Giáo Lý Nghiệp

0
246


GIÁO
NGHIỆP


Thích Tâm Thiện


A* Dẫn nhập

Trong kinh
Majjhima Nikàya (Trung Bộ), Đức Phật dạy rằng: “Con người là chủ nhân của
nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sinh
ra; nghiệp là quyền thuộc, là nơi nương tựa” (Owners of their karma are
the beings, heir of the karma. The karmar is their womb from which they are
born, their karma is their friend, their refuge – 155). Như thế, sự hiện hữu
của mỗi con người đồng thời là sự hiện hữu của nghiệp thiện và bất thiện từ (
lượng kiếp
) quá khứ. Mỗi con người cá thể là điểm trung tâm của nghiệp; ngoài
mỗi cá thể ấy sẽ không có bất kỳ một cái nghiệp nào được bàn đến.

B* Nội dung

I) ĐỊNH NGHĨA:

Nghiệp là gì?

Theo từ nguyên,
nghiệp, tiếng Sanskrit gọi là karma, Pàli gọi là kamma có nghĩa là hành động có
tác ý (volitinan action). Nói cách khác, nghiệp luôn luôn được bắt nguồn từ
những tạo tac của tâm(y) thông qua những hoạt động của thân, miệng, và ý, gọi
chung là tam nghiệp. Do đó, một hành động (tạo tác), nếu không phát sinh từ tâm
thì không thể gọi là nghiệp, mà hành động chỉ được gọi là hành động hay hành
động duy tác (kriyà). Và như vậy, định nghĩa của nghiệp là: hành động có tác ý,
hay hành động được phát sinh từ tâm.

II) NỘI DUNG
CỦA NGHIỆP:

Thông thường, nói
đến nghiệp là nói đến vấn đề thiện, ác trong vòng sinh diệttương tục của
đời sống con người. Thông qua việc tạo nghiệp (thiện hay ác) mà con người tự
x6y dựng cho mình một định nghiệpmột đời sống khổ đau hay hạnh phúc. Nhưng
khổ đau hay hạnh phúc là những cảm nhận của riêng mỗi con người khác nhau. Vì
thế, sẽ không có một khuôn mẫu ước lệ nào có thể quy ước một cách đầy đủ về
nghiệp. Tuy nhiên, cơ sở của nghiệp là tâm (ý), do đó, khảo sát về nghiệp chính
là khảo sát về cội nguồn của tâm. Đức Phật dạy:

“Ý dẫn đầu
các pháp
Ý làm chủ tạo tác
Nếu với ý nhiễm ô (ác)
Nói năng hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như chiếc xe theo chân con vật kéo”. (Dhp 1)

” Ý dẫn đầu
các pháp
Ý làm chủ tạo tác
Nếu với ý thanh tịnh (thiện)
Nói năng hay hành động
An lạc bườc theo sau
Như bóng không rời hình”. (Dhp 2)

Qua bài kinh trên,
chúng ta nhận rõ rằng chính mối tương quannhân quả từ nơi tâm ý của con người
đã hình thành nên cái nghiệp thiện hay ác mà con người phải thọ nhận. Vì thế,
Đức Phật dạy về nghiệp là nhằm đánh thức con người thức tỉnh nơi tâm ý của
chính mình (tự tịnh kỳ ý) để từ đó đi vào một đời sống an lạc giải thoát.Tất
nhiên, cái mà gọi là nghiệp ở đây là những gì thuộc pháp hữu lậu (nghiệp hữu
lậu), tức là những gì thuộc thiện – ác, khổ đau – hạnh phúc v.v…nó găn liền
với đời sống đạo đức, luân lý của con người, với những cảm thọ vui buồn – khổ
lạc, mà không phải là những gì thuộc vô lậugiải thoát. Do đó, trong một số
trường hợp, khi các kinh văn đề cập đến nghiệp và lậu, chúng ta cần hiểu rằng
đó là một lối diễn đạt nhằm phân biệt giữa cái thiện, ác và cái đã thoát ly mọi
ý niệm về thiện, ác. Chẳng hạn, tham – sân – si là nghiệp bất thiện, nghiệp ác;
nhưng tự thân không tham – không sân – không si là cái nghiệp thiện, hay cái
nghiệp thanh tịnhgiải thoát. Bởi lẽ,thanh tịnhgiải thoát tự bản thân
đã thoát ly mọi khái niệm thiện – ác, hữu – vô. Do vậy, khi bàn đến nội dung
của nghiệp , ở đây chúng ta chỉ thuần túy nói đến nghiệp thiện và nghiệp ác,
tức là nghiệp hữu lậu mà không nói đến nghiệp vô lậu. Cố nhiên, định nghĩa
“Nghiệp là hành động có tác ý, hay hành động được phát sinh từ tâm”
chỉ được dùng cho tất cả nghiệp hữu lậu., tức là mọi vấn đề liên quan đến thiện
và ác.

III) PHÂN LOẠI
NGHIỆP:

Thông thường,
nghiệp được tạo tác trện cơ sở của thân, khẩu và ý. Tất nhiên, cả ba nghiệp
trên đều xuất phát từ ý hay còn gọi là tâm. Như thế, khi xét đến nghiệp của một
von người là xét đến thân nghiệp, khẩu nghiệpý nghiệp. Ngoài ba nghiệp này,
không còn một cái nghiệp nào khác. Tuy nhiên, nghiệp có những tính chấtchức
năng
khác nhau nên chúng được phân làm nhiều loại và có nhiều tên gọi khác nhau.

1) Phân loại
1 (theo tên gọi)

Theo trình tự,
trước hết, giáo lý về nghiệp được chia thành hai loại:

a/ Nghiệp
thiện:
Tư duy và hành động về các
điều lành như thực hành Ngũ giớiThập thiện giới.

b/ Nghiệp
ác
:
Tư duy hành động về các điều
lành như thực hành những điều trái ngược với Ngũ giớiThập thiện giới.

Từ hai loại nghiệp
trên, chúng ta phải xét đến quá trình tạo tác, tư duy và hành động để hình
thành nên nghiệp (thiện hay ác). Do đó,nếu xét về tiến trình của nghiệp
(process of karma) thì nghiệp được chia thành hai loại nữa:

a/ Nghiệp
nhân
:
Những tư duy, hành động tạo
nghiệp chưa đưa đến một kết quả. b/ Nghiệp quả: Những tư duy,
hành động tạo tác sau một tiến trình đã tạo thành nghiệp, còn gọi là nghiệp quả
hay nghiệp báo.

Trong thực tế, khi
nói đến nghiệp, hàng Phật tử thường chú trọng đến nghiệp báo (nghiệp quả) hơn
nghiệp nhân. Và đây là chỗ thiếu sót của chúng sanh khi đối diện với nghiệp.
Và cũng chính điều này khiến cho chúng sanh quan tâm đến quả báo hơn là gieo
nhân. Nghiệp quả hay nghiệp báo còn được gọi là quả dị thục (nghiệp đã chín
muồi
).

2) Phân loại
2 (theo tiến trình)

Xét theo tiến trình
(từ nhân đến quả) của nghiệp thì có hai loại nghiệp cơ bản:

a/ Định
nghiệp
:
Là nghiệp được lưu chuyển
trong thời gian ổn định và từ nhân đến quả thống nhất với nhau. Ví dụ, trứng gà
sau khi được ấp trong một thời gian sẽ nở ra con gà. Nói chung, các nghiệp nhất
định
sẽ đưa đến kết quả (như ăn thì sẽ no) thì được gọi là định nghiệp.

b/ Bất định
nghiệp
:
Là nghiệp không dẫn đến
kết quả, hoặc kết quả sẽ thành tựu trong thời gian bất định, hoặc có thể giữa
kết quả và nguyên nhân không hoàn toàn thống nhất với nhau, thì được gọi là bất
định nghiệp
.

3) Phân loại
3 (theo thời gian)

Nếu căn cứ theo
thời gian, chúng ta nhận ra hai loại nghiệp, một đã chín muồi và một đang và sẽ
diễn tiến trong dòng nghiệp tạo tác:

a/ Nghiệp
cũ:
Là nghiệp đã được tích lũy từ
nhiều đời sống quá khứ, và hiện tại nó đã chín muồi. Chẳng hạn thân thể của ta
(cao, thấp, mập, ô1m ,thông minh, ngu đần, hạnh phúc hay bất hạnh v. v…) ngày
nay là do cái nghiệp đã được gieo từ trong vô thủy. Các nghiệp quả (y báo
chánh báo) của thân này là quả dị thục của các nghiệp từ vô thủy. Ngoài thân
này, không hề có một cái nghiệp riêng lẻ, cũ xưa nào khác.

b/ Nghiệp
mới:
Nếu như thân thể này là
nghiệp cũ thì mọi tao tác đang làm và sẽ làm của ta ngày hôm nay là do các tạo
tác trước đó. Và sự thành đạt của ngày mai như thế nào sẽ tùy thuộc vào tư duy
và hành động của ngày hôm nay. Kinh Tương Ưng IV, Đức Phật dạy: “Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ý là nghiệp cũ. Các hành động của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý trong hiện tại là nghiệp mới”.

Trong Truyện Kiều,
thi hào Nguyễn Du đã chỉ rõ cái nghiệp cũ và mới của con người:

“Sư rằng phúc họa đạo trời
Cõi nguồn cũng ở lòng người mà ra
Có rtrời mà cũng có ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan”

Họa và phúc
(thiện, ác) là đạo trời, nhưng cái đạo trời ấy cội nguồn của nó chính là ở tại
lòng người (tâm,ý) mà sinh ra. Và trời ở đây là nghiệp cũ, còn ta chính là
nghiệp mới.

4/ Phân loại
(theo tính chất)

Như đã trình bày,
nghiệp báo là sự chín muồi (quả dị thục) của các nghiệp thuộc về bất thiện. Do
đó, khi nói đến nghiệp báo (nghiệp quả) là nói đến tiến trình nhân – quả của
nghiệp. theo giáo lý về nghiệp, một nhân không thể tạo thành một quả, mà phải
có các duyên phụ trợ. Cho nên, nói đủ phải nói là nhân – duyên – quả. Duyên là
các nhân phụ làm cho nhân chính thành quả; như nước, phân, đất, sự cần mẫn chăm
bón của con người (là các duyên) làm cho hạt giống thành tựu nảy nở. Vì thế,
khi tìm hiểu về quả dị thục (sự chín muồi) của nghiệp, ta phải tìm hiểu về 3
đặc tính sau:

a/ Dị thời
di thục:
Thời gian chín muồi của
nghiệp quả khác với thời gian tạo nghiệp (nghiệp nhân). Ví dụ như trái xoài,
thời điểm khi sinh ra cho tới khi nó chín muồi là khác nhau (khác thời mà chín).

b/ Dị loại
nhi thục:
Kết quả bị biến chất
(dị loạ) so với thời gian mới tạo nghiệp. Ví dụ, trái xoài khi nhỏ thì chua
nhưng khi chín thì ngọt (biến chất rồi mới chín).

c/ Biến di
nhị thục:
Kết quả bị biến thái
biến tướng (biến dị) so với thời gian mới tạo nghiệp. Ví dụ trái xoài non thì
màu xanh, đến khi chín thì màu vàng.

5) Phân lọai
5 (theo năng lực)

Năng lực của
nghiệp được hình thành theo từng loại nghiệp khác nhau trong một tiến trình tâm
rồi đưa đến sự hình thành các đặc tính của nghiệp.

a/ Tập quán
nghiệp:
Là nghiệp được huân tập
bởi một thói quen trong đời sống hàng ngày. Có thể đó là thói quen thuộc tâm
, hành vi, cách ứng xử v.v…Ví dụ, hút thuốc lá là một Tập quán nghiệp.

b/ Tích lũy
nghiệp:
Là các nghiệp được tích
lũy
dần như rót nước vào thùng, có thể xem thân của ta như là một tích lũy
nghiệp từ vô thủy.

c/ Cục trọng
nghiệp
:
Là các nghiệp gây a61n
tượng xấu ác cực mạnh và sâu trong tâm lý của con người như phạm các tội ngũ
nghịch
(giết cha, mẹ (giết người) v.v..).

d/ Cận tử
nghiệp
:
là nghiệp lúc sắp chết
hay những sức mạnh tâm lý của con người trước lúc tắt thở. Nghiệp này cực kỳ hệ
trọng
trong việc hướng dẫn nghiệp thức đi tái sinh. Những tư tưởng cuối cùng
của người chết sẽ tạo nên một cận tử nghiệp (thiện hoặc bất thiện). Một người
có thể suốt đời làm ác, nhưng trước lúc tắt thở, nỗ lực sinh khởi về thiện
pháp
, về những điều thiện trong đời, và nhờ ý lực đó có thể tái sinh vào cõi
tốt đẹp (tương tự như vậy đối với các trường hợp ngược lại). Từ đó, qua những
kinh nghiệm cận tử, chúng ta cần huân tập các thiện nghiệp trong đời sống của
mình để tạo thành một sức mạnh (ý lự) đoạn trừ các ác nghiệp ngay trong đời
sống hàng ngày và cả đến giờ phút lâm chung.

6) Một số
danh từ về nghiệp mà bạn cần biết

-Bạch nghiệp
(nghiệp trắng): các nghiệp thiện
-Hắc nghiệp (nghiệp đen) các nghiệp ác
-Phi hắc bạch nghiệp: các hành động duy tác (không thiện không ác)
-Biệt nghiệp: nghiệp riêng của mỗi người
-Cộng nghiệp: nghiệp chung của tập thể(gia đình)
-Thánh nghiệp: nghiệp đưa đến thánh đạo
-Duy tác nghiệp: nghiệp không có sanh y (không có quả)
-Chướng nghiệp: nghiệp cản trở sự kết thành của quả
-Đoạn nghiệp: nghiệp tiêu diệt các năng lực sanh nghiệp

IV) THÁI ĐỘ TÂM
TIẾP THỌ NGHIỆP:

Đây là một vấn đề
vô cùng quan trọng trong giáo lý nghiệp báo. Vì mỗi người đều có cái nghiệp
riêng do vô minh, ái thủ đã tạo nên, do đó đương nhiên phải đối diện với quả
báo
của mình. Sự trốn tránh nghiệp lực là điều vô ích. Cụ Nguyễn Du, trong
Truyện Kiều đã nói rằng:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Vì thế, vấn đề
quan trọng được đặt ra đối với người đang trên đường tu tập không phải là
nghiệp mà chính là thái độ tâm lý tiếp thọ nghiệp. Kinh Nipata, Đức Phật dạy
rằng: “Người đã tiêu diệt ải kiến, phá tan lớp tối tăm dày đặc trong tâm
sẽ không còn thênh thanh di mãi. Đối với người ấy, vấn đề nhân quả (nghiệp báo
không còn nữa”.

Đoạn kinh trên cho
ta thấy rằng tâm lý của người giải thoát sẽ hhóa giải mọi nghiệp của chính họ,.
Như một nhà sư vô cớ bị tù, ở trong tù mà lòng thì vô cùng bình an, không hề
dao động; nghĩa là nhà sư ấy không còn bị nghiệp lực chi phối nữa. Chẳng hạn,
cùng một hành động xảy ra đối với hai người nhưng thái độ thọ nhận hành động
(nghiệp)thì hoàn toàn khác nhau như trường hợp “nhà giàu đứt tay bằng ăn
mày
đổ ruột”. Do đó, đối vớ nghiệp,thái dộ tâm lý của người tiếp thọ thì
quan trọng hơn là chính cái nghiệp ấy. Ngài Huyền Giác, trong Chứng đạo ca, bảo
rằng: “Sát na diệt khước A Tỳ nghiệp”, có nghĩa là khi đã giác ngộ
thì mọi nghiệp chướng (nặng như A Tỳ) trong tích tắc cũng đều băng tiêu. Vì
do
này, nên trong kinh thường nói đến thọ nghiệp (chịu đựng nghiệp) và phi thọ
nghiệp
(không bị chi phối bởi nghiệp).

* Kết luận

Đức Phật dạy rằng:
“Không ai làm cho ta nhiễm ô, cũng không ai làm cho ta trong sạch; trong
sạch
hay ô nhiễm là tự nơi ta, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm,chỉ có ta làm cho
ta trong sạch” (Dhp). Lời dạy trên đã mở ra con người một hướng đi rất chủ
động trong việc tạo nên một đời sống an lạc giải thoát ngay tại cuộc đời này.