trị như vậy, kinh Vu-Lan Báo-Hiếu và Lễ-Hội Báo-Hiếu tổ chức hằng năm vào ngày Rằm tháng Bảy là một truyền thốngtốt đẹp, nó có giá trịhai mặt về nhân văn và văn hóa, không chỉ trong cộng đồngPhật giáo, mà cho tất cả mọi người trên quả địa cầu này. Thử hỏi trên đời, có người nào không do cha mẹ sanh ra và có ai sanh ra mà không chết?  Giữa sanh ra và chết đi là khoảng thời gian của một đời sống. Là người hiểu đạo, chúng ta sống sao cho xứng đáng một kiếp người, để khi thân hoại mạng chung, chúng ta bình thản ra đi không một chút hối hận hay hối tiếc một điều gì…

Bài kinhPhật thuyết Vu-Lan-Bồn” là một trong những bài kinh ngắn dễ hiểu, là một thông điệpgiá trị nhắc nhở chúng tađạo làm người, trong đó đạo hiếu với cha mẹ là nền tảng đạo đức quan trọng mà bổn phận người làm con không được phép quên.

 

Nam MôĐại Hiếu Mục-Kiền-Liên Bồ-tát

 Thích Nữ Hằng Như

                                                        15-8-2021

                (Sinh hoạt với đạo tràng Thiền Tánh Không, Houston, Texas)