Gieo Trồng Phước Đức

0
175

Tủ Sách Đạo Phật Ngày Nay
GIEO TRỒNG PHƯỚC ĐỨC
Thích Đạt MaPhổ Giác
Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin


Người cư sĩtại gia, ngoài trách nhiệm và bổn phận đối với gia đình, xã hội còn có nhiệm vụhộ trì Tam Bảo. Cho nên trọng trách của người Phật Tửtại gia rất là quan trọng và thật lớn lao, bởi họ vừa phải lo làm lụng nuôi sống bản thân, gia đình, cha mẹ, anh em, vợ con, phải lo đóng góp cho xã hội, lại còn thêm trách nhiệmhộ trì Tam bảo, giúp đỡ chư Tăng, Ni có điều kiện, thời gianhọc hỏi, tu hành.
gieotrongphuocduc-biagieotrongphuocduc-bia
MỤC LỤC

Đôi lời tâm sự
Gieo trồng phước đức
Đức Phật làm phước
Đức Phật làm phước độ đệ tử bệnh
Bà già bán cái nghèo
Bố thítuỳ duyên
Bố thí với tâm thành
Tài thí, nội thí
Nhân quả như hình với bóng
Thực hành pháp thí
Vì pháp quên mình được ngộ đạo
Cúng dường được phước
Bố thí không bị năm nhà cuốn trôi
Phước đức và công đức
Khi công tử chê tiền
Cúng dườngchứng quả A-na-hàm
Bố thícúng dườngtrong sạch
Chúc mừng không trong sạch
Bố thí Ba la mật
Cúng dườngTam bảo

ĐÔI LỜI TÂM SỰ


Kính thưa các thiện hữu tri thức, các bạn gần xa,

Sau khi vấp ngã và thất bại ê chề với quan niệmsai lầm: chết là hết,
không có nhân quả, nghiệp báo, không có đời sau, chúng tôimay mắn có được người mẹ giúp đỡ làm mới lại cuộc đời.

Nhờ nhân duyên từ người mẹ, tôi mới gặp được Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và Phật pháp đã cứu đời tôi. Nếu khôngTam Bảo thì kiếp sống của tôi trở nên vô dụng, cũng nhờ phúc duyên nhiều đời, nhiều kiếp còn sót lại như rùa mù trăm năm trôi lăn trong biển cả gặp được bọng cây, thật hy hữu và nhiệm mầu. Nếu không gặp Phật pháp thì tôi làm gì có được
ngày hôm nay để sẻ chia cùng các bạn một chút trải nghiệm cuộc đời.

Với lòng biết ơnTam bảo vô hạn, tôi quyết tâm thay đổi cuộc đời. Trong thời giantu học tại Thiền viện Thiền Chiếu, ân sư đã giúp tôi có cách nhìn khác hơn: mọi việc đều có thể thay đổi, không một cái gì trên thế gian này là bất biến, là cố định cả..

Để làm mới chính mình, tôi phát tâmđi vào đời bằng những việc làmthiết thực qua những chuyến từ thiện tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng…
Có lần, sau khi chia sẻ bài pháp thoại ngắn, chúng tôi phát quà cho hai
trăm gia đình nghèo. Chúng tôihết sức khâm phục và quý kính trước tấm lòng nhân ái của một phụ nữ nghèo có sáu đứa con đang chịu đói mấy ngày,
ấy thế mà tinh thần cao thượng của bà đã giúp cho một gia đình hàng xóm
vượt qua cái chết trong tầm tay.

Chúng tôi đã đến thăm bà mẹ và sáu đứa con ấy, chồng bà bị chết trong
cơn lũ lụt, nhà cửa, tài sản bị cuốn trôi hết. Cuộc sống của gia đình hiện đang nhờ vào sự giúp đỡ của chính quyền và của những tấm lòng hảo tâm. Cả bảy mẹ con cùng sống trong túp lều nhỏ chờ cứu trợ, có lúc mấy đứa trẻ run lên bần bật vì đói.

Nhìn những khuôn mặt thiếu ăn, hốc hác, xám xịt, chúng tôi thêm xúc động nghẹn ngào. Người mẹ vui vẻ nhận phần quà từ tay chúng tôi rồi lặng
lẽ
chia ra làm hai, một phần để lại ở lều, còn phần kia bà nhanh chân mang đến cho một gia đình hàng xóm nào đó. Chỉ trong chốc lát bà quay về
với vẻ mặt hớn hở, mãn nguyện bà nói: 

– Nhà con diễm phúc được thầy và phái đoàn đến tận nơi giúp đỡ, tuy nhiên trong làng còn nhiều gia đình rất khó khăn chưa được ai giúp, vì vậy con phải san sẻ cho họ chút đỉnh để qua cơn nguy kịch.

Nghe bà nói đến đây tôi sực nhớ đến câu ca dao:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Đúng là tình làng nghĩa xóm của người Việt Nam tuy đơn sơ nhưng thấm đậm tình người. Một miếng khi đói bằng gói khi no, đang thiếu thốn khó khăn mà mở lòng san sẻ là điều rất đáng quý trong cuộc đời.

Người có tiền dư, bạc hậu đem ra giúp đỡ người khác là chuyện dễ làm,
còn người đang thiếu thốn khó khăn, mà sẵn sàng chia sẻ một nửa của mình cho người khác không phải là người tầm thường. Hành động đó chính là người có tâm Bồ-tát cao thượng. Tuy đơn giản như vậy, nhưng không phải người nào cũng làm được. Trong lúc mình đang thiếu thốn, khó khăn, con cái còn đói rách, được quà cứu trợ, đáng lẽ mình hưởng trọn vẹn lại chia sẻ một nửa cho người có cùng cảnh ngộ như mình không phải là chuyện
dễ làm.

Chứng kiếncảnh tượng tận mắt như thế, lòng tôi se thắt lại. Đau thương, mất mát, buồn tủi, khổ sầu diễn ra trước mặt làm cho tim tôi đau
nhói. Nhớ lại người mẹ của tôi lúc bệnh nặng, tôi về thăm bà mỗi ngày để động viên, an ủi, dù sao gia đình tôi vẫn còn có phước hơn nhiều người trong hoàn cảnhhiện tại.

Cuộc sống vốn có nhiều khía cạnh, buồn, thương, giận, ghét, khổ, vui,
được, mất, hơn, thua và biết bao điều khó khăn đang thử thách cuộc sống, bên cạnh biết bao nỗi lo âu, sợ hãi, thất vọng, luôn chiếm đoạt tâm hồncon người. Chúng ta hãy dũng cảm để vượt qua chính mình, không có gì là cố định, không có gì là mãi mãi, ước mơhoài bảo về tương lai con người có thể làm được, chỉ cần ta tự tin, tự so sánh với các bậc
vĩ nhân, Bồ tát và chư Phật, ta có thể vượt qua và vươn lên đỉnh cao của con người và sống tốt hơn với mọi người. Cuộc sống này ai cũng ước mơ, mong muốn được trưởng thành để đóng góp một chút gì đó cho gia đìnhtha nhân.

Người mù ước mơ được sáng mắt để thấy sự thậtcuộc đời; chú bé mồ côiước mơ một ngày nào đó được vòng tay âu yếm của mẹ; người thất nghiệp ước mơ có được việc làm và người tàn tật ước mơ được đi lại bình thường như bao người khác… Tóm lại, ai cũng ước mơ được sống trong an vui và hạnh phúc.

Thật ra, cuộc sống không cho ta dễ dàng thực hiện những ước mơ, nếu người đó không có ý chí, lập trườngkiên định thì mơ ước cũng chỉ là ước
mà thôi. Khi gặp khó khăn, người thiếu niềm tin ở chính mình sẽ gục ngã trước biến động của cuộc đời. Người có nhân cách lớn khi gặp khó khăn chướng ngại sẽ không chùn bước trước hoàn cảnh, họ luôn dũng cảmtìm cáchtháo gỡẩn nhẫn chờ đợi với quan niệmsáng suốt: “Tất cả khó
khăn chỉ là thử thách đối với con người.”

Ai cũng có ước mơ đáng quý và trân trọng với bao niềm hy vọngvô biên
để gây dựngniềm tin cho chính mình. Những khó khăn trở ngại chỉ là thử
thách
trong cuộc hành trình đến đỉnh cao của niềm vui, an lạchạnh phúc.

Những thất vọng, lo lắng, sợ hãi, bất an, buồn chán luôn đến với người yếu đuối, bạc nhược, phó thác cuộc đời cho số phận. Họ luôn mặc cảm, tự ti, chờ sự trợ giúp của các thần linh hay đấng quyền năng nào đó
để rồi suốt đời sống trong hiềm hận và khổ đau. Họ không biết rằng mọi sự nên hư, thành bại trong cuộc đời đều do chính mình tạo ra, không ai có quyền sắp đặt hay định đoạt cuộc sống của mình. Người không đủ niềm tin, tuyệt vọng, trốn chạy cuộc đời bằng cách quyên sinh, bởi họ than oán, trách móc số phận để rồi chịu gục ngã trong các cơn giông tố cuộc đời.

Trong đêm tối của vô minh, chúng ta hãy thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ để vượt qua những khó khăn, bế tắc cuộc đời, đừng để cuộc sống trôi qua một cách vô ích. Ta không mãi đắm chìm trong quá khứthất vọng ở tương lai, mà ta phải sống trọn vẹn ngay tại đây và bây giờ bằng tất cả tấm lòng chân thật với nhiệt huyết làm mới cuộc đời. Mọi việc sẽ không có ý nghĩagiá trị khi ta chấp nhận có số phận an bài, buông xuôi cuộc sống theo dòng đời nghiệt ngã.

Ai cũng có thể làm mới chính mình bằng sự quyết tâm, dũng cảm, ý chí,
thì mới có thể biến ước mơ của mình thành sự thật. Như người phụ nữ vừa
kể ở trên, đáng để cho chúng tatôn kính và khâm phục tấm lòng bao dung
đầy tình nghĩa, sẵn lòng chia sẻ với người trong lúc mình đang rất thiếu thốn, khó khăn. Chúng ta phải học ở người phụ nữ ấy sự hy sinh cao
cả, biết chia sẻ một cách chân thành, không vì mình mà bỏ qua việc làm tốt.

Khác với hành động của bà Thanh Đề trong thời đức Phật còn tại thế, khi bà nhận được bát cơm của tôn giả Mục-kiền-liên, bà che bát cơm để bốc ăn, vì sợ người khác nhìn thấy đến xin. Nghiệt ngã thay, bà vừa bốc cơm đưa vào miệng, cơm bỗng hóa thành lửa, không thể ăn được. Đó là quả báo từ lòng tham lam, ích kỷ, thói quen xấu của bà đã huân tập từ nhiều đời, nhiều kiếp mà bà phải chịu như vậy.

So sánh giữa hai mẫu chuyện xưa và nay để mỗi người chúng taý thứctrách nhiệm, bổn phận của đời sốngcon người qua lời Phật dạy, sự sống trên thế gian này từ con ngườicho đến muôn loài, muôn vật đều phải cưu mang, nương tựa lẫn nhau, không có cái gì tách rời nhau mà có thể tồn tại và phát triển được. Đạo Phât dạy chúng ta phải biết thương yêucảm thông và chia sẻ nhau trên tinh thầnvô ngã, vị tha.

Chúng ta đừng tự hạ thấp giá trịbản thân mình, mà phải so sánh với người cao thượng, với bậc vĩ nhân hay nhà đạo đứcsuốt đờivì lợi íchtha nhân. Đừng bao giờ nản lòng thất chí khi ta còn có thể làm được điều
gì đó cho đến khi mọi thứ thật sự chấm dứt, không còn hoạt động được nữa. 

Không quá sợ sệt, lo lắng về tương lai, mà ngay trong giờ phút hiện tại, ta phải bình tĩnh, sáng suốt trước mọi vấn đề. Mấy ai trong cuộc đời này không từng nếm trải mùi vị của đau khổ? Khổ đau và hạnh phúc luôn song hành bên nhau, nếu ta biết nắm lấy hạnh phúc thì khổ đau không
có mặt. Hãy cố gắnghọc hỏihành trì theo lời Phật dạy, ta sẽ thành công, đừng sợ phải đối mặt với khó khăn, nghịch cảnh và những điều không
được hài lòng, như ý, nó như để ta thử thách, rèn luyệný chí, sức chịu
đựng
thêm vững vàngtrưởng thành hơn. Sau cơn mưa trời lại sáng bóng tối sẽ bị xua tan khi trời quang, mưa tạnh dù khi ấy mặt trời vừa mới ló dạng.

Qua nhiều chuyến đi từ thiện vùng sâu, vùng xa, chúng tôi được chứng kiến, mắt thấy tai nghe nhiều sự hy sinh cao thượng để giúp người, cứu đời. Ấn tượng nhất là nghĩa cử cao đẹp của người phụ nữ nghèo, chồng chết trong cơn lũ lụt để lại sáu con thơ dại, đói khát nhiều ngày mà đã không ngần ngại chia sớt nửa phần quà ít ỏi của mình cho người đồng cảnh
ngộ
. Người sẵn lòng giúp người hoạn nạn, khó khăn trong khi hoàn cảnh của mình cũng khó khăn thiếu thốn, đó là người tốt thực sự. Người tốt thì trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn cách mấy, họ cũng sẵn sàng chia sẻ,
giúp đỡ cho người hoạn nạn, khốn khổ như mình.

Bồ-tát luôn hiện thân trong mọi trường hợp để tùy duyên giúp đỡ, cứu khổ cho người. Đã làm người trong trời đất, ai không một lần lầm lỗi, vấp ngã, khổ đau, chúng ta đừng nên mặc cảm tự ti, phó mặc cuộc sống cho
số phận an bày mà vô tình giết chết quãng đời còn lại. Hãy tự mình đứng
dậy
sau khi vấp ngã, biết mình có lỗi thì cố tâm sám hối, làm mới lại chính mình. Biết sai thì ta sửa sai, bậc Thánh hiền vẫn còn có sai sót huống hồ chúng ta là những phàm phutục tử, làm sao không có lỗi lầm.

Điều quan trọng là ta có dám buông bỏ các thói quen không tốt để làm mới cuộc đời hay không? Xin thưa, nếu vững lòng tin vào khả năng của mình, không có gì không thể làm được, chỉ sợ ta không can đảm, thiếu nghị lực, chán nản hay thối chí bỏ cuộc nửa chừng mà thôi.

Nơi đây,

Chúng tôi xin ghi lại một vài trải nghiệm trong cuộc đờitu tập của mình. Tuy thành công còn rất nhỏ bé, nhưng chúng tôi mong được chia sẻ với những ai đồng cảnh ngộ.

 Xin chúc các bạn bình tĩnhđối đầu với mọi khó khăn, vượt quanghịch cảnh để từng bước trở về với thế giớitâm linh của mình.

Kính ghi,

Chùa Giác Ngộ, tháng 12 năm 2008
THÍCH ĐẠT MAPHỔ GIÁC


GIEO TRỒNG PHƯỚC ĐỨC
Phiên tả: Giác Hạnh Đức
Hiệu chỉnh: Nguyễn Bá Cẩm 

 

Trong thời đại hiện nay, trên đà phát triển toàn cầu hóa nhiều mặt, người ta chú trọng nhiều về phương diện kinh tế, vì nó mang lại lợi íchvật chất cho con người. Song bên cạnh, nó kéo theo nhiều tai họa không thể lường được, sự phân biệt giàu nghèo đã làm cho con người trở nên khó
gần gũi, không thân thiện nhau. Cho nên, việc bố thí, cúng dường là nền
tảng của các điều tốt lành để xóa đi sự cách biệt tạo điều kiện cho con
người
dễ gần gũi, thân thương nhau hơn, nhất là đối với những người đang tiến bước trên con đườnggiác ngộ, giải thoát.

Người xuất gia theo đạo Phậtthực hành bố thí, cúng dường để buông xả
tâm tham, sân, si đang dính mắc bên trong. Họ thực hành bổn phận truyền
đạt
những lời Phật dạy đến mọi người cũng là cách bố thí chân chánh của
người xuất gia.

Người cư sĩtại gia, ngoài trách nhiệm và bổn phận đối với gia đình, xã hội còn có nhiệm vụhộ trì Tam Bảo. Cho nên trọng trách của người Phật Tửtại gia rất là quan trọng và thật lớn lao, bởi họ vừa phải lo làm lụng nuôi sống bản thân, gia đình, cha mẹ, anh em, vợ con, phải lo đóng góp cho xã hội, lại còn thêm trách nhiệmhộ trì Tam bảo, giúp đỡ chư Tăng, Ni có điều kiện, thời gianhọc hỏi, tu hành. Trong cuộc sống hằng ngày, họ phải lo cơm, áo, gạo tiền, gánh nặngviệc gia đình, chuyện
xã hội với bổn phận người công dân lại phải làm hậu cần cho Tam Bảo không phải là chuyện dễ làm mà ai cũng có thể làm được. Muốn làm được điều này, đòi hỏi người Phật Tử phải có Bồ-đề tâmkiên cố, có nhận thứcsáng suốt, đúng đắn, hiểu rõnguyên nhân của phước quả, nghiệp báo mới có thể làm được.

Trong thế gian này, người giàu sang phú quý, sự nghiệp vinh hiển, công thành danh toại không phải bổng dưng mà có, mà đó là kết quả việc tu nhân, tích đức của họ trong nhiều đời trước. Trên đời này, không có việc gì là ngẫu nhiên, đương nhiên hay tự nhiên mà thành.

Muốn được giàu sang, quyền quý, sung túc trong tương lai, trong đời này ta phải biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ tùy theo khả năng của mình. Người Phật tửchúng ta phải ý thức được điều này, muốn được giàu sang, nhiều của cảihiện thời ta không biết làm phước thì e rằng
ta không còn có cơ hội.

Cho nên:

Đạo Phậtđi vào đời

Vì lợi íchchúng sanh

Để vượt quahiểm nghèo

Phật dạy pháp bố thí

Thực hành làm phước, bố thí, cúng dường hay giúp đỡ, chia sẻ tình thương với mọi người là tiêu chí đầu tiên trong đạo Phật. Đức Phật dạy chúng ta phải biết xả bớt lòng tham lam, ích kỷ, nhỏ nhoi, ti tiện chỉ biết sống cho riêng mình, ai đau khổmặc kệ. Đạo Phậtkhông chấp nhận lối sống hẹp hòi, vị kỷ như vậy, vì nó làm mất đi ý nghĩa tình người.

Đạo Phật chủ trương sống hòa mình cùng nhân loại, với quan niệm ai cũng là người thân, người thương, nên mỗi người đều phải có trách nhiệm và bổn phận thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thầnvô ngã,
vị tha.

Đạo Phật thấy rõ cuộc sống của muôn loài là phải nương tựa vào nhau, không một loài nào tách rời sự cộng sinh mà có thể tồn tại trong bầu vũ trụbao la đầy khắc nghiệt này. Đức Phật đã tu tập thành bậc giác ngộhoàn toàn, Ngài thấy rõ mọi sai biệt và bất đồng giữa con người và muôn loài, giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy người giàu sang, sung sướng, của cảivật chất đầy đủ, người nghèo hèn khốn khổ, đói rách thiếu thốn lang thang; kẻ sang người hèn, kẻ xấu người đẹp, kẻ ngu người trí, kẻ chết yểu người sống thọ, người an vui hạnh phúc, kẻ khổ đau…

Hôm nay, chúng tôichân thành chia sẻ pháp thoại “Phước cúng dường.” Trong đó, đức Phật khẳng định: “Nếu ai muốn hiện tạimai sau hưởng quả báotốt đẹp thì ngay bây giờ phải biết gieo trồng phước đức.”

Người đủ ăn đủ mặc

Là người có phước đức

Vì thế nên ít lo

Nhờ vậy mà dễ tu.

Vậy thế nào là người có phước đức? Người có phước đức là người có cuộc sống ổn định, phương tiệnvật chất đầy đủ, có nhà cửa, tiền tài, danh vọng, ăn ngon, mặc ấm lại sống trong gia đình trên thuận dưới hòa, biết cung kính, lễ phép với người trên, thương yêu, đùm bọc người dưới, biết hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, biết dạy dỗ con cái điều hay lẽ phải,
tránh xa bạn ác, gần gũi bạn lành, sống trong tình thương yêu, giúp đỡ đồng loại.

Nếu bây giờ chúng ta không làm phước, mà muốn được phước trong tương lai thì không thể được, cũng như trước kia mình chưa từng làm phước thì bây giờ làm gì có phước để mà hưởng. Nên nhớ rằng, làm phước tất được phước, và hưởng phước mà không tiếp tục làm phước thì phước sẽ hết. Biết
được điều này, mỗi người chúng ta phải cố gắng gieo trồng phước đức. Một ngày sống trên đời phải là một ngày sống có ích cho mình và cho người, không làm tổn hại cho ai. Ngược lại, người sống trong cảnh thiếu thốn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, trong gia đìnhthường haygây gỗ, bất hòa, xung đột lẫn nhau là vì kém phước đức.

Vậy thế nào là phước? Phước là những hành động, lời nói, ý nghĩ đem đến an vui hạnh phúc cho người trong hiện tạimai sau. Người làm phước là người biết làm lành, làm tốt, được mọi ngườiquý mến, ưa thích gần gũi. Nhờ sự gần gũi đó, họ dễ dàng thông cảm, hiểu biết, thương yêu,
bao dung, tha thứ cho nhau, sẵn sàng dấn thân và phục vụ trên tinh thầnvì lợi ích cho tha nhân.

 


 

ĐỨC PHẬT LÀM PHƯỚC


Thời Phật còn tại thế, người đệ tử A-na-luật là anh em chú bác ruột với Ngài. Do quyết chí tu hành, nên A-na-luật bị mù cả hai mắt, bù lại, Ngài chứng được Thiên nhãn thông.

Một hôm, đức Phậtthuyết giảng trong một pháp hội lớn, tất cả đại chúng đều say mê chăm chú lắng nghe, riêng Ngài A-na-luật thì ngủ gà, ngủ gật. Thấy thế, đức Phật gọi dậy và phương tiện độ người đệ tử:

– Này A-na-luật, có ai bắt buộc ông đi tu không? Hay vì ông thiếu nợ nhiều quá phải làm thuê, làm mướn vất vả nên trốn vào đây tu?

A-na-luật thưa:

– Bạch Thế Tôn, không phải như thế. Con là một Hoàng Tử đâu cần làm thuê, làm mướn và cũng không thiếu nợ ai. Con đi tu vì cảm kích công hạnh của Thế Tôn không thể nghĩ bàn. Con tu là để cầu giác ngộgiải thoát, nhưng vì tập khí xa xưa của con còn quá nhiều, nên nó che chướng làm con mê mờ trong lúc nghe Thế Tôn chỉ dạy.

Đức Phật bảo:

– Ông tu vì muốn giác ngộgiải thoátsinh tử cho chính mình và cứu giúp chúng sanh, tại sao lại mê ngủ như vậy?

Nghe những lời cảnh tỉnh của Thế Tôn, Ngài ăn nănhổ thẹn, xin sám hốichừa bỏ tật ngủ gật và phát nguyện lớn: “Nếu đời này không thành đạo
thì tôi không nhắm mắt.” Do quyết chí tu hành, ban ngày học hỏi làm việc, ban đêm siêng năng hành trì đến nỗi đôi mắt bị đỏ lên và sưng vù. Các thầy thuốc bảo Ngài ngủ lại bình thường thì mắt sẽ hết bệnh, nhưng Ngài vẫn cương quyết một lòng tu tập không ngủ nghỉ.

Đức Phật nghe chuyện, thân hành đến thăm và khuyên ông nên ngủ lại bình thường như trước, nhưng ông vẫn không chịu ngủ, cuối cùng đôi mắt của Ngài bị mù hẵn khi chưa chứng đạo. Tuy vậy, Ngài vẫn quyết tâmtinh tấntu hành, chỉ một thời gian ngắn, Ngài chứng đắcThiên nhãn thông với
lực dụng không thể nghĩ bàn. Ngài có thể thấy suốt vũ trụbao la như nhìn một trái xoài trong lòng bàn tay không bị chướng ngại của vật cản nào.

Một hôm, chiếc y của mình bị rách, Ngài muốn tự tay khâu lại, nhưng ngặt nỗi không thấy đường xỏ chỉ vào kim, Ngài lên tiếng nói rằng: “Có ai xỏ kim dùm tôi không?” Vừa lúc ấy đức Phật đi ngang nghe được, liền đến xỏ kim giúp người đệ tử mù của mình. Chúng ta thấy, một việc làm lành dù nhỏ nhoi đức Phật cũng không từ nan. Học chuyện xưa để mỗi người
chúng ta bắt chước công hạnh của Như LaiThế Tôn.

Việc làm của đức phật khiến chúng ta phải cảm phục, quý kính, bởi Ngài là bậc toàn giác, bậc thầy vĩ đại, mà vẫn không bỏ qua việc làm phước nhỏ.

Qua đó, chúng ta thấy người giác ngộ không từ chối bất cứ việc lành nào cho dù rất nhỏ khi đủ nhân duyên. Như vậy, chứng tỏ rằng sự có mặt của đạo Phật luôn đem đến lợi íchthiết thực cho con người, không gây tổn hại cho ai trên đời này cả dù rất nhỏ.

Chúng ta phải biết làm việc thiện dù lớn hay nhỏ, ta phải cố gắngvun
trồng
, cóp nhặt để như giọt nước lâu ngày đầy lu. Ngược lại, việc ác dù
nhỏ mấy ta cũng phải tránh, không làm. Muốn gieo trồng phước đức, ta phải xa rời nghiệp ác và phát triển nghiệp lành.

Học hạnh xưa của Thế Tôn để ngày nay chúng tacố gắng bắt chước gieo trồng phước đức. Một ngày làm việc thiện thì bao việc ác không thể có mặt. Như vậy gieo trồng phước đức có lợi cho ta rất nhiều, còn tham lambỏn xẻn, ích kỷ, tâm địa nhỏ nhoi thì lúc nào cũng chịu nhiều đau khổthiệt thòi.

Ta làm việc ác nhỏ lâu ngày tạo nên nghiệp ác lớn, ví như lỗ thủng nhỏ rỉ nước vào thuyền, nếu không chặn lại ngay từ đầu, đến một lúc nào đó nó sẽ nhấn chìm cả chiếc thuyền lớn.

Bởi chưng kiếp trước khéo tu

Kiếp này con cháu võng dù xênh xang.

Dân gian có câu: “Có phước làm quan.” Làm quan thì có điều kiện giúp đỡ gia đình, quyến thuộc, đó là lẽ đương nhiên trong cuộc đời. Theo quan
niệm
dân gian Việt Nam “một người làm quan cả họ được nhờ” là thế. Để thấy lời Phật dạy không sai, mỗi người chúng ta phải cố gắng gieo trồng phước đức. Do phước nghiệp không đồng nên con ngườithân tướng, lời nói, vóc dáng khác nhau, không ai giống ai cả. Người giàu sang, kẻ nghèo
khổ
, người sống thọ, kẻ chết yểu, người thông minh, kẻ ngu dốt cũng từ đó mà ra.

 


 

ĐỨC PHẬT LÀM PHƯỚC ĐỘ ĐỆ TỬ BỆNH


Thật hiếm hoi và hy hữu nhất trên đời, không phải ai cũng có duyên gặp đức Phật, nhưng gặp Phật để thấm nhuần lời dạy của Ngài và áp dụngtu tập để vượt qua khổ lụy cuộc đời mới là điều đáng quý.

Có một thầy Tỳ-kheo bị bệnh lâu ngày không thuyên giảm, thân thể lở loét, hôi hám khó chịu. Ban đầu có nhiều Tỳ-kheo khác chăm sóc, giúp đỡ,
nhưng rồi ai cũng ngán ngẩm vì hôi tanh. Vì vậy, Thầy được dời ra ở một
nơi cách xa Tịnh xá.

 Một hôm, đức Phật và các thầy Tỳ-kheo trên đường du hóa ngang qua, đức Phật ghé vào thăm và nhờ thầy A-nan nấu nước để đức Phật đích thân tắm rửa, mặc y áo cho thầy Tỳ-kheo bị bệnh.

Thầy Tỳ-kheo bị bệnh đang đau khổ, bỗng nhiên hôm nay được Như Lai ghé thăm lại đích thân tắm rửa, thay y khiến Thầy cảm thấy phấn khởi, an
lạc
không chi bằng. Thầy sung sướng như đứa con thơ nhiều năm lưu lạc gặp lại mẹ cha, thầy cảm nhận được niềm phúc lạc vô biên chưa từng có trong cuộc đời.

Nhân đó, Như LaiThế Tôn khai thị pháp môn quán về bệnh khổ thân này không thực có: “Thân đau nhưng tâm không đau.” Sau khi nghe bài pháp của
đức Phật, thầy Tỳ-kheo thực hành ngay pháp quán sát tường tận này, Ngài
liền chứng quả A-la-hán và thị tịch một cách an lành, thanh thản.

Thật khác với chúng ta, có người tu tập nhiều năm, đến khi đổ bệnh không làm chủ được bản thân, đau đớn, rên xiết vô cùng, người nhà thấy vậy đau lòng khuyên niệm Phật hay thiền quán cho bớt khổ đau, nhưng người ấy không thể làm được.

Qua đó, ta mới thấy việc thực hành các pháp môn không phải là việc dễ
làm. Có người còn cho rằng, bây giờ còn trẻ, ta ăn chơi, bay nhảy cho thỏa thích, đến lúc tuổi già hãy tu cũng không sao. Nên nhớ rằng, khi có
phước duyên gặp Tam Bảo, mà không tinh tấntu hành theo lời Phật dạy, lúc bệnh đến không biết cách hóa giải lại than thân, trách khổ như khát nước chờ đào giếng thì làm sao cho kịp.

Là người con Phật, chúng ta phải cố gắngtu hành lúc còn trẻ, còn mạnh khỏe, không nên chờ đến tuổi già mới tu, e đến lúc đó, thân không còn khỏe, chân đau, gối mỏi, bệnh tật tấn công, thân chịu không nỗi, lấy
đâu mà tu luyện, thực hành. Người thiếu phước, không có trí tuệ, khi đối diện với tuổi giàbệnh hoạn sẽ lo âu, sợ hãi, bất an, đâu có còn bình tĩnh, sáng suốt để tu hành.

Người đến tuổi già mới bắt đầu tu bị chướng ngại bởi hoàn cảnh, tật bệnh thường tủi lòng, than vản trước hình tượng Phật: “Con muốn tu mà nghiệp chướng chẳng chịu buông tha, hoàn cảnh khó khăn, thiếu tiền, thiếu gạo lại thêm bệnh hoạn làm đau lòng, nhức nhối, khó chịu, rồi xin Phật thế này, thế kia…” Nếu ai cũng chờ đến già mới tu, chờ tiền đầy túi
mới làm việc phước thiện thì e rằng suốt đời người ấy sẽ không có cơ hội.

Trên thế gian này, người được giàu sang, phú quý, hiển vinh, công thành danh toại là nhờ biết tu nhân tích phước từ nhiều đời trước. Trên đời này, không có việc gì ngẫu nhiên, đương nhiên, tự nhiên mà thành. Muốn được như vậy, ta phải biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ tùy
theo
khả năng của mình.

Nếu ta không đủ các điều kiện về vật chất để thực hành bố thí, cúng dường thì ta phát tâmhoan hỷ khi thấy người khác thực hành bố thí, cúng
dường
thì phần công đức của ta cũng ngang bằng với người thực hành bố thí. Trong kinh có nói: “Nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy hỷ…” nghĩa là, tự ta làm, khuyên người khác làm hoặc thấy người làm ta phát tâmhoan hỷcông đức ngang bằng nhau.

 Công hạnh cao cả không thể nghĩ bàn của Như LaiThế Tôn như nói ở trên thật đáng để loài ngườichư thiêntôn kính, xứng đáng là bậc thầy trong ba cõi, bởi vì Ngài không từ bỏ bất cứ
một việc thiện nào dù lớn hay nhỏ khi đủ nhân duyên.

Vậy bố thí, cúng dườngý nghĩa gì?

Bố thí tiếng Phạn là Dàna, có nghĩa là sự cho, còn theo từ ngữ Hán Việt bố là cùng khắp, thí
là cho, nghĩa là cho cùng khắp không giới hạn. Thông thường ta chỉ bố thí cho người thân, rộng hơn nữa là cho người nghèo khổ, ít ai bố thí cho người ta đang ghét hay hận thù. Chính vì không hiểu biếttới nơi tới
chốn nên ta chỉ bố thígiới hạn dẫn đến không được lợi ích nhiều, có
khi còn tham lamích kỷ nữa là khác.

Từ cúng dường là nói trại của hai chữ cung dưỡngcó nghĩa là cungcấp
và dưỡng nuôi. Về nội dung thì bố thí hay cúng dường chỉ là một, không có gì là sai khác. Tuy cùng chung một nghĩa cử, một hành động, nhưng người ta dùng hai từ khác nhau để phù hợp với đối tượng thọ nhận: cho với lòng hảo tâm, thương cảm thì gọi là bố thí, còn cho với lòng ngưỡng mộ, tôn kính thì gọi là cúng dường.

Thí dụ, cha mẹ là hai đấng sanh thành mang nặng đẻ đau, nuôi ta khôn lớn, lo cho ta ăn học tới nơi tới chốn, dựng vợ gã chồng, tạo cho ta gia
tài
sự nghiệp, ta phải có trách nhiệmcúng dườngcha mẹ khi tuổi già hay lúc bệnh hoạn, ốm đau… (nghĩa là cung cấp và dưỡng nuôi cha mẹ.) Cung cấp những nhu cầu cần thiết để nuôi dưỡngcha mẹđạo lý “Uống nước nhớ nguồn; ăn trái nhớ kẻ trồng cây” trong tập quán của người Việt nam

Làm người trong trời đất ai cũng từ cha mẹ sinh ra, cha mẹ làm nên thân người, vì vậy ta phải có trách nhiệm, bổn phận hiếu thảo với mẹ cha
bằng cách chăm sóc về tình cảm, tinh thầncung cấp dưỡng nuôi lúc cần.

Trong kinh Phật dạy, gặp thời không có Phật, cha mẹ là hai vị Phật, (Phụmẫu tại đường như Phật tại thế.) Làm người chúng ta cần nhớ lời dạy quan trọng này.

Một thời, lúc Phật còn tại thế, gặp năm hạn hán mất mùa, dân chúng đói khổ, thiếu thốn, khó khăn, đức Phật cũng không ngoại lệ, một vị Tỳ-kheo thấy Phật thiếu ăn, liền đem chiếc y của mình đổi lấy bát cơm dâng lên cúng Phật.

 Phật hỏi rằng:

– Ông còn cha mẹ không?

-Bạch Phật, cha con chết rồi chỉ còn mẹ già.

Phật hỏi tiếp:

– Mẹ ông dùng cơm chưa?

– Dạ chưa.

Phật nói:

– Người xứng đáng nhận bát cơm này là mẹ ông chứ không phải Ta.

Sau đó Phật dạy tiếp:

– Người xuất gia còn cha mẹ không ai nuôi dưỡng thì người đó có quyền khất thực đem về cúng dườngcha mẹ.

Ngoài việc cúng dườngcha mẹ, người Phật tử còn có trách nhiệm và bổn
phận cúng dường người tu hành chân chánh, có đạo đức, có nhân cách, suốt đờiphục vụTam Bảo, vì lợi íchchúng sanh.

Tai sao ta phải cúng dường người tu hành chân chánh?

Cha mẹ làm nên thân ta, Thầy Tổ giúp ta biết được điều hay lẽ phải để
vượt quacạm bẫycuộc đời, không rơi vào hố sâu tội lỗi. Vì vậy từ cúng
dường
được dùng đối với các bậc trưởng thượng, tôn kính như cha, mẹ, Thầy, Tổ v.v.. là những người có công nuôi dưỡng, dạy dỗ, chỉ bày, giúp ta nên người. Ngoài từ ngữbố thí, cúng dường còn có nhiều từ ngữ khác như kính tặng, kính biếu… để nói lên lòng tôn kính của người cho. 

Từ ngữ “bố thí” được người Việt Namsử dụng với nhiều ý nghĩa như: cho, tặng, biếu, giúp đỡ, chia sẻ…Tất cả đều mang ý nghĩatốt đẹp của hành động cho.

Khi gặp người nghèo khổ ta thương tình giúp đỡ gọi là cho hay gọi là bố thí cũng được. Người có tâm từ bi rộng lớn không những biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ cho người mà còn giúp các loài vật nữa. Đó là người biết gieo trồng phước đức đúng pháp. Người tu hành theo đạo Phật rất cần thực tập để có được tâm từ bi rộng lớn này.

Con cháu đem vật phẩm nuôi dưỡng ông bà cha mẹ thì gọi là cúng dường phẩm vật, còn ông bà cha mẹ đem của cảivật chất lo cho con cháu thì ta gọi bằng từ cho, giúp đỡ hay chia sẻ. Hoặc người dân bình thường muốn đem phẩm vật cho những người có địa vị trong xã hội thì gọi là kính biếu
hay kính tặng…

Cùng một hành động “bố thí” mà tùy theo đối tượng, tùy theohoàn cảnh, mà ta dùng từ ngữ sao cho phù hợp, để không làm mất đi sự tôn kính, lòng thương cảm của ta.

Phật tử, chúng ta phải học hiểu rõ ràng chỗ này, để dùng từ ngữ không bị sai lệch làm ảnh hưởng không tốt đến hành động bố thí của mình.

Bố thí, cúng dường là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để ta tiêu trừđau khổ, chuyển hóa nghèo cùng khốn đốn, không còn sợ nghèo đóivượt qua nỗi bất ansợ hãi trong cuộc đời như mũi tên chỉ đường, để ta không bị đi lạc.

Hai từ này tuy viết khác, nói khác, nhưng nó cùng một ý nghĩa, tùy theo đối tượng của sự cho (người nhận) mà ta có cách gọi khác nhau để phù hợp, làm đẹp, làm hài lòng cả hai đối tượng cho và nhận mà thôi.

Phật dạy pháp bố thí

Giúp ta gieo trồng phước

Giúp ta bỏ tham si

Để an vui hạnh phúc.

Việc thiện dù nhỏ mà ta chịu khó làm như đức Phật đã làm thì vinh hoa
phú quý sẽ đến với ta trong hiện tại và tương lai. Nhờ bố thí, mà lòng tham lam, ích kỷ của ta được giảm bớt. Nếu chất chứa lòng tham không đáy
sẽ tạo cho ta nhiều tội lỗi, nuôi dưỡng lòng hiềm hận, nỗi bất an, lo sợ nhiều điều trong cuộc sống.

Để xả bỏ lòng tham lamích kỷ, pháp bố thí được xếp hàng đầu trong Lục ĐộPháp Môn. Trong đó, theo thứ tự đức Phật dạy: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền địnhTrí tuệ. Bố là cùng khắp; Thí là cho, dâng, tặng, hiến cúng. Bố thítừ ngữthông dụng để chỉ lòng từ bi của người thực hành.

Trong các trường hợp giúp đỡ người nghèo, người bị thiên tai, hoạn nạn, bịnh tật … ta có thể gọi là cho, tặng hay biếu… Còn con cái giúp đỡ
ông bà cha mẹ thì ta dùng từ ngữ “cúng dường” (đọc trại âm của chữ cung
dưỡng
). Đối với người có địa vị cao trong xã hội hoặc người cao niên, lớn tuổi thì ta dùng từ “kính tặng, kính biếu…” Chung quy, tất cả đều là
hành động “bố thí” được triển khai bằng nhiều từ ngữ khác nhau để sử dụngrộng rãi, phù hợp cho nhiều đối tượng mà thôi.

Từ ngữ “cúng dường” có nghĩa là cung cấp, dưỡng nuôi các bậc tôn kính
như Thầy, Tổ hay ông bà, cha mẹ…những người có công truyền đạtđạo lý làm người, điều hay lẽ phải như ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng đời đời giúp ta an trụ trong chánh pháp, hiểu rõchúng sanh trong lục đạo luân hồi đều là bà conquyến thuộc của nhau trong nhiều đời, nhiều kiếp, cho nên hành động bố thí đối với họ ta phải gọi là cúng dường.

Trong nhà Phật việc bố thí được phân làm ba loại: tài thí, pháp thívô úy thí.

-Tài thí là bố thícủa cảivật chất, tiền bạc cho người.

-Pháp thí là dùng tri thứchiểu biết của mình về chánh pháp hướng dẫn
mọi người về chân lýgiác ngộgiải thoát trên tinh thầnhọc hỏi và cầu tiến.

-Vô úy thí là thí không sợ hãi, bảo vệcông lý, chính nghĩa. Nhờ vào vô úy thí khiến người ta không sợ hãi bằng cách dùng lời nói hay hành động thể hiệnlòng từ bi để dẹp trừ bạo loạn, khủng bố đem lại an lành cho cá nhân, gia đình hay xã hội, bên cạnh còn cổ xúy, tổ chức cho nhiều
người làm việc thiện lành như đi đến những vùng bị lũ lụt, thiên tai, hạn hán, sóng thần, động đất để giúp người đỡ thiếu thốn, xa lìasợ hãi.

Sợ hãi là dấu hiệu phản ứngtâm lý của trạng tháidao động như bất an, lo lắng, kinh hoàng, khủng hoảng xuất hiệntồn tại ở mỗi con người. Có thể nói, từ khi còn tấm bé cho đến tuổi trưởng thành, chúng ta
có quá nhiều nỗi sợ hãi: sợ cô đơn, thiếu ăn, thiếu mặc, bệnh tật, mất mát, chia lìa, nhất là sợ chết và vô vàn nỗi sợ hãi khác.

Chúng ta thường sợ hãi những gì đã xảy ra trong quá khứ hoặc lo sợ điều bất hạnh sẽ đến trong tương lai. Thậm chí, có những nỗi sợ hãi không dính vào đâu hết nhưng ta vẫn cứ sợ. Do đó, “thí không sợ hãi” (
úy thí
) giúp con ngườiđủ sứctự chủđối diện với hoàn cảnhthực tế.

Tại sao con ngườithường hay sợ hãi? Nguyên nhân bắt nguồn từ đâu? Từ
sự không có niềm tin nơi chính mình, không hiểu thấu nguyên lý nhân quả, nghiệp báo, sống phó thác cho số phận… tất cả đều do vô minhchi phối, tạo thành. “Thí không sợ hãi” là phương cách tốt nhất giúp con ngườivượt qua cơn khủng hoảng tinh thần. Có người không vượt qua nổi những cơn khủng hoảng tinh thần, vì quá sợ hãi mà dẫn đến nguy cơ tự tử.

Bồ-tát thực hành “thí không sợ hãi” giúp chúng sanhan bình trong cuộc sống, hiểu rõthực chấtcuộc đời để dễ dàng vượt qua những khổ đau,
bất hạnh. Trong đạo Phật, Quán Thế Âm là vị Bồ-tát phát nguyện lớn thực
hành
“thí không sợ hãi” giúp người không còn sợ hãi thông qua việc nhất
tâm
niệm danh hiệu Ngài: “Nam Mô Đại Từ Bicứu khổcứu nạnQuán Thế Âm Bồ-tát.” Nơi nào có sự khổ và sợ hãi mà niệm câu danh hiệu này thì liền nơi đó có Bồ-tát Quán Thế Âm.

Muốn diệt trừ nỗi sợ hãithực ra không phải là điều quá khó, chúng ta
phải biết cách đối diện với nỗi sợ hãi để nhận diệnchân tướng, mặt mũi
cho rõ ràng rồi tìm nguyên nhân, gốc rễ mà có phương cáchđối trị. “Bố thí không sợ hãi” là phương cách cực kỳ quan trọng để loại trừ khổ đau, sợ hãi. Nó làm cho người nghèo khó không đau khổthiếu thốn, người giàu có không lo sợ bị hao tổn, mất mát tiền tài, của cải.

Tóm lại, thực hành “bố thí không sợ hãi” (vô úy thí) là nguồn phúc lạccung cấp cho mọi người, mọi giới, mọi thành phần, bất luận trẻ già, trai, gái, người sang, kẻ hèn, miễn là người đó phát tâmbố thí với tấm lòng chân thật, không mưu cầu, không vụ lợi ngoài việc vì lợi ích cho tha nhân.

Muốn thực hànhthành côngbố thí phải hội đủ ba yếu tố:

1- Người bố thí (người cho)

2- Vật bố thí ( của cho)

3- Đối tượng bố thí (người nhận)

Nó giống như cái đỉnh ba chân muốn đứng vững không thể thiếu một, vì nếu thiếu một chân thì không phải là cái đỉnh. Thực hành bố thí cũng vậy, nếu ta có vật để bố thí mà không có người nhận thì cũng không thể bố thí được.Vì vậy người bố thí cũng phải biết ơn người nhận bố thí.

 


 

BÀ GIÀ BÁN CÁI NGHÈO


Nói đến sự đau khổ, bất hạnh của con người trên thế gian này thì nhiều vô số kể, ở đây chúng tôi chỉ nói đến cái khổ do nghèo. Vậy ta làm
thế nào để vượt qua cảnh nghèo? Đó là điều mà ai cũng mong muốn và ước
.

Người ta thường đặt câu hỏi: Tại sao mình nghèo mà người khác lại giàu? Không lẽ thượng đế lại sắp đặt như thế sao? Nghèo hay giàu đều có nguyên nhân của nó, không có gì bỗng dưng, khi không mà thành. Do ta không nhận thứcsáng suốt, nhận địnhsai lầm, rồi cho rằng con người sanh ra nghèo hay giàu đều do trời định, số định, nói như vậy là oan cho
trời quá.

Bố thí là sự cảm thông chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần quý kính, tôn trọng vì tình người. Nhờ bố thí ta giảm bớt lòng tham lam, ích
kỷ
nhỏ nhoi và rộng mở lòngtừ bi đối với mọi người.

Biết rõ gốc nghèo khổ

Từ bỏn xẻn mà ra

Muốn không khổ, oán sầu

Phải thực hành bố thí.

Nói đến bố thí, ta không nên nghĩ đến giàu có, nhiều tiền của mới thực hành bố thí. Như ở trên đã nói, bố thí có nhiều cách như bố thí tấm
lòng, bố thílời nói, bố thí sự hiểu biết, hay bố thí hành động của mình… Việc thực hành bố thí cho người thân, người thương thì dễ, còn bố thí cho người mà mình từng oán hận, căm ghét trước đây mới là khó. Chúng
ta
nên học tập hạnh bố thí của Bồ tát: bố thí bình đẵng, không phân biệt đối tượng nào. 

Ngày xưa, đức Phật có người đệ tử tên Ca-chiên-diên đã chứng quả A-la-hán. Trên đường du hóa, ông gặp một bà lão nghèo than vãn sự đói khổ của bà gần tám chục năm. Nghe xong, Ca-chiên-diên giải thíchnguyên nhân cái nghèo của bà và bảo bà hãy bán cái nghèo đi để hết khổ. Bà lão mừng hỏi: “Cái nghèo có thể bán được sao?” Vậy, nếu có ai mua con sẽ bán. Cái nghèo mà bán được thì trên đời này không còn ai nghèo nữa; ai mà không ham bán cái nghèo đi.

Nghèo là do hậu quả của việc không biết bố thí, cúng dường lại hay trộm cướp, lường gạt của người hoặc không biết tiết kiệm, làm một xài mười, hưởng thụ quá mức. Bố thí là cách bán cái nghèo tốt nhất.

Ngài Ca-chiên-diên đã giải thích cho bà lão hiểu rằng, việc giàu nghèo đều có nguyên nhânsâu xa của nó chớ không tự dưng mà bà bị nghèo như vậy. Người nghèo hèn thời nay là do đời trước không biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ với ai. Do đó, thực hành bố thí là cách bán
cái nghèo tốt nhất. sau khi nghe Ngài Ca-chiên-diên giải thích, bà lão cảm thấy những nỗi buồn khổ về thân phận nghèo hèn của mình đều tan biến
trong tâm tưởng. Nhưng nghĩ lại, bà cũng tủi thân vì nhìn quanh mình chẳng có cái gì để bố thí hay cúng dường.

Khi thấy tâm thành kính muốn cúng dường của bà đến cao độ, ngài Ca-chiên-diên mới nói: “Bà lấy cái chén ra ngoài mé sông múc cho tôi chén nước, chắc chắn trong tương lai bà sẽ bán được cái nghèo.

Bà lão hoan hỷ trong lòng, nhanh chân ra sông mang về một chén nước trong, thành kính dâng lên cúng dường cho ngài Ca-chiên-diên. Từ đó bà lão lúc nào cũng cảm thấy trong lòng vui vẻ, hạnh phúc. Và mấy ngày sau bà lão qua đời trong bình an, tự tại.

Do phước báu cúng dường với tâm thành kính, bà lão được sanh lên cõi trời làm một Tiên nữ đầy đủ phước báu muốn gì được nấy. Bà vận dụng thần
thông
trở về trần gian thăm lại cái xác thân nghèo khổ ngày nào nay đang tan rã. Bà thầm cảm ơnPhật pháp, cảm ơn ngài ca-chiên-diên đã hướng dẫn, giúp bà vượt qua kiếp nghèo khổthế gian một cách dễ dàng.

Bây giờ được thân Tiên nữxinh đẹp lộng lẫy, muốn gì được nấy chỉ nhờ
vào công đứccúng dường cho bậc A-la-hán một chén nước sông với tất cả tấm lòng tôn kínhhoan hỷ. Nay trong cảnh Tiên, Bà lập nguyện cúng dườngmãi mãi để tăng trưởng tâm tình thương, lòng hỷ xảnuôi dưỡng phước báu.

thế gian, việc bố thí, cúng dườngruộng phước cho nhân loại. Người có tâm bố thí là tập cho mình có đời sống cao thượng, an vui trong
hiện tạihạnh phúc cho mai sau. Và việc thực hành bố thí, cúng dường
không cần phải người giàu có, tiền dư, bạc hậu mới có thể làm được. Người nghèo khổ, khốn khó, nếu biết cách vẫn có thể thực hành bố thí, cúng dường, tích lũy phước báu thì tai qua, nạn khỏi, có cơ hội sống an vui, hạnh phúctrong đời này và hướng tới một tương lai tốt đẹp

Trong dân gian có câu:” Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.” Không ai phải chịu nghèo hèn mãi mãi. Người biết làm việc thiện, biết bố thí, cúng dường thì cuộc sống sẽ được thay đổi, không đời này thì đời sau. “Ai khó
ba đời” là vậy.

Trong kho tàng ca dao Việt nam cũng có câu: “Ai ơi ăn ở cho lành, kiếp này không gặp để dànhkiếp sau.” Vì vậychúng ta phải cố gắng làm lành, làm thiện, bố thí, cúng dường chứ đừng quan niệm rằng giàu, nghèo là do số trời đã định. Nói như vậy là không đúng, làm gì có ông trời nào
xử sự bất công như thế.

Người có phước báu, đời này được giàu sang, quyền quý, nhưng nếu ta hưởng phước mà không biết thực hành bố thí, cúng dường để tích lũy thêm,
đến khi hết phước làm ăn sa sút hay gặp tai họa thì cũng trở nên nghèo khổ, khốn khó. “Ai giàu ba họ” là ở chỗ này.

Tóm lại, người sanh ra phải chịu cảnh nghèo hèn, khốn khó là do hậu quả của lòng tham lamích kỷ từ nhiều đời, nhiều kiếp và người được giàu
sang
là do kết quả của việc biết làm lành, làm thiện, biết giúp đỡ, chia sẻ, bố thí, cúng dường. Vì cái nhân quả khác nhau ấy, mà trong đời này, con người sinh ra đã có sự bất đồng về mọi phương diện giàu nghèo, tốt xấu, thông minh, đần độn…

Ngừời nghèo khổ dễ khởi tâm oán giận, vì sao? Bởi họ thấy mình luôn khốn khổ gian nan, đầu tắt mặt tối mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thiếu thốn trăm bề, vì vậy họ thường sanh tâm oán giận, căm ghét lung tung, trên trách trời, dưới trách đất, đố kỵ, ganh ghét với người tài cao đức trọng, do đó họ dễ gây ra nhiều điều tội lỗi.

Biết được điều này chúng ta sẽ không than oán, trách móc, đổ thừa tại, bị, thì là, không chịu vươn lên làm lại cuộc đời, cố gắng thay đổi đời sống.

Chúng ta phải biết gieo trồng phước đức, muốn được cái này thì phải có cái kia. Muốn có quả xoài ta phải gieo trồng hột xoài, chăm bón cây xoài, không, ta phải có tiền mới mua được trái xoài đó, nhân quả là vậy.
Nhân quảgiáo lý nền tảng của đạo Phật, ta không gieo nhân mà muốn gặt quả thì không được.

Theo quan niệm của Phật giáo, giàu nghèo không phải ở nơi tiền tài, vật chất mà sự giàu nghèo đặt nặng trên nền tảng của đạo đức, tư cách
tấm lòng. Người có lòng nhân ái, sống biết thương yêu giúp đỡ mọi người, sống có phẩm chất đạo đức và nhân cách tốt thì mới đang quý, đáng
trân trọng, ngược lại, người tuy có tiền của, tiện nghi mà không có được những yếu tố trên thì họ vẫn là người nghèo khổ.

Trong làm ăn, kinh tế, đức Phật dạy rằng, tài sản, của cải ta làm ra nên chia ra làm bốn phần:

– Phần thứ nhất, dùng chi tiêu trong cuộc sống hằng ngày.

– Phần thứ hai, tích lũydự phòng cho hậu sự hoặc chi dùng khi gặp chuyện bất trắc.

– Phần thứ ba, lo việc phụng dưỡng, hiếu sự với ông, bà, cha, mẹ.

– Phần thứ tư, làm việc phước thiện, chia sẻ nỗi khổ đau với những người bất hạnh

Vậy, người nghèo thường oán giận cái gì? Oán giận ông trời bất công. Theo quan niệm của thần quyền, con người phải lệ thuộc vào ai đó. Ai theo truyền thống này sẽ oán giận ông trời, vì số phận họ là do trời sắp
đặt
.

Nếu có ông trời sắp đặtmọi việc như vậy, tại sao ông trời không đem phước lành đến cho con người, để cho thế gian này khổ nhiều hơn vui, người nghèo khổ, bất hạnh nhiều hơn người giàu có hạnh phúc?

Trên thì oán trời, dưới đổ thừa cho xã hội bất công, bởi khi nghèo khổ, túng quẩn, tâm trí, đầu óc thiếu minh mẫn, sáng suốt, lại không chịu suy tư cho chín chắn, nên oán trách lung tung

Có khi oán trách người thân, gặp chuyện không vui ở đâu, về nhà trút đổ nỗi buồn cho cha mẹ, cho vợ con, lỡ khi làm điều phi phápbị bắt vào tù lại đổ thừa tại gia đình, vợ con mà tôi phải làm như vậy. Hoặc khi thất nghiệp không tìm được công ăn việc làm thì oán trách thầy bạn sao không mở lòng giúp đỡ.

Người nghèo khổ thường không biết tu tạo phước đức, bởi phải vất vả mà cũng chỉ kiếm tiền sống qua ngày, do đó đã nghèo lại càng nghèo thêm.
Họ không có điều kiện hay cơ hội giúp đỡ ai, không tích lũy được phước báu, vì vậyoán hận chứa chất trong lòng mỗi ngày càng nhiều thêm.

Vì vậy, trách nhiệm của xã hội là phải quan tâm đến vấn đề của người nghèo nhiều hơn, không những giúp đỡ họ về phương diệnvật chất mà còn phải chăm lo đời sốngtinh thần để họ vơi đi những khổ đau nội kết chất chứa trong lòng. Tốt nhất cho việc làm này, xã hội nên kết hợp với đạo Phật giúp họ hiểu được nguyên nhânsâu xa của bất hạnhnghèo khổ.

Chúng ta có nhiều cách để tạo ra phước đức, về mặt xã hội, ta thực hiện đắp đường, xây cầu, khoan giếng, trồng cây, tạo công viên, hoa viên, lập ra các nơi khám chữa bệnh miễn phí, bệnh viện từ thiện… Còn đối với đạo Phật cần có những trách nhiệm cao hơn, ngoài việc giúp đỡ vật chất còn phải hỗ trợ tinh thần để họ phấn đấu vượt qua mọi khó khăn,
bế tắc cuộc đời.

Tại các chùa hay các cấp của giáo hội cần lập ra các đoàn từ thiện đi
đến vùng sâu, vùng xa thăm hỏi, động viên, trợ duyên cho họ bằng những món quà vật chất với tấm lòng của ít lòng nhiều, khuyến tấn họ đến chùa tu tập, nương theo lời Phật dạy, hướng dẫn họ biết cách gieo trồng phước
báu, không phải chờ đến khi giàu có mới làm phước được.

 


 

BỐ THÍTÙY DUYÊN


Có một gia đình muốn mở tiệc nhân ngày sinh nhật của đứa con, nhưng nhà quá nghèo không biết xoay sở sao cho đủ phương tiện đãi khách.

Còn khoảng một tháng nữa là tới ngày sinh nhật, nhà có nuôi một con bò sữa, nên gia đình muốn bữa tiệc hôm ấy phải có món sữa bò tươi, thế là hai vợ chồng nhất trí từ nay đến ngày sinh nhật con, không vắt sữa hàng ngày nữa, mà để dành đến ngày sinh nhật con vắt luôn một thể.

Đến ngày sinh nhật, hai vợ chồng vui mừngtin chắc rằng, gia đình sẽ vắt được rất nhiều sữa đãi khách. Nào ngờ, cả hai vợ chồng cố vắt mãi, nhưng chẳng được giọt sữa nào. Hai vợ chồng buồn bã, hỡi ôi! Xem như trận này gia đình mất “cả chì lẫn chài,” uổng công cả tháng trời để dành, mà nay con bò không cho lấy một giọt sữa. Và cũng từ đây, con bò bị tắt sữa luôn, không có khả năng sản xuất sữa được nữa, vì lâu ngày không vắt sữa. 

Câu chuyện trên đã cho ta một kinh nghiệm sống trong cuộc đời. Với quan niệm chờ cho có nhiều tiền rồi mới thực hành hạnh bố thí không khác
gì chuyện để dành sữa ở con bò, không có cơ hội có sữa. Nếu ta muốn thực hành bố thí mà nghĩ như vậy thìsuốt đời, suốt kiếp ta không giúp gì được cho ai, vả lại, nó sẽ làm lép đi hạt giốngtừ bi trong ta. Bố thí có nhiều cách, nếu khôngtiền của, thấy người khác bố thí, cúng dường ta sanh tâm hoan hỷ, vui theo thì ta và người bố thí đều có phước báu bằng nhau.

Ngày xưa, có một vị Tỳ-kheo nghe nói như vậy, mới thắc mắc hỏi đức Phật: Người bố thí, cúng dường có phước là lẽ đương nhiên, còn người tùy
hỷ
vui theo tại sao có phước ngang bằng? Đức Phật đưa ra một ví dụ: Có người đang đốt một ngọn đèn, rồi có hàng trăm người đem đèn tới mồi theo. Ta thấy, ngọn đèn kia vẫn cháy sáng không mất, và hàng trăm ngọn đèn khác cũng được cháy lên tỏa sáng khắp nơi.

Cũng vậy, người cúng dường được phước giàu sang trong hiện tạimai
sau
là lẽ đương nhiên rồi. Còn người tùy hỷ khi thấy người khác thực hành bố thí, cúng dường, không sanh tâm tật đố, ganh ghét được phước không nóng giận, bởi nóng giận dễ dẫn đến hận thù, rồi tìm cách trả đũa không có ngày dứt. Do không ganh ghét, tật đố, oán giận nên người ấy sống được an lành, hạnh phúc. Vì thế đức Phật nói hai người phước báu bằng nhau là như vậy.

-Bố thí có hai dạng: Bố thítrong sạchbố thí không trong sạch.

-Bố thí vì cầu danh muốn ai cũng biết đến mình, thấy mình là trung tâm của vũ trụ mình hơn người không ai bằng.

Hoặc vì ganh ghétbố thí, bố thí cho bỏ ghét, hoặc bố thí vì muốn dụ dỗ người ta mê hoặc lòng người, bố thí để chứng tỏ mình là người giàu
hơn người hay bố thí để lấy lòng cấp trên. Nói tóm lại tất cả hành vibố thítư lợicá nhân, vì tâm xấu xa, ích kỷ, vì tâm muốn hơn người được gọi chung là bố thí không trong sạch. Còn các hành động bố thí:

– Vì thương người mà cho,

– Vì bổn phận mà cho,

– Vì hy sinh mà cho,

– Vì giác ngộ mà cho.

Thực hành bố thí như trên là vì lợi ích cho người được gọi là bố thítrong sạch, ta vì tâm từ bi, vì lòng thương người mà bố thí, không có tâm mong cầu người biết ơn hay đền ơn đáp nghĩa. Người bố thícúng dường
với tâm bình đẳng không phân biệtthân sơ, tùy duyêncúng dường giúp đỡ
không tính toán lợi hại thì mới được phước báu không thể nghĩ bàn.

Tóm lại, người bố thícúng dường với tâm bình đẳng, không phân biệtthân sơ, tùy duyênbố thícúng dường thì người đó được gọi là người đại bố thí hay đại thí chủ.

 


 

BỐ THÍ VỚI TÂM THÀNH


Thời đức Phật còn tại thế, có một trưởng giả Tu-đạt là nhà giàu nhất nước Kiều-tát-la do vua Ba-tư-nặc trị vì. Một hôm, sau chuyến buôn hàng sang nước Ma-kiệt-đà, mua bán xong ông về nhà người anh rể nghỉ ngơi. Thường lệ, khi ông về tới, mọi người trong nhà đều ra ngõ đón tiếp ân cần, nhưng hôm nay ông thấy không ai để ý đến ông cả, thật lạ lùng. Ông lấy làm ngạc nhiên hỏi người anh rể, thì ra cả nhà đang bận rộn việc chuẩn bị đồ ăn, thức uống để cúng dường 1250 vị Tỳ-kheo trong Tăng đoàn của đức Phật. Lần đầu tiên nghe đến đức Phật, Tu-đạt thắc mắc với người anh rể:

 – Phật là gì mà mọi ngườitôn kính đến thế?

Người anh rể bảo rằng:

Đức Phật trước đây là Thái tử Tất-đạt-đa, con vua Tịnh-phạn và Hoàng hậu Ma-da, ông là người được kế thừa ngôi vua, mà ông từ bỏ ngôi vị, cung điện nguy nga, vợ đẹp, con xinh xuất giatu hành, nay đã chứng quả Bồ-đề Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Tu-đạt nghe qua, bổng trong lòng cảm thấy bồn chồn muốn được gặp đức Phật ngay tức khắc, nhưng lúc này là ban đêm, trời tối đành để lại sáng mai. Vì mong mỏi gặp đức Phật nên cả đêm hôm ấy ông thổn thức trong lòng
không thể nào ngủ được.

Tờ mờ sáng hôm sau, ông đã có mặt tại Tịnh xáTrúc Lâm, nơi đức Phật tịnh dưỡng. Vừa vào tới, ông nghe một giọng nói trầm hùng: “Này Tu-đà Cấp Cô Độc, thời cơ đã đến rồi đó.” Tu Đạtrất đỗingạc nhiên, tại sao cái tên Tu-đà của ta chỉ có người trong gia tộc ta mới biết và không ai được gọi, thế mà ở đây lại có người biết và gọi mình cái tên này? Tu Đạt
nghĩ rằng, hay là ở đây có người bậc trên của gia tộc mình? Trong lúc còn đang ngơ ngẩn, ông thấy một người tướng mạotrang nghiêm, điềm đạm đi tới gần ông và nói rằng:

– Ta là người mà ông muốn gặp đây.

Tu-đạt liền quỳ xuống đảnh lễđức Phật, trong lòng cảm thấy dấy lên niềm phấn khởi vô biên đến rơi nước mắt. Và ngay lúc đó, ông được đức Phật khai thị pháp môncăn bản cho người tại gia.

Nghe xong bài pháp, Tu-đạt Cấp Cô Độcchứng quả Tu-đà-hoàn, nghĩa là được vào dòng Thánh, không còn đọa lạc trong ba đường dữ: địa ngục, súc sanhngạ quỷ. Sau đó ông phát nguyệnquy y Tam Bảo, giữ năm điều đạo đứcphát tâmcúng dườnghộ trì Tam Bảo, suốt đời giúp đỡ người nghèo khó. Nhờ tín tâmthuần thục, ông xin đức Phật cho xây dựng một Tịnh xá lớn để chư Tăng có chỗ tu hành. Đức Phậtchấp nhận lời thỉnh cầu của ông. 

Cấp Cô Độc có nghĩa là cung cấp sự cần thiết cho người cô độc, côi cút, không nhà cửa, không người nuôi dưỡng, nghèo khổ. Trong đời, ông vốn cũng đã có lòng nhân từ, thường giúp đỡ người không phân biệt thân, sơ. Đến khi gặp đức Phật, ông càng mở rộnglòng nhân từ.

Từ đó, ông đi tìm mua một khu đất rộng rãi, địa điểm thuận lợi, để xây dựng một Tịnh xá lớn cho chư Tăngtu tập, hành trì. Ông tìm mãi mà không thấy nơi nào vừa ý ngoài khu vườn của Thái tử Kỳ-đà con vua Ba-tư-nặc. Biết Thái tử không bao giờ bán đất, nhưng vì quá ưa thích, ông bạo gan đến hỏi mua, Thái tử Kỳ-đà bảo rằng:

– Tôi sẵn sàng bán khu vườn cho ông với điều kiện ông về đem vàng miếng trải đến đâu tôi bán đến đó.

Không ngờ, Cấp Cô Độcđồng ý, cho người nhà chở vàng đến lót gần kín khu vườn, chỉ còn một khoảnh nữa là xong. Trong lúc chờ người nhà chở vàng đến tiếp, ông đứng trầm tư, Thái tử Kỳ-đà đến hỏi:

– Ông tiếc của hay sao mà đứng ngẫn người ra như thế?

Cấp Cô Độctrả lời:

– Thưa Thái tử, không phải thế đâu. Tôi đang tính xem lấy vàng ở kho nào cho thuận lợi mà.

 Nghe vậy, Thái tử Kỳ-đà cảm phục tấm lòng cao cả của ông đối với đức PhậtTăng đoàn, Thái tửtuyên bố:

– Kể từ giờ phút này, đất khu vườn này thuộc về ông, ông được quyền xây dựngTịnh xá cho chư Tăngtu tập, tôi chỉ nhận số vàng theo giá trị đất, còn rừng cây trong vườn tôi xin dâng cúng cho Tăng đoàn của đức Phật.

 Ngày nay, đọc các bản kinh, chúng ta thường thấy: Tôi nghe như vầy, một thời Đức Phật ở rừng cây Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc…Đâychính
Tịnh xá trong khu vườn do Cấp Cô ĐộcThái tử Kỳ-đà cúng dường. Đặc biệt, trong 49 năm thuyết pháp, đức Phật đã trú tại Tịnh xá này trong 25 mùa An cưkiết hạ.

Nói về Trưởng giảCấp Cô Độc sau khi gặp đức Phật, ông luôn hết lòngtôn kínhcúng dườngTam Bảo và giúp đỡ người cô độc bần cùng với lòng chí thành chí kính của mình. Suốt mấy chục năm thực hành bố thícúng dường, cuối cùngtài sản nhà ông cũng cạn kiệt, như trăng sáng đến lúc tàn, như bị lũ lụt cuốn trôi, ông hết gia tàisự nghiệp, cho đến khi cả nhà ông phải dùng cháo thay cơm mỗi bữa, nhưng ông vẫn sớt bớt phần ăn của mình để cúng dườngchư Tăng, mặc cho đức Phật khuyên ông không nên cúng dường nữa.

“Sau cơn mưa trời lại sáng,” “hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai,” chẳng
bao lâu sau, gia đình ông làm ăn mua bán trúng mùa, làm gì trúng nấy, lợi nhuận thu được nhiều vô số kể, ông có lại tài sảncủa cải nhiều hơn số tài sản, vàng bạc bị cuốn trôi theo dòng thác thực hành bố thí, cúng dường trước đây. Và ông tiếp tụcthực hành bố thí, cúng dường như trước.

Đạo lýnhân quả nhà Phật giúp ta sáng ngời tình nhân loại trong hạt giốngtừ bi của hạnh bố thí. Đó là hạt nảy mầm quả giác ngộgiải thoát. Qua đó, ta thấy hành động bố thí quan trọng ở tâm chân thành và lòng kính cẩn như trường hợp của Cấp Cô Độc, một lòng gieo duyên với ruộng phước lớn. Và ông đã chứng quả “bất thoái chuyển” ngay trong hạnh này.

Chúng ta không nghi ngại gì cả, phát tâmbố thícúng dường là gởi tiền vào ngân hàng “Nhân quả” được bảo toàn nguyên vẹn lại được sinh lời, khi nào ta cần ngân hàng “nhân quả” này sẽ chi cấp cho ta sử dụng không để ta thiếu thốn.

Trở lạicâu chuyệnThái tử Kỳ-đà và Cấp Cô Độc, khu vườn của Thái tử Kỳ-đà là nơi lý tưởng để xây dựngTịnh xá, nhưng Thái tử Kỳ-đà giàu có đâu cần tiền, đâu cần bán đất, nên Thái tử nói thách cao như vậy để Cấp Cô Độcthối tâm, thối chí. Không ngờ Cấp Cô Độcđồng ý. Thái tử Kỳ-đà bàng hoàngsửng sốt khi thấy Cấp Cô Độc chở nhiều xe vàng đến lót gần kín đất khu vườn, làm cho Thái tửđộng lòngtrắc ẩn, vui vẻ bán khu vườn, nhưng không nỡ nhận đủ tiền bán cả đất lẫn vườn cây, mà Thái tử chỉ nhận tiền đất còn rừng cây ông phát tâmcúng dường cho đức Phật. Đây
tịnh xá thứ hai sau khi Phật thành đạo, và thứ nhất là Trúc Lâm Tịnh
do vua Tần-bà-sa-la cúng dường tại thành Vương-xá.

Ngoài việc mua đất xây dựngTịnh xá, Tu-đạt còn thường xuyêncúng dườngtứ sự cho chư Tăng. Ông phát tâmcúng dườngTam Bảo không mệt mỏi,
nhàm chán, ông còn luôn bố thí giúp đỡ những người cô độcnghèo khó không nơi nương tựa. Vì vậy, ông được quần chúngnhân dân tặng danh hiệuCấp Cô Độc.

Trong lịch sửPhật giáo, Cấp Cô Độc là tấm gương sáng về hạnh bố thícúng dường để chúng tahọc hỏi noi theo. Con người muốn hoàn thiện nhân cách, lối sống, đạo đức … phải có sự học hiểu và tu tậphành trì. Người có niềm tin sâu vào Tam Bảo, được chứng quảbất thối chuyển, người đó dù
có gặp nghịch cảnh, khó khăn như thế nào, họ cũng giữ vững tấm lòng tốt
của mình. Cấp Cô Độc là người như vậy, cho nên từ ngày ấy cho đến bây giờ mọi người, mọi giới, mợi thành phần đẵng cấp trong xã hội ngưỡng mộ,
đều quý kính Ngài.

Bố thícúng dườngcon đường dẫn đến tình yêu thươngnhân loại ngày
thêm sâu sắc, gần gũi, gắn bóvới nhau hơn và sự giúp đỡ, sẻ chia cùng nhau là cách thức xóa bỏân oánhận thù để ngồi lại bên nhau, dùng tình thươngxây dựngcuộc đời.

Bố thícúng dường là nấc thang đầu tiên của hàng Bồ-tát để từng bước tiến lên con đườngPhật đạo. Nhờ bố thícúng dường mà tâm ta được an lạc, thảnh thơi, thấy ai cũng là người thân thương của mình, không còn thấy ai là kẻ thù, nên mọi người dễ dàng gắn bóyêu thương hơn.

Trong dân gian Việt Nam thường nói “Ăn thì hết, cho thì còn.” Câu nói
này nghe như ngược đời, nhưng thực tế quả thực không sai, cái gì ta tiêu xài, hưởng thụ cho riêng mình thì không còn, cho nên nói “ăn thì hết.” Còn cái gì ta đem giúp người thì đó mới là cái để dành, cho nên nói: “cho thì còn” là vậy.

Phật dạy, người biết gieo trồng phước đức thì trong hiện tại và tương
lai được đầy đủ, giàu có như ta có tiền gửi ngân hàng rút dần ra xài, còn người không biết gieo trồng phước đức thì như người có đồng nào xài đồng nấy, luôn phải chịu nghèo khó, vất vảcả đời mà chẳng có của dư.

 


 

TÀI THÍ, NỘI THÍ


 Tài thílà dùng phương tiện tiền bạc, của cảivật chất chia sẻ cho người nghèo khổ, thiếu thốnbất hạnh.

Nội thí bố thíchi phần trong thân thể mình như hiến máu,
hiến các bộ phận của cơ thể để cấy ghép chữa bệnh cho người khác hay hiến xác cho khoa học v.v…Người bố thí bằng hình thức nội thí tức là thực hành Bồ-Tát đạo. Đức Phật đã từng kinh qua thực hành Bồ-Tát đạo, trong một kiếp quá khứ, Ngài đứng trên núi trông thấy một con cọp mang thai bị đói, không săn được mồi, thương cho tình cảnh con cọp sẽ bị chết
trước khi sinh con, Ngài từ trên cao nhảy xuống làm thức ăn cho cọp. Nhờ đó con cọp được khỏe lại đi tìm thức ăn và sinh con vẹn toàn.

Việc thực hànhtài thí (bố thítài sản) là việc dễ dàng, ai cũng có thể làm được, nhưng việc thực hành nội thí (bố thí thân xác) là việc khó
làm hơn, rất hiếm có ở thế gian. Ngày nay với nền khoa học hiện đại, việc bố thí bộ phận cơ thể người hay hiến xác cho khoa học tương đốiphổ
biến
, chứ ngày xưa chỉ có các bậc Bồ-Tát mới thực hànhhạnh nguyện này nhờ vào lòng Từ Bi cao cả mới dám xả thânvì lợi íchchúng sanh như đức Phật.

Thực hành bố thí với tâm chân thành, hoan hỷđúng lúc thì mới đạt đượcgiá trị cao như người khát cần nước, người rét cần lửa, kẻ trần truồng cần y phục…Thực hành bố thí với tâm vô lượng và đúng thời, đúng lúc như vậy, theo Kinh Pháp Hoa thì cả người cho và người nhận đều được lợi lạc.

Khi bố thí giúp người

Mặt thân tâmvui vẻ

Cảm ơn người đã nhận

Chẳng cần cầu đáp nghĩa

Người nhận vật bố thí

Hoan hỷ vì được của

Người thí hạnh phúc hơn

Vì gieo được phước lành.

Theo lời Phật dạy, sự sống trong vũ trụ này luôn được gắn bóvới nhau
từ con ngườicho đến muôn loài. Cho nên, nhân quả ở người làm phước cũng rất đa dạng như có người dệt vải ta mới có áo mặc; có người làm ruộng ta mới có cơm ăn v.v… Người xuất gia theo đạo Phật thọ nhận vật phẩm cúng dường của Đàn-na tín thí để nuôi sống bản thân tức là đang vay
nợ theo luật nhân quả. Vậy người xuất gia trả nợ bằng cách nào? Người xuất gia phải tu hành miên mật, chân chính, hướng dẫn cho Phật tửbiết điều hay lẽ phải, tránh xa tội lỗi, đó là cách trả nợ cao thượng cho Đàn-na tín thí, còn nếu không làm tròn trách nhiệm, bổn phận, người xuất
gia
cũng phải trả món nợ này theo định luậtnhân quả.

 


 

NHÂN QUẢ NHƯ HÌNH VỚI BÓNG


Thuở quá khứ, có năm người giả làm Tỳ-kheo, lạm dụng sự cúng dường của Đàn-na tín thí để nuôi sống bản thângia đình. Sau khi chết, họ tái sanhtrở lại làm người thân phận nghèo hèn. Cả năm người đều phải ở đợ, phục dịch cho gia đình Hoàng hậu Mạt-lợi, phu nhân vua Ba-tư-nặc.

 Một hôm, ở Tịnh xá có lễ cúng dườngchư Tăng, Hoàng hậu Mạt-lợi đến dự, dẫn theo đoàn tùy tùng giúp việc, phục dịch cho bà. Sau khi các Phật
tử
cúng dườngtứ sự, đảnh lễgiáo đoànNhư LaiThế Tôn xong, Mạt-lợi phu nhân ngồi sang một bên, cung kínhđảnh lễ bạch hỏi đức Phậtnguyên nhân vì sao bà được làm Hoàng hậu.

 Đức Phậtcho biết, trong đờiquá khứ, bà là một Phật tửthuần thành,
tín tâmcúng dường cho năm thầy Tỳ-kheo với lòng chí thành, chí kính, nhờ phước báu đó, ngày nay bà được sanh vào gia đìnhquyền quý và được tại vị trên ngôi Hoàng hậu mẫu nghithiên hạ.

Nhân đây đức phật cũng cho bà rõ là năm vị Tỷ-kheo được bà cúng dường
đời trước không phải là thầy tu thật, mà năm vị giả làm Tỳ-kheo để ăn của cúng dường. Do vì nghiệp báo giả làm Tỷ-kheo, lạm dụng tài vật cúng dường của đàn-na tín thí để nuôi thân và gia đình. Cho nên, đời nay năm người ấy được sanh lại làm người phải chịu thân phận kẻ nghèo hèn. Năm người đó nay đang có mặt trong đoàn người giúp việc, phục dịch cho Hoàng
hậu đang đứng bên ngoài.

Nghe đức Phật nói vậy, Hoàng hậu Mạc-lợi với lòng từ bi và đức khoan dung, muốn phóng thích năm người đó ra khỏi đoàn tùy tùng để tự do làm ăn, bà xin đức Phậtcho biết danh tánh của năm người ấy. Đức Phật bảo, đó là bốn người khiêng kiệu và người lo vệ sinh riêng cho bà đấy.

Vừa nghe, bà giật mình, liền ra lệnh cho năm người ấy tự do đi tìm công việc làm ăn sinh sống, nhưng họ không biết phải làm gì và đi đâu, nên cả năm người đều xin ở lại phục vụ cho bà suốt đời. Đó là cách trả nợ theo luật nhân quả của người xuất gia không tu hành đàng hoàng. 

Qua câu chuyện, ta thấy thực hành bố thí, cúng dường với tâm thành kính và hoan hỷ cho thầy tu giả dối mà vẫn được phước lớn như vậy huống hồ gì là cúng dường cho các vị cao Tăngtu hành chân chánh hay các vị Thánh Tăng thì phước lực không thể nghĩ bàn. Cho nên, trong kinh có ví người cúng dường như con dao, người nhận cúng dường như cục đá mài, hành
động cúng dường như việc mài dao. Dao càng mài càng sắc. Đá càng mài càng mòn.

Phật tửchúng ta, ai may mắn gặp được các vị Thánh Tăng, mà phát tâmcúng dường thì sẽ được phước báu vô lượng, vô biên không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên, trong thời hiện đại, khoa học văn minh, vật chất ngày càng cao, lại vì đời của ta bị nghiệp vô minh vốn huân tập từ nhiều đời, nhiều kiếp che khuất, nên việc tìm một vị chân tu đạo cao, đức trọng không phải dễ. Do phước mỏng, nghiệp dày, nên ta thường gặp và gần gũi với phàm phu Tăng là nhiều, bởi họ tu học tới đâu, hướng dẫn chúng tatu
hành
theo tới đó.

 Vì vậy, chúng taphát tâmcúng dường cho chư Tăng trong hiện tại là điều cần thiết, trách nhiệmnhân quả của họ và ta vẫn luôn công bằnghợp lý, dù trăm ngàn kiếp cũng không bị mất đi hay sai lệch. Đến khi hội
đủ điều kiện thì phước báu của ta sẽ trổ ra và khi kết quả của việc tu tập, thực hành hội đủ nhân duyên thì việc chứng quả của họ cũng sẽ tự hiện.

Ngoài cách trả nợ như trên, người xuất gia còn phải trả nợ bằng nhiều
hình thức khác. Ví như người xuất giatu hành không cầu giác ngộ, giải thoátlạm dụng màu áo tu hành để làm chính trị, làm cho người đệ tử mất tín tâm đối với Tam Bảo, hạn chế phát triển đạo đứctâm linh, khiến nhiều Phật tử mất niềm tin, thoái tâm Bồ-đề, trở lại làm điều phi nghĩa,
thất đức, gây tổn hại cho ngừơi và vật, phạm điều giới cấm của Phật.

Tuy hiện đời dường như họ có phước, nhưng đến khi hết phước thì họa tới khôn lường, chắc chắn ngày sau họ phải đọa vào loài súc sanh để trả món nợ này. Bởi nhân quả là một định luật tất yếu, chúng ta có thể qua mặt luật lệthế gian, nhưng không thể nào trốn tránh được nhân quả “gieo
gió gặt bão.” Là hành giảPhật giáo, chúng ta phải suy nghĩ kỹ chỗ này,
đừng để đến khi mang lông, đội sừng thì hết đường cứu, phải chịu nghiệp
làm súc sanhđời đời, kiếp kiếp để trả nợ.

 


 

THỰC HÀNH PHÁP THÍ


Thế nào là pháp thí? Là truyền đạt đến người những điều hay, lẽ thật,
giúp cho họ hiểu được đạo lý làm người, cách sống ở đời sao cho có đạo đức, nhân cách, đúng pháp luật, biết thương yêu người và vật.

Trong nhà Phật, việc dịch thuật, ấn tống kinh sách, thuyết pháp, truyền giảng những lời Phật dạy đến với mọi người được gọi là bố thí pháp. Trong các công đức, bố thí phápphước đức rộng lớn, thù thắng hơn hết. Bởi bố thí pháp là ban bố đến người lời nóichân thật, chân lý,
vui vẻ, hòa giải và đoàn kết có lợi íchthiết thực cho đời sốngcon người. Những điều này có thể cứu khổ, mang lại hạnh phúc cho người nghe.
Pháp là chân lý, là lời dạy phù hợp với lòng người, người nghe pháp sẽ dứt ác làm lành. Pháp thílợi íchlâu dàicông đức lớn lao, giúp người hiểu rõsự thật cuộc sống, bớt mê lầm, hiểu thấu nhân quả, nghiệp báo, biết tránh xa những điều tội lỗi.

Thời Phật còn tại thế, một số đệ tử của Ngài sau khi nghe giảng liền chứng quả, bởi vì các lầm lạcsi mê nhiều đời, nhiều kiếp của họ được chuyển hóa tận sâu trong tâm thức, biến xấu thành tốt, biến khổ đau thành hạnh phúc, thay đổi cuộc đời tăm tối bằng ánh sáng giác ngộ. Rồi họ đem chân lý ấy truyền đạt rộng khắp cho nhiều người biết được việc thành bại. khổ đau, hạnh phúc trên đời này đều do tâm tạo tác. Nhờ đó, họ mau đến chỗ giác ngộgiải thoáthoàn toàn.

Phật pháp hay cứu khổchúng sanh nhiều đời lầm lạcsi mêchấp ngã.
Nhờ học Phật pháp ta phá vỡ, lột bỏ được những thành trì kiến chấp, mê lầmhuân tập từ nhiều đời, nhiều kiếp.

Pháp thí là đem những lời dạy chân lý, tốt đẹp của đức Phật truyền đạt đến mọi người, là điều cần thiết để xây dựng một xã hộitốt đẹp, an vui, hạnh phúc. Sở dĩ trên thế gian này luôn xảy ra nhiều tệ nạn xã hội như giết người, cướp của, trộm cắp, tham nhũng, bóc lột, quan liêu cửa quyền, ganh ghét, hận thù, sống không có luân thườngđạo lý, đều do không hiểu biết về chân lýcuộc đời. Vì vậy ta cần phải học và hành trì những lời Phật dạy.

Pháp thí chân chánh hay giúp cho người biết được điều hay, lẽ phải, thấu rõ lý chân thật của cuộc đời, từ đó, con người làm chủ được bản thân, tạo nên cho mình cuộc sống tốt đẹp, không lệ thuộc vào những điều mơ hồ như thần linh, thượng đế hay một đấng quyền năng nào cả.

 


 

VÌ PHÁP QUÊN MÌNH ĐƯỢC NGỘ ĐẠO


Thuở xưa, A-dục là một ông vua độc ác, nhờ gặp Phật pháp, ông cải tà quy chánhtrở thànhđệ tử nhà Phật. Ông thường xuyên cung thỉnh chư Tăng
vào cung thuyết giảngPhật pháp cho cung phi mỹ nữ nghe, nhưng cấm họ nhìn thấy vị pháp sư. Vì vậy, mỗi lần thuyết giảng, vị Pháp sư phải ngồi
sau một tấm màn che. Hôm ấy, vị Pháp sư đang giảng đề tài “Lợi ích cúng dường”
bổng một cung nữđứng dậy tiến đến vén tấm màn che và quỳ trước pháp
thưa rằng: “Kính bạch pháp sư, con nghe nói đức Phậtthành đạo dưới cội
bồ-đề nhờ thiền địnhgiác ngộgiải thoát, không phải do tu bố thí trì giới?”

 Vị pháp sưgiải đáp: “Đời người có bốn cái khổ gọi là Tứ đế: sanh, bệnh, lão, tử. Khổ vì xa lìa người thương, khổ vì gặp người không ưa, khổ vì mong cầu không được, Khổ vì điều không muốn mà đến. Chúng sanh do
tham, sân, si và chấp ngã, thấy mình là trên hết nên sanh ra thù hận, tàn sát lẫn nhau”.

Sau khi nghe vị Pháp sưgiảng giải, người cung nữ này ngộ đạochứng quả Tu-đà-hoàn. Cô biết mình vén màn nhìn vị Pháp sư để hỏi đạo
phạm lệnh cấm của vua, nên khi hết thời giảng, mọi người ra về, cô vẫn quỳ tại chỗ chờ vua ban lệnh xử tội. Phạm lệnh cấm của vua, theo luật triều đình lúc bấy giờ là phải bị tội chết.

Vua A-dục từ khi cải tà quy chánhtrở thànhPhật tử, ông không ban xử
tội chết nữa. Vì vậy, cô cung nữ ấy không bị xử tội, lại được vua ban lời khen và khuyến khích mọi người nên bắt chước cô tìm hiểu, học Phật phápcố gắngáp dụngtrong đời sống hằng ngày cho có kết quả.

Qua đó, chúng ta thấy Phật pháp có khả năng nâng đỡ những ai vấp ngã,
xóa tan bóng tối mê lầmtội lỗi, đem ánh sáng giác ngộ đến cho muôn loài. Nếu người cung nữ đó không dám quên mình vì pháp, làm sao nhận ra được đạo lý chân thật? Làm sao giác ngộ và chứng được Tu-đà-hoàn, một quả vịgiá trị cao đối với đời sốngcon người.

Cũng như bản thân tôi, nhờ gặp được Phật pháp mới có đủ duyên tu hành. Bây giờ tôi mới có cơ hội chia sẻ cùng quý vị những lời Phật dạy. Nếu chúng ta không dám chấp nhận những lỗi lầm, sai trái của mình trước đây, để quay về, để làm mới cuộc đời thì chắc chắnsuốt đời ta phải sống
trong đau khổ lầm mê. Vì vậy, trong các hạnh bố thí, chỉ có bố thí pháp
mới giúp cho người vượt qua biển khổ, sông mê, khiến người bỏ ác làm thiện, hướng đến chân, thiện, mỹ, tin sâu nhân quả, nghiệp báo không dám
làm điều xấu ác.

Pháp thí dứt phiền não

Pháp thíphá ngu si

Pháp thí mở trí tuệ

Pháp thí thoát sanh tử.

Thực hành Pháp thí giúp người sanh trí tuệ, thấy biết đúng như thật. Nhờ có trí tuệ, ta bớt lầm mê, chấp thân này là thật, nên vì thân này mà
tạo ra biết bao tội lỗi để bù đắp cho thân như tranh giànhquyền lợi, chèn ép, bóc lột công sức lẫn nhau, giết hại các loài để ăn uống tẩm bổ cho thân, mong cầu tồn tạilâu dài, nhưng rồi có bao giờ được thỏa mãn, toại nguyên đâu. Nhờ Pháp thí, ta mới hiểu được thân này là không thật có, nó có là do bốn đại hợp thành, tức là do nhân duyênhòa hợp của đất,
nước, gió, lửa tạo thành, đến khi hết duyên thì thân này bại hoại tan rã.

 


 

CÚNG DƯỜNG ĐƯỢC PHƯỚC


Trong Kinh TứThập Nhị Chươngđức Phật dạy:
Bố thí cho người ác hưởng không bằng cúng dường cho người giữ năm giới.
Cúng dường cho người giữ năm giới không bằng cúng dường cho người tu thập thiện (mười điều tốt.) Cúng dường cho người tu thập thiện không bằng cúng dường cho Phật. Ý nghĩa câu này là chỉ cho sự lợi íchcúng dường đúng cách. 

Thời đức Phật, có hai vợ chồng là Phật tử rất tín tâmTam Bảo, nhưng hoàn cảnhgia đình lại nghèo khó, bữa đói, bữa no. Một hôm, người chồng đến chùa thấy nhiều người đem vật thực đến cúng dườngTam Bảo, anh phát tâmhoan hỷvô cùng.

Về nhà, anh thấy nhà mình quá nghèo, không có cái gì có thể mang đến chùa để cúng dường, anh ta tủi thân, buồn rầu, đau khổ, đến nỗi anh ta không muốn ăn, chẵng muốn làm. Người vợ biết được, bèn đưa ra ý kiến: hay là anh đem em bán đi lấy tiền cúng dường, khi nào có tiền thì anh chuộc em về. Người chồng suy nghĩ, thấy làm như vậy thì quá nhẫn tâm, nên cả hai vợ chồng bàn nhau đi vay tiền cúng dường, nếu không trả nỗi thì đến ở đợ làm việc cho họ để trừ nợ.

Sau khi suy tính, chọn lựa, hai vợ chồng đến một nhà phú hộ trong làng trình bày sự việc, được nhà phú hộđồng ý cho vay một số tiền với điều kiện trong bảy ngày phải mang tiền đến trả. Nếu không thì cả hai vợ
chồng phải đến đây làm việc ở đợ suốt đời.

Nhận được tiền, hai vợ chồng vui mừngmang đếncúng dường cho lễ Trai
Tăng
với tâm thành kính và hoan hỷ. Mấy ngày sau, hai vợ chồng đều cảm thấy thật hạnh phúc được góp phần vào công đức này, sẵn sàng tinh thần đến nhà Phú hộ ở đợ vào ngày mai thì hôm ấy nhà vua hay tin nhà chùa thiết lễ cúng dườngTrai Tăng, Ngài thân hành đến chùa xin được cúng dường cho lễ này. Sau khi được biết đã có hai vợ chồng nhà nghèo cúng dường, nhà vua yêu cầu hai vợ chồng phải nhường phần cúng dường lễ này cho Ngài. Hai vợ chồng nhà nghèo nghe lệnh vua như vậy, bèn đến trình bày: Chúng con nhà quá nghèo, may mà có nhà phú hộ trong làng cho vay tiền cúng dường, xin nhà vua để cho chúng con lo trọn, chứ lần này con không được cúng dườngTam Bảo thì e rằng suốt đời, con không có cơ hội nào nữa. Chúng con phải đi ở đợ làm việc suốt đời cho nhà phú hộ để trả món nợ này. Xin đức vua nhân từ ban ân, để chúng con được làm trọn công đức với Tam Bảo.

Tuy bị từ chối, nhưng nhà vua rất cảm phục tấm lòng cao thượng của hai vợ chồng. Về triều, nhà vua đem chuyện này thuật lại cho các quan quân, quần thần nghe, ai cũng đem lòng cảm phục. Và Ngài truyền lệnh cấp
phát tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn cho hai vợ chồng làm ăn sinh sống để
có cơ hội làm việc phước thiện. Từ đó hai vợ chồng trở nên giàu có, tin
sâu Tam Bảo hơn, thường xuyênphát tâmbố thí, cúng dường và nguyện đời
đời
kiếp kiếpđi theocon đườnglợi ích cho tha nhân.

Thật là “nhân quả nhãn tiền,” người thực hành bố thícúng dường với tâm thành kính, hoan hỷ, dám hy sinh như hai vợ chồng trong câu chuyện thật là hiếm thấy trong thời chúng ta.

Một vị minh quân, một ông vua sáng suốt, biết phát huy những việc làmphước đức như ông vua kể trên thật là hạnh phúc cho dân, cho nuớc. Lịch
sử
nhân loại đã có rất nhiều vị lãnh đạoquốc gia làm được những việc như thế. Ở Việt NamTrần Nhân Tông, một vị vua lãnh đạo đất nước bằng
tinh thần Bi, Trí, Dũng của đạo Phật, hướng dẫn dân chúng tu hành theo tinh thần Phật dạy, xây dựng nên một nước Việt nam hùng cường về mọi mặt, bên ngoài chiến thắng ngoại xâm, bên trong dân chúng sống thanh bình, no ấm, an vui như đang sống trong cõi Cực Lạchiện tiền.

Đạo lý nhà Phật dạy con người sống có ích cho đời và đạo, không vì lợi ích riêng tư mà làm khổ mình, khổ người. Người Phật tử khi thực hành
bố thí
cho người, dù họ là người ăn xin hay kẻ tật nguyền cũng đều cung
kính
tôn trọng, không cho mình là người cao quý, mà có thái độxem thường hay khinh rẻ. Tuy hành động bố thívẫn có phước báu, nhưng lại tăng trưởng tâm cống cao, ngã mạn làm cho người nhận không vui ắt phải chịu quả báo không tốt về sau.

Tóm lại, thực hành bố thícúng dường với lòng hoan hỷ, chân thành, kính trọng người nhận, đồng thờikhởi tâm nguyện cầu Tam Bảo luôn thường
trụ
thế gian để ta có cơ hội học hỏiđạo lý, phẩm chất làm người, đến khi xác thân này tan rã không còn nhân duyênbám víu thì nghiệp thức này
sẽ dẫn dắt ta tái sinh vào cảnh giớian lành, không bị trôi lăn trong ba đường ácđịa ngục, ngạ quỷsúc sanh.

Khi phát tâmbố thí

Tùy nhân quảchiêu cảm

Như vì thương mà thí

Quả chắc được an vui.

 


 

BỐ THÍ KHÔNG BỊ NĂM NHÀ CUỐN TRÔI


Người thường xuyênthực hành bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ tạo
nên những nhân tốt lành sẽ hưởng được quả báo tốt, đồng thờitránh khỏi
các ách nạn bị năm nhà cuốn trôi, đó là:

– Nhà lũ lụt.

– Nhà hỏa hoạn

– Nhà trộm cướp

– Nhà vua quan tịch thu

– Nhà con cái bất hiếu, phá hoại.

1- Nhà lũ lụt:

Chiến tranh, thiên tai, sóng thần, động đất, lũ lụt thường xảy ra trên thế gian này. Nó cướp đi tài sản, của cảivật chất của con người, có khi cả đời người làm lụng cật lực, vất vả, chắt chiu, dành dụm được số tài sản nào đó, qua một cơn thiên tai hay chiến sự là tiêu tan không còn gì cả. Thậm chí có người đến sáu, bảy mươi tuổi mới tạo được ngôi nhà, sắm soạn được một ít vật dụng, một ít của tiền để dành lo an dưỡngtuổi già. Thế mà qua một trận thiên tai, trong nháy mắt đã trở thành trắng tay.

Chúng ta thấy trên đời này có biết bao sự bất ngờ gây nên mất mát đau
thương
cho con ngườiLý do vì sao? Không gì khác hơn là “nhân quả.” Bởi chúng ta trong nhiều đời, nhiều kiếp đã gây tạo quá nhiều tội lỗi, ví nhưcủa cảivật chất ta tạo ra không phải bằng chính sức lực, mồ hôi và hành vi chân chánh của mình, mà ta dùng thủ đoạn để lường gạt, trộm cướp hay bóc lột người khác tạo nên. Vì vậy, đời nay tài sản của ta tuy có nhiều, nhưng phước lực không có, nên chúng không tồn tại với ta lâu dài, mà chúng đi theo các nghiệp nhân xấu của mình gây ra.

 Do đó, chúng tacần phải biết nhân nào dẫn đến giàu có, được nhiều của cảivật chất, được hưởng đầy đủ phúc lạcthế gian mà không bị năm nhà cuốn trôi.

Chúng ta thấy ở Việt Nam, năm nào cũng bị lũ lụt, nhất là miền Trung và miền Bắc gây biết bao cảnh khổ cho con người, nhưng cùng trong tình huống, có người bị mất mát nhiều, có người mất mát ít, có người vẫn an toàn không hư hao gì cả, người bị mất của, kẻ mất mạng sống v.v…Trong sự
mất mát đau thương ấy, nếu ta cứ cho là số trời đã định, không cưỡng lại được thì thật là không đúng. Chúng ta phải tìm hiểunguyên nhân tại sao có sự sai biệt như thế? Có thể nói ông Trời ở đây là chỉ cho luật nhân quả đang vận hành theo chu kỳ nhân duyêntác động đến nhân xấu mà ta đã làm trong quá khứ “gieo nhân gặt quả.” Hiểu được quy luật này, chúng ta sẽ có phương phápchuyển hóa, thay đổi được nó. Chúng ta không than trời, trách đất hay oán hận, đổ thừa cho số phận gì cả, mà chúng ta
phải tạo tác những hành động thiện lành, tạo nên những nhân tốt ngay từ
bây giờ, đồng thời dùng sự hiểu biết chân chánh tạo nên cơ hội cải tạo đời sốnghiện tại cho được tốt hơn.

2- Nhà hỏa hoạn:

Hỏa hoạn là tai họa thường do con người gây ra, nhưng sự thiệt hại của nó cũng thật khủng khiếp, khó lường. Chúng ta thấy nhiều gia đìnhtiêu tansự nghiệp hay vong mạng chỉ vì cơn phẫn nộ của ngọn lửa vô tình, cả đời làm lụng vất vả tạo nhà, tạo xe, sắm sửa các thứ vật dụngsang trọng, đắt tiền trong gia đình, nhưng chỉ trong một vài giờ hỏa hoạn là trắng tay. Có khi tai họa này do mình gây ra, có khi do sự bất cẩn của nhà hàng xóm gây ra thảm cảnh cho nhiều gia đình một lúc.

3- Nhà trộm cướp:

Gọi là nhà trộm cướp là theo cách sắp xếp cho đủ năm nhà, chứ cho chính xác thì gọi là nạn trộm cướp. Đây là tai nạn xảy ra thường xuyên với con người và nạn này là do người này gây cho người kia. Nếu quý vị nào có đọc báo thì ngày nào, đêm nào cũng có trộm cướp xảy ra nơi này, nơi khác. Từ thành thị đến thôn quê đâu đâu cũng có xảy ra nạn này.

Nói cho rõ về trộm cướp là người làm lụng tạo ra của cải, tài sản bị người khác chiếm đoạt làm của mình. Trộm là lén lấy không cho người chủ sở hữu hay biết. Cướp là dùng sức mạnh ép buộc chủ sợ hữu phải giao nộp tài sản hay dùng vũ lực tiêu diệt chủ sở hữu để chiếm đoạt. Tuy hai cách
thức trộm và cướp có khác nhau, nhưng cả hai hành vi đều có mục đích chung là chiếm đoạt của người. Hai hành động này là vi phạm luật pháp, vi phạmđạo đức làm người, trái vớilẽ thường tình trong đời sống xã hộiloài người, nên đều bị xã hội lên án. Mặc dầuhành vi này bị xã hội lên
án gay gắt, luật pháptrừng trị không nới tay, nhưng nó vẫn cứ xảy ra.

Có người sau khi bị trộm cướp lấy đi thì tìm lại được, có người thì không. Vì sao chúng ta lại lâm vào hoàn cảnh như thế? Theo tuệ giác của Như LaiThế Tôn, tất cả mọi trường hợp xảy ra đều có nguyên nhânsâu xa của nó, không có gì bỗng dưng, khi không, ngẫu nhiên mà xảy ra.

Nguyên nhân thứ nhất là do lòng tham củacon người vì hưởng thụ quá mức, sống lười biếng hoặc do nghiện ngập đủ thứ nên làm liều để có tiền tiêu xài.

Nguyên nhân thứ hai là người có tài sản đã gieo nhân trộm cướp, lường
gạt, bóc lột, làm những điều phi pháp giành lấy của cải về mình trong đời trước hoặc đời hiện tại, quả báo ấy dẫn đến việc ngày nay bị trộm cướp.

Nguyên nhânsâu xa muốn nói ở đây là “nhân nào quả nấy.” Người trong quá khứ do tham lam đã làm nhiều điều bất thiện, gây đau khổ cho người về phương diệnvật chất. Cái nhân tham lam, bất thiện ấy dẫn đến ngày nay tài sản của mình bị lòng tham của kẻ khác dòm ngó, để ý. Họ tìm cách
chiếm đoạt tài sản mình bằng nhiều hình thức, tùy theo mức độ của nhân xấu mình đã gieo mà tương ưng cho cách thức và mức độ tài sản của mình bị trộm cướp.

Vì vậy, người ăn lành, ở hiền, chăm làm phước đức sẽ tránh được tai họa của nhà trộm cướp này xảy đến cho mình.

4- Nhà vua quan tịch thu:

Thời phong kiến xưa, vua chúa làm chủ trị vì thiên hạ, mọi quyền hành
tập trung vào nhà vua. Vì vậy, người nào phạm tội, vua muốn xử tội thế nào là cấp dưới phải thi hành thế ấy. Theo quan niệm thời ấy, vua là Thiên tử (con trời) thay trời trị vì muôn dân. Từ đó, vua muốn làm gì thì làm, trong triều không ai dám ngăn cản. Khi xét xử quan lại hay dân chúng tham ô gian dối hay nghi ngờ làm tổn hại đến triều đình, vua đứng ra xét xửtùy theo tội mà phán, có nhiều hình phạt rất khắc nghiệt như “tru di tam tộc” (giết sạch ba họ, nội, ngoại và vợ) tru di cửu tộc (giết sạch chín họ) hay tịch thu hết sạch tài sản rồi đày đi nơi hoang vắng xa xôi tự kiếm sống… để trừ hậu hoạ. Tất cả những điều này đến với ai cũng đều do nhân quảnghiệp báo xấu từ trước mà ra. Thấu rõ chỗ này, chúng ta phải ăn ở hiền lành, làm việc phước đức mới mong thoát khỏibị nạn này.

Ngày nay tuy không còn chế độ phong kiến do vua đứng đầu toàn quyền phán xử, nhưng luật pháphiện hànhvẫn có những điều khoản, khung hình phạt rất nghiêm, rất nặng như án tử hình, tù chung thân hay tịch biên tài sản v.v… Có người không phạm tội, nhưng do tang chứng, vật chứng không thể chối cải, thanh minh không được “tình ngay lý gian” nên phải chịu tội oan. Những trường hợpbị oan nghiệt như vậy là do quả báo nghiệp xấu người ấy đã gây tạo trong kiếp trước, nay mới hội đủ nhân duyên trổ ra.

5- Nhà con cái bất hiếu phá sản:

cha mẹ, ai cũng đều thương con cái của mình, lúc nào cũng muốn cho
con được sung túc, đầy đủ, no ấm. Cha mẹ luôn luôn sẵn sàng dang tay đùm bọc, chở che con cái, thậm chí đôi lúc phải làm việc bất thiện để bảo hộ cho con.

Nhiều ông cha, bà mẹ vì muốn cho con được no đủ, nên phải làm lụng đầu tắt mặt tối ít có dịp tiếp xúc dạy dỗ con cái. Vì quá bận bịu lo kinh doanh, buôn bán, tạo ra của cải, để con cái buông lung muốn gì làm nấy, cung cấp tiền bạc không cần tìm hiểunguyên do. Từ đó, tạo cho con cái tính ỷ lại vào cha mẹ, sự nghiệpgia đình, không lo tu thân, học hành, mặc tình ăn chơitrác táng, sa đọa, kết bè kết bạn với người xấu ác, rồi rơi vào tình trạng nghiện ngập, hút chích…

Chúng ta thấy không ít gia đình, cha mẹ làm lụng vất vảcả đời, chỉ vì thương con mà trong phút chốc bị tan nhà, nát cửa, phải chịu cảnh khổ
đau, nghèo đói.

Chúng tôi biết một bà mẹ nọ có hai đứa con trai, bà tuy lớn tuổi nhưng còn nhan sắcxinh đẹp, kiều diễm. Bà cặp bồ với những ông nhà giàu
lớn tuổi, rồi lường gạt lấy tiền đem về cung cấp cho hai đứa con. Hai đứa con trai của bà rất ngỗ nghịch, không chịu học hành hay làm ăn gì cả, mà chỉ chờ mẹ đem tiền về tiêu xài mà thôi. Vì không công, rỗi việc,
nên chúng thường giao du với đám bạn bè xấu, cuối cùng hai đứa đều sa vào con đường nghiện ngập, hút chích xì ke. Từ đó số tiền chúng cần để chi tiêu mỗi ngày một nhiều hơn. Vì thương con bà tìm đủ phương cách để lường gạt nhân tình của mình đem về chu cấp.

Đến lúc hai đứa bị công an bắt đưa vào trung tâm cai nghiện, thay vì khuyên giải con mình từ bỏ tệ nạn, bà lại lo sợ các con thiếu ma túy bị cơn nghiện hành hạ không chịu nỗi. Bà tìm môi giới, móc ngoặc với cán bộ
quản lýtrung tâmtiếp tếma túy để các con sử dụng. Kết quả một đứa bị
chết trong trại cai nghiện do dùng thuốc quá liều từ lượng thuốc bà chuyển vào để chúng dùng nhiều ngày. Và chỉ trong chưa đầy hai năm, bà đã phải bán hết nhà cửa, còn nợ nần nhiều người. Cuối cùng bà phải ở nhà
mướn.

Vì thương con một cách mù quáng bà phải chịu cảnh tan nhà nát cửa, sống đời bần cùng, người thân không ai dám giúp vì sợ liên lụy.

Làm mẹ cha ai chẳng thương con? Nhưng chúng ta phải thương con như thế nào cho đúng cách để giúp chúng được trưởng thành. Đừng thương con theo kiểu bà mẹ ấy thì thật nguy hiểm cho con, cho mẹ, cho cả gia đìnhxã hội. Chúng ta phải dạy con cái biết giá trị của cuộc sống bằng tinh thầntự lập, không ỷ lại vào gia đình, đặc biệt cần dạy con cái biết nhận thứcđúng đắn về nhân quả, nghiệp báo để tạo cho chúng cuộc sống có giá trị, ý nghĩahạnh phúclâu dài

Để minh họa thêm cho nhà con cái bất hiếu, phá sản,chúng ta cùng nghe câu chuyệnnhân gian sau đây:

Trong một làng nọ, nhà ông Nghèo và nhà ông Giàu ở gần nhau. Ông Giàu
là một điền chủ khá giả nhất trong làng. Còn ông Nghèo là người làm mướn cho gia đình ông Giàu, nhưng đam mê uống rượu, đánh bài nên tháng nào ông cũng thiếu nợ ông Giàu. Vì vậy ông Nghèo làm mướn cho nhà ông Giàu quanh năm mà nợ vẫn còn. Rồi một ngày chiến tranh xảy ra, làng của hai ông chẳng may rơi vào vùng chiến sự, cả hai ông không thoát kịp nên bị mất mạng khi hai bên giao chiến ác liệt.

Sau khi chết, linh hồn hai ông đều xuống âm phủ chờ Diêm Vươngxét xử. Để việc xét xử cho công bằng, Diêm Vươngyêu cầu thuộc hạ cung cấp hồ sơ đầy đủ về mọi hoạt động của hai ông trên trần gian.

Ngày xét xử, Diêm Vương cho gọi hai vong hồn đến và phán rằng:

– Ta thấy trên trần gian Nghèo tuy làm lụng vất vảquanh năm, khổ nhọc thật đấy, nhưng phải tội đam mê cờ bạc và nghiện rượu nên xuống đây
mà vẫn còn nợ của Giàu. Để thanh toán món nợ này, ta cho hai ngươi được
đầu thaitrở lại làm người trong một gia đình làm hai cha convới nhau.
Vì Nghèo thiếu nợ Giàu nhiều, bây giờ ta cho Giàu làm cha của Nghèo để bắt Nghèo nuôi nấng mà trả nợ.

Nghe Diêm Vương phán vậy, Giàu không chịu, van xinDiêm Vương xét lại. Diêm chúa lại phán:

Vậy thì ta cho ngươi đầu thai về Trần làm mẹ của Nghèo được không?

 Giàu cũng không chịu, Diêm Vương hỏi:

 – Vậy ngươi muốn như thế nào?

 Giàu trả lời một câu chắc nịch:

 – Dạ, thưa Diêm Vương, con muốn làm con của Nghèo.

Nghe vậy, Diêm Vương hỏi:

– Tại sao ngươi muốn làm con của Nghèo?

– Thưa Ngài, bởi vì làm con là sướng nhất, lúc ấy con tha hồ đòi nợ, con đòi đủ thứ, đòi nợ công khai, đỏi thứ gì Nghèo cũng phải chìu không dám trái ý…

Chúng ta thấy cha mẹ lo cho con thế nào? Có phải là nợ phải trả hay không? Lúc nhỏ thì bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn, cha mẹ phải lo cho con uống ăn đầy đủ, mỗi khi trái gió trở trời con đau là mẹ đứng ngồi không yên, phải thức suốt đêmlo lắng, chăm sóc không dám than phiền. Lớn lên một chút là phải lo cho ăn học, dù tốn kém bao nhiêu cha mẹ cũng
nai lưng ra làm, dù nợ nần cũng cắn răng chịu đựng. Rồi lo công ăn việc
làm
, dựng vợ gã chồng cho nên bề gia thất, phân chiatài sản cho con … Như vậy có phải là cha mẹ trả nợ cho con không? Trả cho đến khi nào hết
nợ mới thôi. Lỡ như kiếp này trả chưa hết thì kiếp sauđầu thai lại trả
tiếp.

Câu chuyện trên cho ta một bài học lý thú về trả món nợ đời. Những người nợ nầnvới nhau kiếp này chưa thanh trả cho nhau, kiếp sau dễ làm cha mẹ con cái của nhau để đòi, để trả với nhau. Muốn đòi được món nợ tiền khiên, tốt nhất là đầu thai làm con đòi nợ. Vì cha mẹ nào cũng thương con, do tình máu mủ ruột rà luyến ái nên cha mẹ chẳng bao giờ bỏ con, chỉ có con bỏ cha mẹ mà thôi. Vì vậy, những người cùng gia đình, họ
hàng
thân thuộcthương yêu nhau hay gây khổ đau cho nhau đều là oan gia
trái chủ của nhau cả.

Đây chỉ là một khía cạnh trong vấn đềnhân quả mà thôi, chứ thực ra được sinh ra làm người trong một gia đìnhvới nhau phần lớn là do phước đức mà thành. Bởi vì chúng ta thấy cha mẹ nào cũng thương yêu con cái mà
lo tròn bổn phận, trách nhiệm, thấy con cái mạnh khỏe, thành đạt lấy làm hạnh phúc, vả lại con cái nào cũng biết thương yêu, hiếu thảo với ông bà cha mẹ. Rất ít gia đình con cái bất hiếu phá sản không biết đạo lý làm người mới rơi vào nạn nhà thứ 5 này mà thôi.

 


 

PHƯỚC ĐỨC VÀ CÔNG ĐỨC


Công đứcphước đức khác nhau thế nào?

Công đức là do tu tâm, rõ được bản tâmsáng suốt nơi chính mình rồi từ đó mỗi lời nói, hành động, suy nghĩ đều hợp với đạo lý làm người, làm
điều gì cũng không sai trái, không bị dính mắc hay trói buộc.

Còn phước đứcdiệu dụng của công đức, là kết quả của hành vi làm các việc thiện lành như giúp người hoạn nạn, chia sẻ vật chất, tinh thần
giúp người bớt khốn khổ v.v…tạo nên những nhân tốt.

Người làm việc phước đức nhiều được hưởng quả phú quý, giàu sang, của
tiền dư dật ở thế gian hay được sanh vào cõi trời. Theo kinh Phật dạy, người dù có phước tột đỉnh được sinh vào các cõi trời hay cõi người để hưởng quả tốt, nhưng đến khi hết phước vẫn bị định luậtvô thườngchi phối, trở lại trôi lăn trong vòngsanh tử luân hồi. Chỉ có nguời công đức đầy đủ không bị khổ đau chi phối, do đó được an nhiêntự tại trong mọi hoàn cảnh.

Để hiểu rõcông đứcphước đức khác nhau thế nào, chúng ta cùng nghe câu chuyện thời đức Phật:

Có một Tỳ-kheo tu hành đã chứng quả A-la-hán, không còn bị tham, sân,
si chi phối trong bất cứ hoàn cảnh nào. Người chứng quả A-la-hán sẽ bất
động
trước mọi nghịch cảnhcuộc đời.

Do nhiều đời tích lũy công đức nên vị Tỳ-kheo này trong đờihiện tại được duyên tuhành chứng quả, nhưng do đời trước không làm phước đức gieo duyên với mọi người, lại còn phỉ báng, ngăn cản người khác thực hành bố thí, cúng dường, nên sanh ra trong đời này Ngài phải chịu khổ đau một thời gian dài. Ngài bị mẹ bỏ rơi lúc 3,4 tuổi, được ngài Xá Lợi Phất đem về nuôi cho xuất gia đầu Phật. Và cuộc đờitu hành của Ngài rất
cam go, khổ nhọc, thiếu thốn trăm bề, cho đến khi chứng quả A-la-hán mà
Ngài vẫn chưa được một bữa cơm nào thật no đủ. Do nghiệp đời trước ngăn
cản
người bố thí, cúng dường mà đời nay Ngài phải chịu lãnh quả thiếu ăn suốt đời như vậy.

Nhân quảnghiệp báo sẽ không từ bỏ một ai khi hội đủ nhân duyên, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu quả khổ là định luật rất công bằng không có sai biệt. Vì vậy, người Phật tử phải biết sáng suốt chọn lựa, đừng để đến lúc gặt quả xấu rồi than thân trách phận, đổ thừa tại này, tại nọ để rồi chuốt lấy khổ đau.

Bậc Thánh nhân khi gặp quả xấu, do có trí tuệ sáng suốt thấy rõ được nhân quảnghiệp báo, nên không buồn đau sầu khổ. Thân này tuy chịu quả thiếu thốnđói khát, nhưng tâm vẫn an nhiêntự tại trước mọi hoàn cảnh.

Người khôn ngoan phải biết chọn lựa con đườngtốt đẹp dẫn đến an vui hạnh phúc, biết làm phước để tích lũy, nếu không biết tích lũy thêm phước đức, đến khi hết phước sẽ gặp tai họa.

Còn công đức là sự tu tâm, sửa đổi, chuyển hóa những tâm niệmtà vạy,
tham lam, ích kỷ, hiểm độc, ganh ghét, cho nên vị Tỳ kheo ấy dù bị đói khát, thiếu thốn nhưng không khổ tâm vì biết nhân quả nghiệp xấu chiêu cảm. Cái hay của người tu hành là ở chỗ đó. Và đó cũng là chỗ khác nhau của công đứcphước đức.

Để làm sáng tỏ thêm ý nghĩa của công đứcphước đứcchúng ta hãy nghe câu chuyện thiền như sau:

Tổ Bồ-đề-đạt-ma là vị tổ thứ 28 ở Ấn Độ, do nhu cầu hoằng pháp nên Ngài đã đến Trung Hoa gặp vua Lương Võ Đế. Vua hỏi: “Trẫm thường cất chùa, độ Tăng, Ni, in kinh ấn tống rất nhiều vậy có công đức không?

Tổ đáp: “Thảy đều không công đức.”

Nghe thế, vua sửng sốt, bàng hoàng, đâm ra nghi ngờ hỏi tiếp. Tại sao không công đức?

Tổ đáp: Đó là phước báu thế gian được hưởng phước báo làm người giàu sang, thông minh, mẫn tiệpcõi trời, người, như bóng theo hình, tuy có
nhưng không bền chắc lâu dài.

Vua Lương Võ Đế tưởng rằng làm những việc phước thiện như vậy là công
đức
cao cả, nên chấp vào việc làm của mình, bị Tổ tạt cho một gáo nước lạnh, “tá hỏa tam tinh.” Bởi vua Lương nhầm lẫn giữa phước đức và công đức.

Mục đích của Tổ sang Trung Hoa là chỉ rõ cho mọi ngườinhận rabản tâmchân thật sẵn có nơi mỗi người. Bởi đa số người đời thường lầm chấp thân và tâm suy tư, nghĩ tưởng của mình là thật nên làm cái gì cũng tìm cách chiếm đoạt, vơ vétbồi bổ cho cái thân xác để hưởng thụ cảm xúc. Vua Lương nghĩ rằng, cất chùa, độ Tăng, Ni, in kinh sách, say mê việc làm phước là công đức, nên Tổ mới phá chấp để nhà vua nhận rabản tâmchân thật của mình, mà hiểu đúng lý giác ngộ, giải thoát của đạo Phật.

Bởi vì nhà vua không hiểu thế nào là công đức, chỉ một bề lầm chấp công lao của mình, cho đó là cứu cánh của đạo Phật. Nhà vua không hiểu ýsâu xa của Tổ, dù đang là vị vua trên các vua khác, được hưởng phước cao sang tột đỉnh, vẫn bị quy luậtvô thườngchi phối, rốt cuộc vẫn trôi
lăn trong vòngsinh tử khổ đau. Còn chỗ Tổ muốn chỉ cho nhà vua là dừng
lặng các tâm tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, để sống lại với tâm sáng suốt của mình (Phật tánh). Từ đó, nhà vua sẽ không còn có bóng dáng
của sợ hãi, khổ đau mà hằng an lạcthảnh thơi chan hòa tình thương đến muôn loài.

 Cho nên đến với đạo Phật có hai hình thức: tại giaxuất gia. Song
xuất gia là số ít, còn đại đa số là người tại gia. Người xuất gia nguyện suốt đờiđi theolý tưởnggiác ngộ, giải thoát, thấy tất cả mọi người đều là người thân, người thương của mình, trên cầu thành Phật, dưới cứu độchúng sinh. Vì vậy người xuất gia nêu cao tinh thầnhy sinhTam Bảo, còn người tại gia ngoài việc lo cho gia đìnhxã hội, thấu
hiểu lý nhân quả, nghiệp báo cần tự giácphát tâmhộ trì Tam Bảo, trợ giúp vật chất để người xuất gia (chư Tăng Ni) có điều kiện, thời giantu
học
hành trì.

Việc làm của vua Lương Võ Đế quả là một điều khó làm. Bởi Ngài là vua
một nước, trăm công, ngàn việc, nhưng Ngài vẫn tranh thủthời gian làm những việc khó làm. Lương Võ Đế là ông vua cư sĩ trên đời này làm được như vậy là hiếm có, giúp cho dân chúng an cư lạc nghiệp, sống trên tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, do đó trong nước rất ít tệ nạn xã hội.

Người người theo Phật tu nhân thiện

Mười phươngthế giới dứt binh đao.

Việc làm của vua Lương Võ Đếquả thậttuyệt vời đối với cuộc sống thế gian, nhưng vì Ngài lầm chấp cho rằng đó là cứu cánh của đạo Phật nên mới hỏi Tổ: “Con cất chùa, độ Tăng, Ni, in kinh ấn tống có công đức không?”

Tổ đáp: Đều không công đức.

Vua hỏi tiếp: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?

Tổ đáp: Rỗng rang không Thánh.

Thánh đếđệ nhất nghĩa là chỉ cho thật tướng vô tướng rỗng lặng sáng suốtthanh tịnh nơi mỗi con người. Bởi vua chạy theodanh tựhình tướng bên ngoài nên không nhận ra trong mình có ông Thánh đang hiện diệnsờ sờ. Vì vậy vua hỏi:

Đối diện trẫm là ai?

-Tổ đáp: không biết!

Đến thời Lục Tổ Huệ Năng, có người đọc đoạn đối đáp của vua Lương Võ Đế với Tổ Bồ-đề-đạt-ma mới hỏi, Tổ đáp: Thật khôngcông đức, chớ nghi lời bậc Thánh nói. Vì vua Lương Võ Đế không hiểu được yếu nghĩa khai thị trực chỉ nhân tâmkiến tánh thành Phật”
nên cho rằng cất chùa, độ Tăng, Ni, in kinh bố thícông đức, thực chất đó chỉ là làm phước, không thể đem phước đổi công đức được.

Công đức là do tu tâm mà được; tự tu tánh là công, tự tu thân là đức,
đức phải do nơitự tánh mà thấy, không phải do bố thícúng dường mà được. Do đó, công đức là do tu tâmbản tánh rỗng lặng nhưng hằng thấy
biết.

Còn những việc làm của vua Lương Võ Đế là do nhân quả phước báu của trời, người. Có phước thì được giàu sang, có nhiều của cảiquyền thế, hưởng thụ vật chất đầy đủ, song hưởng thụ phước báu mà không biết kiệm phước thì cũng có ngày hết, phải chịu khổ đau trong vòngluân hồisinh tử. Do đó, có phước mà thiếu công đức dễ dẫn đến phiền não, chấp trước, thấy mình là người bố thí, kẻ thọ nhận phải biết ơn mình, sanh tâm cống cao, ngã mạn, nhiều khi thấy người thọ nhận vô ơn, bạc nghĩa, không biết
nhớ ơn họ mà còn sanh tâm coi thường khinh rẽ họ, không những bị mất phước mà còn phải mang lấy tội quả xấu nữa.

Vì vậy, là người con Phật, chúng ta phải biết quân bình, một mặt tích
lũy
phước báu. Nhờ có phước ta dễ có điều kiệntu học, một mặt tích cựctu tâm để chuyển hóa khổ đau khi đối diệnnghịch cảnhcuộc đời. Trái lại, người đã sống với tâm chân thật, dù có bố thí đúng dường, làm nhiều
phước thiện, cũng đều là công đức cả, vì họ làm trong vô tâm.

Vô tâm là tâm rỗng lặng sáng suốt không bị dính mắc, chấp thủ vào việc mình làm, chỉ tùy thời, tùy duyên làm lợi ích, không thấy mình là người bố thí, không thấy người thọ nhận và vật thí, do đó được an nhiên,
tự tại trước mọi hoàn cảnh trái ngang. Nếu ta biết kết hợp làm phước và
tu tâm, thì khổ đau sẽ không có mặt trong hành trình cam go của cuộc đời.

 


 

KHI CÔNG TỬ CHÊ TIỀN


Thời Phật tại thế, Cấp Cố Độc là nhà giàu sang bậc nhất, lúc nào ông cũng sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khổ, bần hàn, bệnh tật không nơi nương
tựa
. Ông phát nguyệnđời đời, kiếp kiếpcúng dườngTam Bảo, ông thực hành bố thí với tấm lòng chí thành, chí kính, dám bỏ ra một số vàng khổng lồ để mua khu vườn của Thái tử Kỳ-đà để cất tịnh xá cho giáo đoàn của đức Phật. Ngược lại với cha, người con trai của ông tên là Kỳ-la làm
quan dưới thời vua Ba-tư-nặc chẳng tin kính Tam Bảo, lại còn phỉ báng, phê bình cha mình đem của cảibố thí cho mấy ông Sa-môn ăn không ngồi rồi.

Một hôm, vua Ba-tư-nặc cùng Mạt-lợi hoàng hậu thiết lễ cúng dườngtrai Tăng tại hoàng cung, công tử Kỳ-la tỏ vẻ không đồng ý, bất bình, nói những lời bất kính, vô lễ. Đức Phật biết được tâm ý của Kỳ-la, sau khi thuyết giảng xong, ngài nói bài kệ:

Người bỏn xẻnkhông sinhcõi trời

Người ngu không ưa việc bố thí

Người trí sinh lòng tùy hỷ

Vì vậymọi người đều được an lạc.

Chuyện đến tai vua Ba-tư-nặc, Kỳ-la bị nhà vua cho thôi việc, từ đó Kỳ-la càng thêm oán ghét đức PhậtTăng chúng. Lần nào trưởng giảCấp Cô Độc thiết lễ cúng dườngtrai Tăng tại nhà thì Kỳ-la đều có thái độbực bội, tìm cách vắng nhà.

Sau nhiều lần khuyên nhủ, chỉ dạy con mình bất thành, Cấp Cô Độc không cách nào thuyết phục được người con trai ngỗ nghịch, cuối cùng ông
nghĩ ra diệu kế gọi con đến dỗ ngọt, hy vọng con mình sẽ chấp nhận: “Lúc này cha quá bề bộn công việc không đến tịnh xáKỳ Viên để nghe pháp
được, cha nhờ con đi nghe giúp, cha sẽ chi cho con 100 đồng tiền vàng.”

Vừa nghe chuyện, Kỳ-la đã muốn nổi cáu lên, nhưng thấy cha chi số tiền quá lớn, máu tham khởi dậy nên Kỳ-la vui vẻ nhận lời, đi đến Tịnh xákỳ Viên để nghe thuyết Pháp. Trước khi đi, công tử còn nói với cha: “Sau khi con đi nghe Pháp về cha phải giữ đúng lời hứa, chi ngay cho con
100 đồng tiền vàng đấy.”

Cáp Cô Độc thấy con thay đổi thái độ, trong lòng mừng vui nói: “Từ xưa đến nay cha có bao giờ nói gạt con đâu? Con cứ an tâm đi nghe pháp thay cha.”

Tờ mờ sáng, công tử Kỳ-la đã điểm tâm xong và thẳng đến Tịnh xáKỳ Viên, tìm chỗ vắng vẻ đánh một giấc tới chiều thức dậy đi về.

Thế là một ngày trôi qua, Kỳ-la về nhà xin cha số tiền đã hứa. Sau khi đưa tiền cho con xong, trưởng giả còn khen con trai lúc này giỏi lắm, nhớ khi nào cha bận việc, con đi nghe Pháp hộ cha.

Kỳ-la vui vẻ nói với cha: “Cha cứ yên trí, con lúc nào cũng sẵn sàng đi nghe pháp giúp cha.” Vừa nói Kỳ-la vừa săm se những đồng tiền vàng mà
trong lòng cảm thấy rất khoái chí, không biết mấy ông Sa-môn đầu trọc kia có bí quyết gì mà cha mình mê đến thế?

Ngày tháng trôi qua, việc đi nghe pháp giúp cha cứ diễn ra y như thế, riết rồi trở thànhthói quen.

Một hôm, Cấp Cô Độc gọi con lại nói rằng: “Hôm nay có thời thuyết pháp rất quan trọng, con phải nhớ ít nhất bốn câu kệ để về nói lại cho cha nghe. Nếu con ghi nhớ và thuộc lòng nhiều hơn, cha sẽ thưởng con 500
đồng tiền vàng.” Nghe cha nói thế, hôm ấy Kỳ-la đến Tịnh xáKỳ Viên thật sớm, cố học thuộc bốn câu kệ rồi về sớm để đi xem hát. Nhờ trí thông minh sẵn có, Kỳ-la dễ dàng thuộc lòng bốn câu kệ Phật nói, rồi vội
quay về. Đi được một quãng, Kỳ-la không hiểu ý nghĩa bài kệ, nên quay lại xin Phật giải thích. Kỳ-la chăm chú nghe Phật giảng ý nghĩa từng câu, từng chữ của bài kệ. Do nhân duyên lành đời trước khai phát giống như đang ở trong nhà tối bỗng dưng có đèn sáng lên, làm rõ mọi vật, sau thời pháp của Phật, Kỳ-la chứng quả Tu-đà-hoàn. Đây là quả vị đầu tiên trong bốn quả Thanh Văn, còn có nghĩa là nhập lưu hay dự lưu, nhập vào dòng Thánh không còn bị đọa lạc trong ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) nữa.

Hôm ấy, Kỳ la về nhà trong lòng vô cùnghoan hỷ đem bài kệ giảng lại cho cha nghe một cách mạch lạc, rạch ròi, không sót một ý nào. Cấp Cô Độc ngỡ ngàng, không ngờ con trai mình hôm nay thông đạtPhật pháp đến thế, lại không thấy con nhắc đến việc cho 500 đồng tiền vàng.

Hôm sau, ông đến cung thỉnh đức Phật cùng chư Tăng đến nhà để ông cúng dườngTrai Tăng. Sau lễ cúng dường, trước mặtđức Phậtchư Tăng,
ông muốn tán thưởng người con trai của mình theo đúng lời hứa, ông lấy 500 đồng tiền vàng ra trao cho Kỳ-la. Bất ngờ thay, Kỳ-la lúc này dứt khoát không nhận những đồng tiền của cha, mà còn xin cha cất giữ để cúng
dường
Tam Bảo. Đồng thời Kỳ-la xin đức Phật được quy y Tam Bảo.

 Được đức Phậtchấp nhận, Kỳ-la xin phát lời thề nguyện:“ Suốt đời con nguyện theo gương cha, luôn làm việc thiện lành, giúp đỡ người nghèo
khó
cúng dườngTam Bảo.” Cấp Cô Độccảm thấy quá bất ngờ cho sự nhiệm mầu của Phật pháp đã chuyển hóa người con trai tham lam, ích kỷ, tật đố của mình một cách nhanh chóng như vậy. Nhân đó ông xin đức Phậtgiải thíchlý do về sự chuyển hóa này.

Đức Phật cho ông biết Kỳ-la đã chứng được quả vị Tu-đà-hoàn. Người chứng quả vị Tu-đà-hoàn thì dứt trừ được cái thấy sai lầm về sự sống.
vậy
, người này dứt được ba kiết sử: một là thân kiến, hai là nghi ngờ và ba là giới cấm thủ. Tức là không còn cái thấy sai lầm về thân, thân này như thế nào thì thấy rõ ràng như thế đó, thân này do nhân duyênhòa hợp của bốn đại mà thành, nên nó không thật có.

Người chứng quả Tu-đà-hoàn thấy rõ được thân không thật có, khi đủ duyên thì có thân này, khi hết duyên thì thay hình đổi dạng, chứ không mất hẵn. Nhờ thấy biết như vậy, nên ta bớt chấp trước, tham đắm vào sắc thân mà làm tổn hại cho người. Thấy hiểu đúng như vậy, ta cố gắngtu hànhchuyển hóa những thói hư, tật xấu để sống tốt trên cõi đời này, nếu
không
giúp ích cho ai, ít ra cũng không tạo đau khổ cho ai. Người chứng
quả
Tu-đà-hoàn sẽ không còn thoái đọa vào các đường ác, vì đã thấu hiểu
ràng quả báo của sự làm ác.

Thứ đến, người chứng quả Tu-đà-hoàn không còn nghi ngờ những lời Phật dạy về pháp Tứ Đế,
tức là bốn điều chắc thật về sự khổ của chúng sinh: khổ vì sinh, già, bệnh, chết, khổ vì sự mất mát, khổ vì mong cầu không được như ý, khổ vì oán ghét mà gặp nhau hoài, khổ vì sự tương tàn, tương sát của con ngườivới nhau, khổ vì thiên tai, hỏa họan, thiếu ăn, thiếu mặc…

Tất cả nỗi khổ đau đều có nguyên nhânsâu xa của nó, do thói quenhuân tập của mỗi người mà dẫn đến hậu quả của nó như tham, sân, si, mạn,
nghi, ác kiến… mọi việc xảy ra đều có nguyên nhân, chứ không có gì là khi không, bỗng dưng mà có, hay do một đấng quyền năng nào tạo ra.

Con người bị khổ hầu hết là do lòng tham mà ra, không thỏa mãn lòng tham sẽ sinh ra nóng giận, hận thù, còn về lý trí thì khổ là do vô minh mà ra.

Như vậy, nguyên nhân của sự đau khổ là do tham, sân, si tạo thành. Biết được nguyên nhân, gốc rễ, cội nguồi của mọi khổ đau, ta phải tìm cách thoát khổ. Quan trọng nhất là ta phải làm thế nào diệt trừ cho được
những thói quen xấu sinh ra từ tham, sân, si..

Khi biết được nguyên nhân rồi, ta tìm cáchdập tắt, tiêu trừ bằng các
phương pháptu tập để chuyển hóa. Ở đây, đức Phật chỉ cho ta cái quả an
ổn
, hạnh phúc tột cùng là Diệt Đế (quả vị cao nhất của người tu đạo Phật.) Sau đó Ngài mới hướng dẫn cho ta con đường dẫn đến cái quả Diệt Đế bằng các phương pháptu tập, hành trìĐạo Đế.

Quả thật, đức Phật là một nhà tâm lýđại tài, muốn hướng dẫn chúng sinh đến với đạo, Ngài chỉ cái quả trước là an lạc, hạnh phúc, tự do, tự
tại
, giải thoát để cho ta thấy được lợi ích rồi mới chỉ cho ta cách thức để đạt được cái quả ấy.

 


 

CÚNG DƯỜNGCHỨNG QUẢ A-NA-HÀM


Thời Phật tại thế, có một bà nhà giàu hết lòng tin kính Tam Bảo, bà luôn ứng dụng, hành trì, tu tập những lời Phật dạy và thường hoan hỷphát tâmcúng dườngchư Tăng.

Điều mầu nhiệmđặc biệt là bà phát tâmủng hộcúng dường cho người nào thì người đó ngộ đạo. Đây là do túc duyên gieo trồng phước đức nhiều
đời, nhiều kiếp của bà.

Tiếng lành đồn xa, một số thầy nghe danh, muốn đến thử xem mình có duyên lành với vị thí chủ này không. Nhân mùa an cưkiết hạ, quý thầy bàn nhau đến kiểm nghiệm lời đồn đãi ấy có đúng không và cũng để thăng tiến trong mùa an cưkiết hạ này.

Được tin quí thầy đến trú xứ của mình tu tập, bà giàhoan hỷcúng dường những gì cần thiết trong thời gianchư Tăngtu tập. Chỗ ở của bà khá rộng rãi, rừng cây xum xuê, thuận lợi cho việc tu tập và hành thiền.

Bà thưa: “Quý thầy cứ yên tâm ở đây tu tập, không phải đi khất thực, con sẽ cung cấp đầy đủ các nhu cầu cần thiết, con chỉ mong sao quí thầy mau chứng thànhđạo quả.

Khoảng ba mươi thầy, ai nấy cũng thuận hỷ lời thỉnh cầu của bà, ở lại
tu hành miên mật, tinh tấn. Tuy nhiều thầy cùng trú, nhưng khu vườn vẫn
im phăng phắc làm cho bà già đâm ra nghi ngờ, tại sao không nghe nói chuyện hay là quí thầy giận nhau? Tại đây, các thầy đều được chứng quả trong một thời gian ngắn. Thời ấy, nhờ sự trực tiếp chỉ dạy của Như LaiThế Tôn, đa số các Tỳ-kheo tu hành đều mau chứng đạo.

Tại sao trong thời Phật hiền tiền, các đệ tử của Ngài tu mau chứng ngộđạo quả như vậy? Đây là điều dễ hiểu thôi, bởi đức Phật biết rõ tâm
niệm
của mỗi Tỳ-kheo nên Ngài chỉ dạy mỗi người một phương phápthích hợp với năng lực, nên các vị tu hành mau chứng đạo.

Bên cạnh, giới luật của chư Tăng hỗ trợ rất tích cực cho sự chứng đắc
như đức Phật không cho giữ tiền bạc của cảitài sản nên chư Tăng dễ dàng buông xả hoặc không cho trụ xứ một chỗ lâu dài để không bị bám víu vào sở hữutài sản, do đó các vị tu hành mau thăng tiến.

Ngày nay, do hoàn cảnhxã hội và phong tục, tập quán khôngcho phép Tăng, Ni sống như thời xưa được, chư Tăng phải có đủ điều kiện để tu và hướng dẫn Phật tửtu hành, phải có chỗ ở ổn định… Vì vậy, chư Tăng dễ bám víu vào sở hữutài sản và phải hòa nhập vào cộng đồngxã hội để làm lợi ích chúng sinh. Họ học hiểu tới đâu hướng dẫn Phật tử tu theo tới đó, nên mức độ tu chứng của chư Tăng ngày nay rất hạn chế.

Song, Phật pháp không cố định, cứng ngắt, mà phải tùy thời, tùy duyên
hòa nhập vào xã hội, miễn sao người tu sống tốt đạo, đẹp đời là đã có lợi lạc rồi.

Đạo Phật có mặt trên thế gian là vì hạnh phúc của con người, do đó người tu trong thời hiện đại phải khó khăn, chật vật hơn thời xưa, nhưng
không vì vậychúng tacho phép mình lơ làtu tập, mà mỗi người phải cố gắng hơn lên để không bị lui sụt trong hành trì.

Hơn nữa, thời Phật tại thế, không những đạo Phật mà các giáo phái khác cũng không chấp nhận các việc kinh doanh, buôn bán, sản xuất trong khi hành đạo, mà chỉ có việc đi khất thực để tùy duyênhóa độchúng sanh
mà thôi.

Thời nay không có được phúc duyên như thế, nên chúng ta càng cố gắngtu hành nhiều hơn miễn là ta không thối chí nản lòng.

Trở lại sự việc bà giànghi ngờ, hoang mang tại sao chư Tăng ở đông như vậy mà không nghe tiếng ồn. Bà gặp một Tỳ-kheo trong hội chúng để hỏi cho rõ vấn đề.

Và vị Tỳ-kheo ấy đã giải thích cho bà rõ: Trước khi chúng tôi đến đây, đã được Như LaiThế Tôn chỉ dạy cho mỗi người một phương pháptu hànhchúng tôiphát nguyện: trong mùa an cư này, mỗi chúng tôi phải tu hành cho đạt Thánh quả hết để đáp đền ơn Phật và đàn-na tín thí. Vì vậy, chúng tôi thống nhất với nhau, mỗi người ở một góc riêng để tu tập và hành thiền. Trong đoàn, thầy nào tu hành đạt kết quả sớm thì có trách
nhiệm
hướng dẫn các thầy khác trên tinh thần hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

Nghe thầy Tỳ-kheo trình bày như thế, trong lòng bà rất hoan hỷ. Từ trước đến naychưa bao giờ được nghe, thấy những điều như thế. Do đó bà khao khát muốn được biết các thầy đang tu pháp gì? Và bà có thể tu theo được không?

Nhờ túc duyên nhiều đời, bà được một thầy Tỳ-kheo hướng dẫn cách thức
tu hành, bà siêng năng, tinh tấn trong 7 ngày liền chứng được quả vị A-na-hàm. Quả vị này là một trong bốn quả ThánhThanh văn. Bà được chứng
quả
trước quý thầy, có Tha tâm thông, biết được tâm niệm, ý nghĩcủa quý thầy muốn gì, cần gì, bà cúng dườngchu cấp cho quý thầy đầy đủ theo
nhu cầu. Vị Tăng nào vừa bị bệnh, bà liền đem thuốc tới, vị nào khởi niệm muốn ăn món gì bà đem món ấy đến. Bà cúng dường quý thầy chu đáo, đúng mức như sở nguyện. Trong mùa an cưkiết hạ năm ấy, dưới sự bảo trợ,
cúng dường của bà, hết thảy quí thầy đều được chứng đắcđạo quả.

Chư tăng khắp nơi nghe tin, ai nấy đều tán tháncông đứccúng dườngtu tậpcủa quý thầy trong mùa an cưkiết hạ này. Đó là niềm vui duy nhất mà bà mong muốn và cũng để đền ơn quý thầy đã độ cho bà chứng quả thứ ba A-na-hàm.

Còn quý thầy tu tập trong khu vườn, ai nấy đều rất ngạc nhiên khi thấy mọi nhu cầu của mình mong muốn đều được bà cúng dường đầy đủ. Từ đó, quý thầy không dám khởi niệm lăng xăng, sợ bà hay biết được sẽ chê cười. Do đó quí thầy càng nỗ lực siêng năng, tinh cầntu tập, nên tất cả
quý thầy đều chứng quả vị A-la-hán.

Biết được sự thành tâm của bà giànhân duyêntốt đẹp của chư vị thánh đệ tử, Thế Tôntán tháncông đức tu hànhcủa quý thầy và không quên khen ngợi bà giàthiện tri thức kia. Chúng ta thấy rõ ràngngày xưa
chư Tỳ kheotu hành mau chứng đạo nhờ gặp bậc minh sư chân chánh, thầy lành bạn tốt lại được phương tiện hỗ trợ, vật thực đầy đủ, quí thầy khỏi
cần lo lắngcưu mang nên tất cả đều tập trung vào đề mục để chuyên tu nên mau chứng đạo.

Một hôm, có thầy Tỳ-kheo nghe chuyện, đến thỉnh cầuđức Phậtcho phép
đến khu vườn để được bà giàchu cấp đúng như ý nguyện, Như LaiThế Tônchấp thuận.

Trên đường đi đến chỗ bà lão, vị Tỳ-kheo khởi niệm muốn bà lão chuẩn bị cho mình một giường tòa để nghỉ ngơi, cho ăn những món ưa thích. Biết
được ý niệm ấy, bà già ra đón thầy tận cổng ngoài. Bà thưa: “Xin mời Đại đức vào trong nghỉ ngơi, giường tòa con đã đã chuẩn bị sẵn rồi.”

 Thầy Tỳ-kheo ngạc nhiên đến sững người, tại sao mình mới nghĩ như vậy mà bà lão đã biết? Để xem các bữa ăn của mình sắp tới bà lão sắm soạn thế nào? Quả không sai, những gì thầy mong muốn đều được bà lo đầy đủ không thiếu món gì.

Lúc đầu thầy Tỳ-kheo rất hoan hỷ trong lòng, nhưng nghĩ lại, thầy đâm
ra lo sợ. Bởi mình vừa muốn ăn món gì, cần vật dụng nào, bà già liền cho người mang tới ngay. Vậy mình tu mà còn khởi lòng tham cầu nhiều quá. Như vậy ở đây mình nghĩ gì bà già này đều biết hết, thầy Tỳ-kheo cảm thấybất an trong lòng, lo sợ đủ điều, thầy xin cảm ơn bà và lặng lẽ
rút lui.

Trên đường trở lạiTịnh xá, thầy Tỳ-kheo gặp đức PhậtTăng đoàn đang khất thực. Thầy Tỳ-kheo liền tiến đến trước mặtThế Tôn quỳ xuống đảnh lễ và thưa: “Bạch Thế Tôn, nay con trở lạiTịnh xá của mình tu hành, bởi ở chỗ bà lão, con sợ mình suy nghĩ bậy bạ nhiều quá làm mất uy
tín
của Tăng đoàn, nên con không dám ở lại trú xứ của bà ấy nữa.”

Được nhân duyên tốt, đức Phật khuyên thầy trở lại chỗ bà giàtu tập, bởi nơi đó sẽ cho thầy cơ hội phát triển công năngđạo hạnh tốt nhất. Vâng lờiđức Phật, thầy trở lại khu vườn bà lão, lần này thầy không dám lơ là, hễ khi vừa có một tạp niệm dấy lên, thầy liền buông xả không bám víu, cứ thế, thầy miên mật chánh niệm trong từng phút giây không gián đoạn. Nhờ vậy chẳng bao lâu thầy chứng quả A-la-hán.

Qua câu chuyện trên, cho ta một bài học quý báu của cuộc đời. Việc tu
tập
ai cũng có phần, chỉ có điều là ta có quyết tâmtu hành đến nơi đến
chốn hay không? Việc tu hành không chỉ dành riêng cho người xuất gia
người tại gia cũng có phần. Người tại gia, nhờ có phước đức, không phải
bận rộn lo ăn, lo mặc, nên việc tu hành được thuận tiện, dễ dàng như
già
kia. Còn người xuất gia, không phải lo lắng, mọi việc đều có người sắp xếp giúp đỡ, việc còn lại là ta có dám can đảmbuông bỏ hết mọi vọng
niệm
hay không? Vì vậy, việc tu hànhchứng quả không dành riêng cho người xuất gia mà người tại gia cũng có phần.

Người xuất giacần phải nhớ rằng, hằng ngày nhờ thọ dụng của đàn-na tín thítứ sự cúng dường, phải mang nợ nần chồng chất, nếu khôngcố gắngtu hành thì tự chuốc họa vào thân. Ngày nay có một số Tăng, Ni vì sợ thọ dụng của đàn-na tín thítu tập không đạt kết quả phải mang tội, nên họ tự thân kiếm sống bằng các hình thứcthế gian như gieo trồng hoa màu, sản xuất dụng cụ tiêu dùng, thực phẩm chay, hay mở quày bán kinh sách, văn hóa phẩm v.v…Những hình thức tự tìm cách thức nuôi sống bản thân để tu hành là rất tốt, nếu mình không say đắm vào công việc mà xao nhãng hành trì, tu tập. Ngược lại, người thọ nhận phẩm vật cúng dường của đàn-na tín thí là cách thức lúc nào cũng thấy mình được răn nhắc phải tu tập, hành trì. Người quyết chítu thân, lập hạnh thì không sợ mang tội vì thọ nhận phẩm vật cúng dường.

 


 

BỐ THÍCÚNG DƯỜNGTRONG SẠCH 


Một người nông dânhiền lành, chất phát có một vợ hai con, một trai, một gái, sinh sống bằng nghề trồng các loại hoa màu. Tháng giêng năm ấy,
họ thu được một quả bí đầu mùa nhằm ngày sinh nhật đức vua. Anh nông dân đã không ngần ngại đem quả bí đầu mùa vào Hoàng cung để dâng lên đức
vua nhân ngày sinh nhật lần thứ 50 của Ngài, với tất cả tấm lòng thành kính, tôn trọng của mình.

Trong ngày này, nhà vua nhận được rất nhiều phẩm vật trân quý, nhưng đối với người nông dân này, tuy món quà rất đơn sơ (quả bí) đã làm cho nhà vua động lòngtrắc ẩn và rất hài lòng khi nhận quả bí đó. Ngài truyền lệnh đặt quả bí vào mâm vàng, và ân cầnthăm hỏi về gia thế của người nông dân.

Để đáp lại tấm thâm tình cao cả đó, nhà vua đã bù lại bằng những món quà cao quý, dù gia đình anh nông dân có làm lụng vất vảsuốt đời cũng không thể nào có được. Trước khi ra về, nhà vua tặng cho anh một túi gấm
cẩn ngọc để bù lại chiếc túi rách đựng bí và 100 đồng tiền vàng để làm vốn làm ăn và một nhẫn kim cương cho người con gái làm của hồi môn khi lấy chồng.

Gia đình người nông dân nhờ bố thí một quả bí với tất cả tấm lòng hoan hỷ chân chật mà được thoát kiếp nghèo khổ. Từ đây, anh và gia đìnhđiều kiệnmở lòng chia sẻ, giúp đỡ mọi người nhiều hơn khi họ khó khăn.

Sự kiện nhà vua nhận được quả bí mừng sinh nhật và sự ban thưởng hậu hỷ cho người nông dân đã làm chấn độngdư luận trong nước. Khắp nơi đâu đâu cũng vui mừngtán thán về tấm lòng cao thượng của đức vua. Riêng nhà
ông phú hộ trong làng, ai cũng lấy làm buồn bã, tiếc nuối, họ tự đau khổ, trách móc mình đần độnquá mức, trong nhà rất nhiều đồ vật quý giá ngàn lần quả bí, mà không biết dâng quà mừng sinh nhật để được nhà vua ban thưởng to lớn như nhà nông dân nghèo kia. Càng nghĩ, họ càng khổ đau
thấm thía đến tận cùng.

 


 

CHÚC MỪNG KHÔNG TRONG SẠCH


Lão phú hộ lúc nào trong lòng cũng tự so sánh, nhà nông dân chỉ dâng tặng một quả bí mà được nhận lại quá nhiều đồ quí giá gấp trăm ngàn lần,
lãi quá, lãi quá. Lão vừa so sánh vừa tiếc nuối và trong lòng cảm thấy uất ức, ganh tị với người nông dân trong xóm.

Thế là, lão phú hộ liền triệu tập một cuộc họp đột xuất để bàn kế hoạch cùng tất cả người thân trong gia đình. Cả nhà đều nhất trí chở đầy
bốn cỗ xe tứ mã không thiếu thứ gì hết và họ cũng chờ đợi sự ban ơn của
vua. Lần này, đức vua lấy làm khó chịu, không biết giải quyết như thế nào cho phù hợp trước sự dâng tặng quá nhiều của gia đìnhphú hộ.

Một tia sáng lóe lên, đức vua đã nghĩ ra một món quà tuyệt hảo để trả
ơn
cho gia đìnhphú hộ. Và món quà được mang đến chỉ có cái bị rách đựng quả bí đỏ của anh nông dân hôm trước, kèm theo lời giải thích nói lên giá trị của quả bí là do tấm lòng tôn kính, quý trọngchân thực, không có mưu cầu.

Lão phú hộgia đình trước khi nhận quả bí được đức vua ân cần chỉ dạy về phương diện cho, tặng, dâng, hiến không phải để cầu lợi lộc về cho mình.

Lão phú hộgia đình do lòng tham lam, ích kỷ, muốn bố thí cho vua để được bỗng lộc cao quý. Nào ngờ đâu “mất cả chí lẫn chài,” nhưng nhờ vậy màgia đình lão đã ý thức được giàu sang, nhiều của cải là do nhiều đời trước biết làm phước cúng dường. Từ đó, lão ta và gia đình thay đổi quan niệm, sống có nhân từđạo đức hơn.

Một trái bí và chiếc bị rách để đổi lấy 4 cỗ xe đầy ắp nhiều món trân
quý đã làm cho nhà phú hộ thay đổi cách nhìn trong sự sống tương quan này. 

Trên đời này, giàu hay nghèo là do nhân duyên của nó, người được giàu sang, phú quý là nhờ vào các yếu tố:

Yếu tố thứ nhất là biết tích lũy, làm phước bố thícúng dường, giúp đỡ, chia sẻ.

Yếu tố thứ hai là phải siêng năng, tinh cần, làm việc có phương pháp, có nghệ thuật.

Yếu tố thứ ba là không xa hoa, lãng phí, biết tiết kiệm trong chi tiêusinh hoạtgia đình.

Yếu tố thứ tư là không trộm cướp, lường gạt của người và làm ăn chân chánh.

Như người nông dân kia với lòng chí thành, chí kính, sẵn sàng mang quả bí dâng tặng đức vua không một chút mong cầu hay vụ lợi đã làm cho đức vua cảm độngban tặng lớn.

Cái chìa khóa vạn năng của việc làm phước là ở chỗ này, chúng ta cần lưu tâm khi làm phước, không nên khởi tâm mong cầu thì cái kết quả mới được thù thắng.

 


 

BỐ THÍ BA LA MẬT


Bố thí Ba-la-mật là gì? Tại sao ta phải thực hành bố thí Ba-la-mật?

Bố thí Ba-la-mật là bố thívật chất lẫn tinh thần. Khi ta đem của cảivật chất hay sự hiểu biết tặng, cho người khác vô điều kiện, không có bất cứ một dụng ý hay yêu cầu nào, ta phát tâmbố thí một cách hoan hỷ, không cầu lợi, không cầu danh, kể cả khi thực hành bố thí bị người nhận bố thí làm điều trái ý, nghịch lòng, mà tâm người bố thí vẫn hoan hỷ, không phiền muộn, khổ đau. Thực hành bố thí với tấm lòng như thế thì gọi
bố thí Ba-la-mật.

Nói cách khác, bố thí Ba-la-mật là cho những gì khó cho dù đau khổ đến tận cùng, ta vẫn một lòng quyết chí không buồn khổ, không ân hận hay
nuối tiếc, dám cho những gì khó cho.

Ngày xưa, ngài Xá-lợi-phất khi nghe đức Phật giảng về hạnh bố thí Ba-la-mật liền phát nguyệnthực hành ngay Bồ-tát đạo.

Trong mười đệ tử lớn của đức Phật, Tôn giả Xá-lợi-phất là người trí tuệ bậc nhất, nên được Tăng chúng gọi là Tướng Quân Chánh Pháp. Muốn thực hành bố thí Ba-la-mật theo lời Phật dạy, ngày hôm đó, trên đường du
hóa
, Ngài khởi nghĩ, hôm nay mình sẽ thực hành bố thíđiều kiện.

Biết được tâm niệm của ngài Xá-lợi-phất, một Thiên nhânĐại Phạm Thiên liền biến hóa làm một người phàm ngồi khóc bên vệ đường. Ngài Xá -lợi-phất đi ngang qua thấy vậy liền hỏi:

– Vì sao ông ngồi đây khóc lóc thế này? Chắc là có duyên sựkhông
giải
quyết được, ông nói ra tôi có thể giúp được điều gì chăng?

Người ấy nói:

– Chẳng giấu gì Ngài, những điều tôi đang cần khó ai có thể giúp được.

Nghe vậy, ngài Xá-lợi-phất nói:

– Không sao, bất cứ điều gì tôi cũng có thể giúp ông được.

Người ấy mừng rỡ bạch rằng:

– Thưa Ngài, mẹ tôi đang bệnh nặng, thầy thuốc nói phải có con mắt của người tu hành hòa với thuốc mới chữa khỏi bệnh.

Chẳng cần suy nghĩ, ngài Xá-lợi-phất liền móc con mắt trái của mình đưa cho người ấy.

Người ấy nói:

 – Không được rồi thầy ơi, thầy thuốc bảo phải dùng con mắt bên phải mới chữa được bệnh này.

Nghe vậy, ngài Xá-lợi-Phất hơi chựng lại một chút, rồi mạnh tay móc tiếp con mắt bên phải đưa cho người đó.

 Người ấy cầm hai con mắt ném xuống đất rồi dùng chân chà nát.

Ngài Xá-lợi-phất nghe biết người ấy làm như thế không dằn được tự chủ
liền thoái thất bồ đề tâm. Từ đó, ngài Xá-lợi-phất thấy thực hành bố thí Ba-la -mật khó quá nên Ngài không phát tâmthực hành Bồ-tát đạo nữa.

Đức Phật nhờ phát tâm hành Bồ-tát đạo từvô số kiếp, Ngài đã làm được
những việc khó làm, nhẫn được những điều khó nhẫn, giúp vô sốchúng sinh được an lạc, giác ngộ, giải thoát, tùy theotâm nguyệnchúng sanhbố thí, vì vậy Ngài mới thành Phật quả

Bố thí cũng có nghĩa là buông xả tâm tham đắm, dính mắc nơi mỗi con người. Và Bố thí Ba-la-mật là đem cho vật chất hay tinh thần hoặc là thân này phải chết để giúp đỡ cho người thoát khổ mà tâm vẫn hoan hỷ, không chấp mắc, không hối hận, tiếc nuối hay mong cầu.

Chúng ta thấy, ngài Xá-lợi-phất là bậc đệ nhất trí tuệ mà khi phát tâmthực hành bố thí Ba-la-mật vẫn còn bị thoái thất Bồ-đề tâm thì đây không phải là việc đơn giản ai làm cũng được. Thực hành kết quả việc bố thí Ba-la-mật phải là người phát tâm cầu Phật quả, đời đời, kiếp kiếpvì lợi íchchúng sanh, lấy niềm vui thiên hạ làm niềm vui chính mình mới
được.

Muốn vậy, khi thực hành bố thí không phân biệt thân hay thù, mà chỉ tùy duyên, tùy thời cho phù hợp. Muốn đạt đến sự trọn vẹncủa Bố thí Ba-
la-mật, chúng ta phải bố thí với lòng thành kính, thành tâm nghĩ rằng, bố thítrách nhiệm và bổn phận của người tu theo đạo Phật.

Bồ-tát bố thí Ba-la-mật luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu cần thiết của chúng sanh, không phân biệt thân hay thù bằng nhiều cách như tài thí (thí các loại tiền bạc, của cảivật chất), nội thí ( cho những gì đang có trong thân thể này) Pháp thí (dùng lời nói chỉ cho chúng sanh hiểu thấu được lý nhân quả, nghiệp báo để tránh xa những điều xấu ác, hay làm
các việc thiện lành.)

Bồ-tát sẵn sàng bố thí tất cả, không bao giờ có sự hối tiếc hay phiền
muộn
dù phải chịu khổ, chịu chết thay cho chúng sanh. Bố thí như thế mới gọi là bố thí Ba-la-mật.

Tại sao Bồ-tát thực hành bố thí Ba-la-mật?

Bởi vì Bồ tát là người đang trên đường tiến tớigiác ngộPhật quả, cho nên mỗi khi làm việc gì có lợi cho chúng sanh, Bồ-tát đều phát nguyệnhồi hướng, nhờ thế tâm từ bi của Bồ-tát càng thêm tăng trưởng và trong hạnh bố thí, chỉ có bố thí Ba-la-mật là phước quả cao hơn tất cả.

Bồ-tát là người phát tâm cầu thành Phật quả để hóa độchúng sanhthoát khỏi khổ đau, sanh tử luân hồi. Vì vậy, trong suốt quá trình dấn thân, tu học, hành đạo, Bồ-tát luôn phát Bồ-đề tâmcho đến lúc thành Phật.

Người mới phát tâm cầu làm Bồ-tát phải có hai điều kiện tất yếu là phát nguyệnhồi hướng. Ngày trước, Bồ-tát Sĩ-đạt-ta (Phật Thích Ca sau này) cách nay 2600 năm đã phát nguyện dưới cội Bồ-đề rằng: “Ta
dù thịt nát xương tan, nếu khônggiác ngộthành Phật để cứu độchúng sanh, ta quyết không rời khỏi chỗ này và những gì ta biết được, chứng được cùng với các việc làm thiện ích, ta xin hồi hướng cho tất cả chúng sanhcùng chung
hưởng.”

Phát nguyện là để giữ vững ý chí, lập trường của mình khi gặp trở ngại, khó khăn. Phát là phát cái tâm làm các việc thiện lành, còn nguyện
giống như một lời thề nguyền, để ta ghi nhớ mà quyết tâm phấn đấu khi gặp chướng duyên hay trở ngại. Mỗi khi làm được việc lợi ích gì, ta đều hồi hướng hết cho tất cả mọi loài chung hưởng thì phước báu của ta mới được tăng trưởng.

Bởi vậy, phát nguyệnhồi hướng công đứcviệc làm rất quan trọng
của Bồ-tát để hướng đến bố thí Ba-la-mật và thành tựuPhật quả.

Tóm lại, bố thí Ba-la-mật là bố thí bình đẵng, không phân biệt thân, sơ giàu, nghèo. không bao giờ hối tiếc hay phiền muộn trong cả ba nội dung: tài thí, nội thí và pháp thí.

 


 

CÚNG DƯỜNGTAM BẢO


Tam Bảongọn đèn sáng giúp con ngườivượt qua tăm tối vô minh. Tam
Bảo
có khả năng chuyển hóaphiền não khổ đau thành an vui, hạnh phúc. Nhờ Tam Bảo ta biết được điều hay, lẽ phải, biết rõ thật sự sống của con
người
và muôn loài đều phải cưu mang, nương nhờ lẫn nhau. Vì vậy, người
tu hành theo đạo Phật cần phát triển lòng thương yêu, tinh thầntrách nhiệm và bổn phận giúp đỡ, gìn giữ sự sống cho mình và muôn loài chúng sanh. Do đó Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) như ba viên ngọc quý, không gì có thể so sánh được. Và Tam Bảo có sáu ý nghĩa không thể nghĩ bàn:

Một là nghĩa hy hữu, tức là hiếm có, khó được như vàng, bạc, kim cương, ngọc quý… người nghèo không thể có được. Phật, Pháp, Tăng cũng vậy, dù người ở sát bên chùa, nhưng thiếu phước cũng khó gặp, không thể thân cận với Tam Bảo nên gọi là hy hữu.

Hai là nghĩa ly cấu, tức lìa xa những việc xấu ác hay làm những việc tốt lành, như châu báuthế gian, trong sáng, sạch đẹp không tỳ vết, khó vấy bẩn. Phật, Pháp, Tăng cũng vậy, hay xa lìaphiền não, xấu ác nên gọi
Ly cấu.

Ba là nghĩa thế lực, như châu báuthế gianthế lực lớn, giúp người vượt quanghèo khó, còn dùng trị bệnh trúng độc. Tam Bảo cũng vậy,
có đủ sáu thông (Lục thông), tùy cơ ứng biến, dứt kiếp nghèo khổ, giải thoát được sanh tử luân hồi nên gọi là thế lực.

Bốn là nghĩa trang nghiêm, như châu báuthế gian, làm đồ trang sức cho thân thể trở nên xinh đẹp, lộng lẫy, ai cũng muốn ngắm nhìn. Tam Bảo
cũng vậy, lấy nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên làm nền tảng giúp người làm chủ bản thân, tâm trí trở nên sáng suốt, thanh tịnh, làm việc chân chánh nên gọi là trang nghiêm.

Năm là nghĩa tối thắng, như châu báuthế gian quý hơn tất cả mọi vật, nhưng xét cho cùng không quý bằng mạng sống con người. Tam Bảo cũng
vậy, là pháp thù thắng hơn hết giúp người vượt qua nỗi khổ, niềm đau, sống được an vui, hạnh phúc nên gọi là tối thắng.

Sáu là nghĩa bất biến (không thay đổi) như vàng ròngthế gian, dù đập, nấu, mài, dủa vẫn không thay đổi bản chất. Tam Bảo cũng vậy, người thân cận Tam Bảo tất được an vui, hạnh phúc, không có gì cao hơn, hay hơn, không ai có thể làm tốt hơn, không bị vô thườngchi phối, nước không thể cuốn trôi, lửa không thể thiêu đốt nên gọi là bất biến.

Vì vậy, thực hànhcúng dườngTam Bảo là phước báu thù thắng hơn tất cả, bởi nhờ sự cúng dường này mà Tam Bảo được lan truyền rộng khắp và trường tồnthế gian để nhiều người nương tựa, tu học, thực hành những lời Phật dạy, vượt quacạm bẫycuộc đời.

Phật là người tự tin ở khả năng chính mình,
nỗ lựctu tập, hành trìcho đếngiác ngộhoàn toàn, không còn sự trói buộc và sai sử của các thứ dục lạcthế gian mà người thường tình khó vượt qua nỗi.

Pháp là những lời dạy chân chánh, thiết thực của chư Phật giúp người tu tập, hành trìvượt qua nỗi khổ, niềm đau cuộc đời.

Tăng là những người tu hành theo đạo Phậtnhiệm vụtruyền bá những lời Phật dạy, gìn giữ chùa chiền, kinh tạng,
tạo điều kiện cho mọi người thân cận Tam Bảo, học tập, hành trì những lời Phật dạy để có được an vui, hạnh phúc trên cuộc đời.

Do đó, thực hànhcúng dườngTam Bảo là điều cần thiết giúp cho Tăng, Ni có điều kiệngìn giữ, trải rộng và phát huy tốt vai trò của Phật pháp. Đồng thờichư Tăng, Ni nhận sự cúng dườngTam Bảo phải ý thức về trách nhiệm của mình, tự giáctu hành, không lơ là, giãi đãi, vì Tăng, Ni có trọng tráchvô cùng lớn lao, trên cầu thành Phật, dưới hóa độchúng sanh, giúp mọi người tin sâu nhân quả, sống biết thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, không ỷ lại vào đấng quyền năng nào, mà sống có trách nhiệm về mọi hành vi tạo tác của mình.

Tóm lại, việc gieo trồng phước đức thông qua bố thí, cúng dường là cách thức bán đi cái nghèo tốt nhất, nhanh nhất, đồng thời cũng là phương tiện giúp mọi người gần gũi nhau trên tinh thần tương thân, tương
ái, tương trợ lẫn nhau. Đó là pháp yếu của đạo Phậtđi vào lòng người tốt đạo đẹp đời.

Người người làm việc thiện

Nhà nhà làm việc thiện

Mọi người giúp đỡ nhau

Tất cả sống thái bình

Có nhiều cách gieo trồng phước đức, nếu ta biết bố thíđúng lúc, đúng
chỗ, đúng đối tượng thì phước đức sẽ vô cùng tận. Khi thực hành bố thí,
dù là người nghèo khổ, ăn xin, ta cũng phải tôn trọng, thành tâm mới có
phước đức, còn nếu ta bố thí mà có thái độcoi thường, khinh rẽ hay mạt
sát
, tuy vẫn có phước, nhưng ta phải chịu quả báohận thù về sau.

Phước thì được hưởng nhưng họa vẫn phải chịu. Muốn có sự sống tốt đẹptrong đờihiện tại thì ngay tại đây và bây giờ ta phải thực tập gieo trồng phước đức để làm hành trang cho mai sau. Tất cả của cảivật chấtthế gian, danh vọng, tiếng tăm, nhà cửa, tiền bạc, ruộng vườn ta sẽ không mang theo được khi nhắm mắt lìa đời, chỉ có nghiệp tốt hoặc xấu ta
đã tạo nên trong đời nó bám theo ta đi vào kiếp khác. Do đó, quý Phật tử phải sáng suốt chọn lựa, thường xuyên gieo trồng phước đức để tạo nên
nghiệp thiện lành, làm tư lương, hành trang cho tiến trình tái sanh, sử
dụng
trong đời sống tiếp theo kể cả khi ta được sanh về cảnh giớiTây Phương Cực Lạc của đức Phật A-Di-Đà.

 

(CÙNG TÁC GIẢ)