Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 53)

0
6

KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 53)



Pháp
Tịnh Không


 


Đức hiệu sau cùng, Phật


Chữ
này mọi người nghe rất nhiều. Phật là lượt dịch của Phật Đà, ý nghĩatrí
tuệ
, là giác ngộ. Trong trí tuệ có nói ba loại là Nhất thiết trí, Đạo chủng
trí
, Nhất thiết chủng trí, ba loại trí tuệ viên mãn đầy đủ. “Trí” là thể,
“giác” là dụng, họ có thể tự giác, có thể giúp đỡ người khác giác ngộ, làm đến
được ta và người viên mãn giác ngộ thì mới được gọi là Phật. Ở đây nói đến tự
tha viên mãn giác ngộ thì có một số đồng tu khởi lên nghi hoặc, Phật giúp chúng
ta
giác ngộ, hiện tại chúng ta vẫn chưa giác ngộ, vì sao Ngài thành Phật rồi?
Các vị phải nên biết, giác tâm ý nghĩa viên mãn, vốn dĩ giáo hóa người khác
chính là giúp chính mình giác ngộ, chính mình giác ngộ viên mãn rồi chính là tự
hành hóa tha
viên mãn. Do đây có thể biết, nếu như bạn không phát tâm giác
ngộ
người khác, bạn chính mình giác ngộ thì không thể được viên mãn
. Đây
chính là người xưa thường nói: “Giáo học tương trường, sư chất đạo hợp”.
Thầy giáo giúp cho học trò, học trò cũng tương trợ thầy giáo, cho nên giáo học
thực tế mà nói là giúp nhau thành tựu, lợi ích vô biên, không chỉ là thầy giáo
dạy học trò. Cho nên, có vị Bồ Tát nào mà không nhiệt tâm đi giảng kinh nói
pháp giáo hoá chúng sanh? Bạn muốn hỏi họ là tại vì sao vậy? Trên thực tế là vì
để tự giác. Tự giác giác tha là một sự việc, không phải là hai việc. Không chịu
phát tâm giúp người khác thì chính mình không cách gì giác ngộ viên mãn, đạo lý
này chúng ta nhất định phải hiểu. Đến lúc nào bạn đi giúp người khác mà không
liên can với chính mình thì thành Phật. Sau khi thành Phật, gọi là thừa nguyện
tái sanh. Họ chính mình tự giác đã viên mãn rồi, vào lúc đó giúp đỡ tất cả
chúng sanh, thuần túygiác tha, trong đây không có tự giác. Bồ Tát từ sơ tín
vị
đến Đẳng giác, giác tha đều là vì tự giác, đến Bồ Tát Đẳng Giác vẫn là như
vậy. Vậy thì do đây có thể biết, bạn chân thật muốn tự giác viên mãn thì không
thể không nhiệt tâm dạy họ.


Trong
quả báo, Phật cũng nói với chúng ta, bố thí tài thì được tiền tài. Bạn phát
tài, tiền tài của bạn từ đâu mà có vậy? Ngày nay chúng ta xem thấy trong xã hội
có bao nhiêu đại phú trưởng giả, tuổi tác tuy không lớn, chỉ có hai, ba mươi
tuổi, vẫn chưa đến bốn mươi nhưng tài sản ức vạn, mà tài sản này tuyệt nhiên
không phải là tiền nhân lưu lại cho họ, là chính họ sáng nghiệp mà thành tựu.
Người thông minh hơn họ, người tài năng hơn họ rất nhiều, người cùng làm giống
nghề nghiệp như họ cũng không ít, tại vì sao họ có thể phát đạt còn người khác
không thể phát đạt, thậm chí đến còn bị đào thải, nguyên nhân này do đâu? Trong
mạng của họ có, còn người kia trong mạng không có. Bạn từ nơi một nghề nghiệp
nào, bạn dùng trí tuệ năng lực của bạn đều là tăng thượng duyên. Nếu như không
có nhân, chỉ riêng có duyên thì không thể kết quả. Quả báo hiện tiền, nhất định
là nhân cùng duyên kết hợp mới biến hiện ra quả báo. Nhân là gì vậy? Do đời
trước tu tài bố thí, ngay đời này được tiền của. Đời trước tu tài bố thí nhiều thì
không luận họ từ nơi một nghề nghiệp nào, họ đều kiếm được ra tiền, vì trong
mạng họ có. Nếu như đời trước không có tu tài bố thí, thì bạn từ nơi bất cứ
nghề nghiệp nào, bạn đều không kiếm được tiền, vì trong mạng không có thì từ
đâu mà có. Người hiểu được đạo lý này không nhiều.


Hiện
tại
, thông thường người trẻ trên thế giới xem thấy một người nào đó thành công
thì đi nghiên cứu họ xem làm thế nào họ thành công? Cố gắng mà học tập với họ,
học được có giống hơn, giống được đến 100% cũng không kiếm được ra tiền. Do
nguyên nhân gì vậy? Trong mạng không có thì làm gì có thể học ra được? Cho nên
bạn mong muốn phát tài, Phật dạy chúng ta phải tu tài bố thí; bạn hy vọng được
thông minh trí tuệ thì bạn phải tu pháp bố thí; mong muốn khỏe mạnh sống lâu
thì bạn phải tu bố thí vô uý. Bạn không chịu tu nhân thì làm gì có được quả
báo? Phật nói với chúng ta đó là chân thật, đó là chánh pháp. Không thể nói
chúng ta cầu Phật thì Phật có thể bảo hộ chúng ta thăng quan phát tài, không hề
đạo lý này. Nếu như cầu Phật, Phật liền bảo hộ bạn, thì chẳng phải là đã đem
định luật nhân quả đánh đổ mất rồi sao. Phật cũng không có năng lực đánh đổ
được định luật nhân quả. Năng lực của Phật là dạy chúng ta tu nhân chứng quả,
đó gọi là “trồng nhân thiện, được quả thiện”. Đây là Phật nói. Phật không gạt
người, lời Phật nói mỗi câu đều là chân thật. Nếu như người đã được thiện quả,
thông đạt đạo lý này, lại chịu tu bố thí, vậy phước báo của họ sẽ rất lớn, càng
ngày càng thù thắng, không chỉ phước báo một đời này họ hưởng không hết, mà
phước báo đời đời kiếp kiếp cũng hưởng không hết.


Thế
nhưng người trồng phước chân thật còn có được phước báo, người không có phước
báo
muốn trồng phước mà trồng sai chỗ, chỗ này nhà Phật gọi là “phước điền”.
Như chúng ta trồng lúa vậy, trồng vào trong đất ruộng, khoảng đất đó phì nhiêu,
ánh mặt trời lượng nước đều rất đầy đủ, sau khi bạn gieo hạt giống xuống thì
lớn lên rất tốt. Nếu như trồng vào trong cát, trồng ở trên đá cuội thì hạt
giống
sẽ mục nát, cũng không thể nẩy được mầm. Cho nên bạn phải nhận biết phước
điền
thì bạn mới có thể chân thật trồng được phước. Nếu như không phải phước
điền
, bạn đến nơi đó trồng phước, tương lai bạn sẽ rất thất vọng, không có được
kết quả. Cái gì là phước điền chân thật? Ở nơi đó chân thật có người tu
hành
, chân thật có người chứng quả
. Cho nên chúng ta xem thấy phát tâm của
lão cư sĩ Hồng, ta liền biết được tương lai sau khi thôn Di Đà này xây dựng
xong, ở trong đây nhất định có rất nhiều người niệm Phật vãng sanh bất thoái
thành Phật. Đó là phước điền chân thật, cho nên ông mới có được công đức lớn
đến như vậy, có được cảm ứng không thể nghĩ bàn như vậy, nếu không thì không
thể nào.



trên kinh Phật nói với chúng ta, tôn giả Ca Nặc Ca ở trong vô lượng kiếp trước
đã từng cúng dường một vị Bích Chi Phật một bát cơm, đó là gặp được người chân
thật
tu hành ra ngoài khất thực. Chúng ta biết Bích Chi Phật nửa tháng đi ra
ngoài khất thực một lần. Ông có cơ hội gặp được, dùng tâm chân thành tâm cung
kính
cúng dường một bát cơm này, Phật nói quả báo mà ông có được là gì vậy? Chín
mươi ức kiếp không bị quả báo bần cùng. Chúng ta tin tưởng lời của Phật là lời
thật không hư dối. Trong đây hiển thị cho chúng ta một đại đạo lý, đó chính
chúng ta tu phước không nên hoài nghi, không nên do dự, phải quả cảm, phải
nhận biết rõ ràng, nắm chặt lấy cơ hội, cơ hội qua rồi sẽ không tìm được nữa.
Đó chính là người có phước.
Bạn có thể nắm lấy cơ hội, không nên đi nghĩ
tưởng
xằng bậy là việc này rốt cuộc thì có phước báo gì hay không, phước báo
này rốt cuộc là được bao lớn, ta phải nên làm bằng cách nào? Bạn ở nơi đó nghĩ
tưởng
ngớ ngẩn, cho dù bố thí thì phước báo sẽ rất có hạn. Cho nên phải đem tất
cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước vứt hết, dùng tâm chân thành cung kính để
tu bố thí. Đây là Phật dạy cho chúng ta. Vì vậy, phàm hễ việc gì cũng đều có
do
, đều có nhân quả, chúng ta phải chú trọng. Cho nên, Phật gọi là trí giác
viên
mãn.


Một danh hiệu sau cùng gọi là “Thế Tôn”.


Đầy
đủ mười loại đức hiệu phía trên thì được thế xuất thế gian tất cả đại chúng tôn
kính
, nên gọi là Thế Tôn. Cho nên Thế Tôn là một tổng hiệu, phía trước là biệt
hiệu
. Mỗi một danh hiệu đều là hiển thị trí tuệ đức năng vốn đủ trong tự tánh.
Mười hiệu này ở trong Phật pháp là thuộc về thường thức phổ thông của Phật
giáo
. Ý nghĩa của mỗi một đức hiệu chúng ta nhất định phải tường tận, phải
ràng
.


Kinh
văn: “Tại thế giáo thọ, tứ thập nhị kiếp, thời vi chư thiên, cập thế nhân
dân
, thuyết kinh giảng đạo
”.


Phật
Bồ Tát thị hiệnthế gian để làm gì? Chính là làm việc này. Các vị phải ghi
nhớ, đây là chư Phật Bồ Tát thị hiện xuất gia. Xuất gia thì làm việc này, không
phải việc nào khác, làm những việc khác thì sai rồi, không phải công việc mà
bổn phận của bạn làm. Cho nên chúng ta giới thiệu Phật pháp đối với sơ học
thường nói, Phật giáogiáo dục của Phật Đà, là giáo dục chí thiện viên mãn
của Phật Đà đối với chúng sanh chín pháp giới. Phật Bồ Tát ứng hóathế gian,
các Ngài ở xã hộiđịa vị gì vậy? Các Ngài đóng vai trò gì trong phần diễn
xuất này vậy? Nếu dùng lời hiện đại mà nói, các Ngài là một nhóm người làm công
tác nghĩa vụ giáo dục xã hội.


Ngày
nay chúng ta cũng xuất gia làm đệ tử của Phật, chúng tanhận thức rõ chức
trách của người xuất gia là gì không? Người xuất gia phải nên làm những việc
gì? “Vi chư thiên cập thế nhân dân giảng kinh nói pháp”, cái bạn làm là
những việc này, những việc khác không liên quan gì với bạn. Hiện đại có một số
người làm sai mục đích xuất gia. Thật là điên đảo! Sau khi xuất gia đi làm một
số sự nghiệp từ thiện xã hội, cũng nhận được tán thán của xã hội, khen thưởng
của chính phủ. Đây là hiện đại. Nếu như vào thời xưa, tôi tin tưởng quyết định
không phải là hiện tượng này. Bạn xuất gia, người ta gọi bạn là pháp sư. “Sư”
là gì vậy? Là thầy của trời người, bạn là thầy giáo, nên gọi bạn là sư. Là Sư
nhưng bạn có dạy học hay không? Bạn có lên lớp không? Bạn không có dạy học,
không có lên lớp, người ta gọi bạn là thầy, bạn nghĩ lại xem, bạn cảm thấy thế
nào? Không đúng với sự thật. Nếu như làm công tác từ thiện cứu tế xã hội thì
không cần phải thân phận xuất gia, thân phận tại gia cũng được, người xuất gia
không thể làm việc này. Tại vì sao không thể làm? Người xuất gia không có tiền.
Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện cho chúng ta xem ba y một bát, không có bất cứ
thứ gì, y phục của Ngài bố thí cho người khác thì không có y phục mặc, Ngài
không dễ gì hóa duyên được một bát cơm, bố thí cho người khác thì ngày đó phải
nhịn đói không có cơm ăn. Cho nên công tác từ thiện cứu tế xã hội là do những
đại phú trưởng giả học trò tại gia của Phật làm, Phật không làm những việc này.
Phật thị hiện cho chúng ta “nhiều việc không bằng ít việc, ít việc không bằng
không việc gì”. Những việc khác đều buông bỏ, Phật dạy chúng ta chỉ làm một sự
việc là vì tất cả chúng sanh giảng kinh nói pháp, chúng ta chỉ làm việc này,
ngoài việc này ra đều không phải là việc chúng ta làm.


Thành
lập
một Phật Học viện, sự việc hành chánh trong Phật Học viện, thành thật
nói cũng không nên để người xuất gia làm. Người xuất gia làm giáo viên, các vị
muốn học bộ kinh luận nào, tôi sẽ khai giáo trình này cho các vị, giảng bộ kinh
này cho các vị nghe, những việc khác không nghe không hỏi, đây là sự việc trong
bổn phận của chúng ta. Việc trong bổn phận thì nhất định phải làm cho tốt,
không nên sau cùng lại trái ngược, không nên bỏ gốc lấy ngọn, vậy thì sai rồi,
sai lầm đặc biệt.



trong đoạn kinh văn này chúng ta vẫn còn một phát hiện, đó chính là Thế Gian Tự
Tại Vương Phật
thọ mạng rất dài, Ngài “tại thế giáo thọ tứ thập nhị kiếp”. Quay
đầu chúng ta nhìn lại, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta năm xưa ở đời
giảng kinh nói pháp 49 năm, còn Ngài ở đây là 42 kiếp. Thọ mạng của Thích Ca
Mâu Ni Phật
là 79 tuổi, Thế Tôn 79 tuổi viên tịch. Người Trung Quốc chúng ta
quen nói tuổi mụ là 80 tuổi, trên thực tế Thích Ca Mâu Ni Phật là 79 tuổi viên
tịch
, giảng kinh nói pháp 49 năm. Thế Gian Tự Tại Vương Phật giảng kinh nói
pháp 42 kiếp, thọ mạng của Ngài quyết định không chỉ 42 kiếp, thọ mạng dài hơn.
Thọ mạng dài nói rõ vào thời đó, chúng sanh của thế giới đó phước báo rất lớn,
rất đáng được chúng ta ngưỡng mộ. Vào thời đại đó tốt, nhất định không phải là
đời ác năm trược. Đời ác năm trược, mạng trượcthọ mạng ngắn. Cho nên từ chỗ
này mà thấy, Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai thời đại đó là cõi nước thái bình,
giống như thế giới Tây Phương Cực Lạc vậy, đây là chúng ta phải nên thể hội
được.


“Thuyết
kinh giảng đạo”, cái gì gọi là kinh? Cái gì gọi là đạo? “Kinh” là giảng
luận
, chân lý của vũ trụ nhân sanh. Tất cả những gì Phật nói ra đều không rời
khỏi thật tướng các pháp, chân tướng của vũ trụ nhân sanh. “Đạo” là con đường,
tỷ dụ cho tu hành, đời sống như lý mà hành gọi là đạo. Thành Phật chi đạo, Bồ
Tát
chi đạo. Phật dạy chúng ta làm thế nào để làm Phật? Làm thế nào để làm Bồ
Tát? Chánh giác chi đạo. Chỉ cần chúng ta tường tận đối với nghĩa lý của kinh
điển
, tư tưởng, kiến giải, lời nói, việc làm của chúng ta tương ưng với nghĩa
của kinh điển, đó gọi là tu hành. Ngày nay chúng ta quy y Vô Lượng Thọ Phật,
quy y A Di Đà Phật, nếu như có thể đem từng câu từng chữ trong kinh Vô Lượng
Thọ
đều áp dụng ngay trong cuộc sống thường ngày thì chính là chúng ta hành
đạo
. Chúng ta đem hành trì thực tế của chúng ta triển hiện cho xã hội đại chúng
xem cũng gọi là giảng đạo, tuy là không có giảng bằng lời, chỉ làm ra kiểu dáng
để cho mọi người xem, đó là thân giáo. Chúng ta dùng ngôn ngữ, đó là miệng đang
giáo học. Làm ra kiểu mẫu là thân đang giáo đạo. Chư Phật Bồ Tát thân ngữ ý ba
luân giáo hoá chúng sanh, đây đều là những điều chúng ta phải nên học tập.


Đoạn
này là nói rõ quá khứ Thế Gian Tự Tại Vương ứng hóathế gian, đời sống nhân
dân
vào thời đó, cho đến tình hình giáo học của Thế Tôn Ngài. Văn tự tuy là
không nhiều nhưng giao phó được rất rõ ràng.


Kinh
văn: “Hữu đại quốc chủ Danh Thế Tự Tại Vương, văn Phật thuyết pháp, hoan hỉ
khai giải, tầm phát vô thượng chân chánh đạo ý
”.


Đây
là nói rõ A Di Đà Phật phát tâm, một đoạn nhân duyên tu hành chứng quả. Phật
nói pháp, trong thính chúng có một vị vua của một nước lớn. Như Thích Ca Mâu Ni
Phật
năm xưa ở đời nói kinh giảng đạo, chúng ta xem thấy ở trên kinh, có 16 đại
quốc vương đều là học trò của Phật thường đến để nghe kinh, đến tiếp nhận giáo
huấn
của Phật. Thời đạiThế Tôn xuất hiện, ở vào hiện tại chúng ta mà nói,
là thuộc về thượng cổ. Vào lúc đó quốc gia chưa thống nhất, đều là dân tộc bộ
lạc, vào lúc đó ở Trung Quốc là trào nhà Châu, chúng ta xem thấy ở trong sách
sử ghi có 800 chư hầu. Chư hầu chính là quốc vương, họ có quốc gia của chính
họ. Trong sách xưa ghi chép, nước lớn vuông vức 100 dặm, nước nhỏ có hai đến ba
mươi dặm. Nếu như luận nước nhỏ mà nói, như Singapore thì có bao nhiêu nước
nhỏ? Đừng xem Singapore nhỏ, vào thời xưa có rất nhiều quốc gia, một thôn trang
chính là một quốc gia. Nghĩ đến Thế Gian Tự Tại Vương xuất thế vào thời đại đó,
tình hình cũng là như vậy, thế nhưng phước báo của người vào thời đó lớn, tuổi thọ
dài, có đại quốc vương tên là “Thế Nhiêu Vương”.


“Thế
Nhiêu Vương”, nhất địnhxã hội thời đó tán thán, một mỹ từ đối với vị quốc
vương
đó. “Thế” là thế gian, “nhiêu” là phong nhiêu, nói rõ vị quốc vương này
trí tuệ, rất từ bi, chăm sóc rất chu đáo đối với quốc gia nhân dân nên mới
được gọi là Thế Nhiêu Vương. Nhân dân rất cảm kích đối với quốc vương, rất tôn
kính
, rất là ủng hộ Ngài, cho nên Ngài có tên gọi đẹp như vậy. Ngài là học trò
của Phật, thường hay đến đạo tràng để nghe Phật giảng kinh nói pháp. Không chỉ
thường hay đến, mà sau khi nghe rồi “hoan hỉ khai giải”. “Khai” là khai ngộ,
“giải” là hiểu rõ, chân thật hiểu được ý nghĩa mà Phật đã nói, cho nên ông liền
phát tâm “tầm phát vô thượng chân chánh đạo ý”. “Vô thượng chân chánh đạo ý”
chính là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Vô Thượng Bồ Đề. Ngài chân thật hiểu
, chân thật giác ngộ rồi, con người cả đời phải nên truy cầu cái gì? Phải
truy cầu Vô thượng đạo, đó mới là chân thật giác ngộ, không phải làm một đại
quốc vương. Làm đại quốc vương không giải quyết được vấn đề, giải quyết không
được vấn đề của chính mình. Vấn đề chính mình là gì? Sanh lão bệnh tử, bạn giải
quyết
không được, không giải quyết được vấn đề sáu cõi luân hồi. Bạn có ái hộ
đối với nhân dân quốc gia của chính bạn, bạn cũng không thể giúp họ giải quyết
được vấn đề. Cho dù bạn có thể làm tốt được sự nghiệp phúc lợi xã hội, khiến
cho nhân dân toàn quốc có được cái học, cố gắng học tập, không hề bị thất học,
người già được nuôi dưỡng, bạn cũng chỉ có thể giúp họ một đời. Sau khi họ chết
rồi vẫn còn có đời sau, vẫn còn có kiếp sau. Đời sau kiếp sau thì phải làm sao?
Bạn không cách gì giúp được cho họ. Cho nên nếu như bạn chân thật phát tâm đại
từ bi
, bạn phải chăm sóc những chúng sanh này, phải đời đời kiếp kiếp chăm lo
cho họ, phải giúp họ thoát khỏi sáu cõi luân hồi. Muốn giúp họ ra khỏi mười
pháp giới, muốn giúp họ làm Phật làm Bồ Tát, đó mới gọi là đại viên mãn. Cho
nên Ngài chân thật hiểu được, chân thật tường tận. Sau khi tường tận rồi nghĩ
lại
xem, vẫn là phải làm Phật, không làm Phật không thể giải quyết được vấn đề,
cho nên Ngài liền phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, chính là phải phát đại tâm thành
Phật
. Tâm vừa phát Ngài liền có hành động, Ngài thật làm, không phải nói qua
thì thôi.


Kinh
văn: “Khí quốc quyên vương, hành tác Sa Môn, hiệu viết Pháp Tạng, tu Bồ Tát
đạo
”.


Chỗ
này nói rõ, sau khi Ngài phát tâm chân thật xuất gia, “khí quốc”
là xả bỏ phú quý. Người xưa đã nói: “Quý vi thiên tử, phú hữu tứ hải”.
Quốc vương vào thời xưa, lãnh thổ của họ cũng là tài sản tư hữu của họ, họ giàu
đến như vậy, nhân dân trồng trọt trên đất của họ thì phải nộp thuế cho họ.
“Khí quốc” là xả bỏ tiền của của Ngài, “quyên vương” là xả bỏ
vương vị của Ngài, xả bỏ địa vị của Ngài. Các vị thử nghĩ xem, phú quý thì
người thế gian ai cũng ưa thích, bao nhiêu người truy cầu, nhưng dù có cầu cũng
không nhất định có thể cầu được. Thế Nhiêu Vương tuy đã có được phú quý, hơn
nữa là đại phú quý, bởi vì Ngài là đại quốc vương. Đại phú đại quý có thể xả,
sau khi xả rồi, Ngài đi làm Sa Môn.


“Sa Môn” là tên gọi của người xuất gia. Thực tế mà nói, đây là danh
xưng. Vào thời xưa, trong mỗi một tôn giáo Ấn Độ, người xuất gia tu hành đều
gọi là Sa Môn. Sau khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc, ở Trung Quốc chỉ có
người xuất gia nhà Phật gọi là Sa Môn. Sa Môn là tiếng phạn, ý nghĩa gọi là cần
tức
, thông thường giải thích gọi là cần tu giới định tuệ, tức diệt tham sân si,
đó gọi là Sa Môn. Hay nói cách khác, ý nghĩađoạn ác tu thiện. Có thể rất
phấn chấn, rất nỗ lực, rất tinh tấnđoạn ác tu thiện, con người này gọi là
Sa Môn. Do đó, xưng hô Sa Môn này, người tại gia cũng có thể gọi, chỉ cần chân
thật
đoạn ác tu thiện đều có thể gọi là Sa Môn. Ý nghĩa chỗ này là họ đã xuất
gia
rồi.


“Hiệu viết Pháp Tạng”, lão sư của Ngài đặt cho Ngài một pháp danh, pháp danh này
gọi là “Pháp Tạng”. “Pháp” là tất cả Phật pháp, “Tạng” là hàm tàng, tất cả Phật
pháp
đều hàm tàng trong đó nên gọi là Pháp Tạng. Do đây có thể biết, Pháp Tạng
chính là tên gọi của tự tánh chúng ta, chỉ có chân như tự tánh mới hàm chứa tất
cả các pháp, thế xuất thế gian tất cả các pháp đều hàm chứa ngay trong tự tánh
của chúng ta.


“Tu Bồ Tát đạo”, câu nói này là tán thán Ngài chân thật tu hành, sau khi
xuất gia Ngài thật làm, lấy Bồ Tát đạo làm tiêu chuẩn. Đem tư tưởng, kiến giải,
lời nói của chính mình, y theo tiêu chuẩn này để tu hành, đây gọi là tu Bồ Tát
đạo
. Tiêu chuẩn của Bồ Tát đạo là gì? Tịnh Tông chúng ta đề ra năm khóa mục
chính làm tiêu chuẩn:


– Thứ nhất là Tịnh Nghiệp Tam Phước.


– Thứ hai là Lục Hoà Kính.


– Thứ ba là Giới Định Huệ Tam Học.


– Thứ tư là sáu Ba La Mật.


– Thứ năm là mười nguyện Bồ Tát Phổ
Hiền
.


Chúng
ta
chỉ đề ra năm khoá mục này, không cần nhiều hơn nữa. Năm khóa mục này đơn
giản
rõ ràng, các vị đồng tu đều có thể ghi nhớ. Dùng năm khóa mục này làm tiêu
chuẩn
. Chúng ta ở ngay trong cuộc sống thường, đối với người việc với vật, khởi
tâm
động niệm, lời nói việc làm đều phải tương ưng với năm tiêu chuẩn này,
không trái với tiêu chuẩn này thì gọi là tu Bồ Tát đạo. Nếu như ở ngay trong
cuộc sống thường ngày, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm trái với những tiêu
chuẩn
này thì không phải tu Bồ Tát đạo. Mọi người phải ghi nhớ, trái với tiêu
chuẩn
này là tu ba đường ác, quả báo thật là không tốt, việc này chúng ta cần
phải
nên ghi nhớ.


Đoạn
kế tiếp sau là Thế Tôn tán thán đối với hành trì của Ngài.


Kinh
văn: “Cao tài dũng triết, dữ thế siêu dị, tín giải minh ký, tất giai đệ nhất”.


Những
lời nói này chúng ta cần phải ghi nhớ, phải học tập với Bồ Tát Pháp Tạng. “Cao”
tán thán đức của Ngài, đức cao. “Tài” là tán thán trí của Ngài, Ngài có trí
tuệ
, Ngài có tài hoa. “Dũng triết” là tán thán chí hướng của Ngài, Ngài lập ra
đại chí, đích thực là khác với người. Người thế gian mong cầu là phú quý, mong
cầu hưởng thụ danh vọng lợi dưỡng, năm dục sáu trần. Bồ Tát giác ngộ, biết được
tất cả đều là hư vọng không thực, đều là căn bản của sanh tử luân hồi, cho nên
có thể đem nó xả được sạch trơn. Ngài biết được vô thượng đạo mới là chánh
pháp
, là chư Phật Như Lai sở chứng, là tất cả người giác ngộ mong cầu học tập.
Ngài chân thật giác ngộ, chân thật hiểu rõ, hành động việc làm không giống như
người thế gian. “Siêu dị”, “siêu” là siêu việt, “dị” là không như nhau. Hai câu
này nói rõ, bẩm chất của Ngài khác với phàm tình. Hai câu sau cùng thực tiễn
ngay trong cao tài dũng triết.


“Tín giải minh ký, tất giai đệ nhất”. Đây là chúng ta vô cùng ngưỡng mộ, chúng ta có thể làm được
hay không? Có thể! Bắt đầu làm từ đâu? Từ “tín”. Ngày nay chúng ta đọc kinh,
nghe kinh không thể giác ngộ, tuy là nghe kinh đọc kinh nhưng không thể khai
ngộ
, nguyên nhân này do đâu? Tín không thật. Trên kinh Kim Cang, Thế Tôn dạy
chúng ta: “Tín tâm thanh tịnh”, ngày nay tín tâm chúng ta không thanh tịnh. Nếu
như tín tâm thanh tịnh liền sanh thật tướng, sanh thật tướng liền sanh trí tuệ,
vậy thì phía sau “giải”, “minh”, “ký” đương nhiên là đệ nhất. Cho nên ngay chỗ
này chúng ta phải biết được, tại vì sao Pháp Tạng mọi thứ đều là đệ nhất? Là do
Tín. Ngày nay trên tín tâm chúng tavấn đề. Cho nên ở trên kinh Phật thường
nói: “Tin là mẹ đẻ công đức”, trên Đại Trí Độ Luận nói: “Tin là có
thể vào, trí là có thể chứng
”, nếu bạn không tin thì bạn làm sao có thể
vào? Chúng ta đọc đến đoạn kinh văn này phải nên có sự khải thị, phải nên có sự
lĩnh ngộ. Không có một pháp, không có một chữ, tất cả là từ trong tự tánh lưu
xuất ra. Tự tánh của ai? Tự tánh của chính chúng ta. Cho nên chỉ cần xây dựng
tín tâm thanh tịnh, chúng ta cũng có thể giống như Pháp Tạng, “giai tất đệ
nhất”.


Kinh
văn: “Hựu hữu thù thắng hạnh nguyện, cập niệm huệ lực, tăng thượng kỳ tâm,
kiên cố bất động, tu hành tinh tấn, vô năng du giả
”.


Thù
là đặc thù, siêu thắng, cũng chính là nói đức hạnh của Ngài, hoằng nguyện của
Ngài siêu việt hơn tất cả đại chúng, cũng chính là siêu việt tất cả Bồ Tát. Chỗ
này chúng ta phải tường tận, cũng phải nên học tập. Chư Phật Như Lai đều phát
ra đại nguyện khi còn ở nhân địa. Hiện tại chúng ta cũng phát ra đại nguyện
nhân địa. Nguyện đã phát rồi, có thể thực hiện được nguyện hay không? Việc này
vấn đề. Nếu như có thể viên mãn thực hiện tròn đầy, thực hiện được một trăm
phần trăm nguyện đã phát ra thì cái nguyện đó thù thắng. Nếu như nguyện tuy đã
phát rồi, cũng có thể làm được, thế nhưng không làm được viên mãn thì cái
nguyện này sẽ kém thù thắng. Rất nhiều phàm phu Phật tử ngày ngày phát nguyện,
nhưng hoàn toàn không thể thực hiện, cho nên tu học làm sao có thể thành tựu!


“Hạnh
nguyện thù thắng” của Pháp Tạng chỉ cái gì? Thông thường nói chính là tứ hoằng
thệ nguyện
, nói riêng là phẩm thứ sáu phía sau đã nói ra 48 nguyện. Nguyện tuy
là có 48 điều nhưng khi quy nạp lại vẫn là không thể siêu vượt tứ hoằng thệ
nguyện
, cho nên tứ hoằng là nói chung, 48 nguyện là nói riêng. Bốn mươi tám
nguyện
hiển thị rõ Ngài đã làm đến được một trăm phần trăm, đây chính là chỗ
thù thắng của Ngài.


Điều
thứ nhất trong tứ hoằng thệ nguyện là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”.
Chúng ta cũng phát ra cái nguyện này, thường hay ở ngay trong lúc cộng tu, ở
ngay trong lễ sám, chúng ta cũng đều niệm câu kệ tứ hoằng thệ nguyện. Niệm thì
niệm, nhưng rốt cuộc có phát huy được hay không? Việc này thì rất khó nói, không
thể nói chúng ta niệm thì đã phát rồi, không hề đơn giản như vậy. Mỗi một người
phát nguyện, tình hình của mỗi một người phát nguyện ra không như nhau, bạn làm
đến được mấy phần trăm? Trong nguyện văn nói được rất rõ ràng, chúng sanh
biên
, không chỉ chúng sanh cư trụ ở thành phố này, cũng không chỉ một quốc gia
này, cũng không chỉ một địa cầu này, vô lượng vô biên là chỉ tận hư không khắp
pháp giới, chúng ta có được cái tâm lượng lớn đến như vậy không? Các đồng tu
hiện tại đều có một số kiến thức khoa học, biết được ngay trong thái không có
rất nhiều tinh cầu, số lượng của tinh cầu là không có cách gì tính đếm được.
Ngay trong những tinh cầu này, quyết định không phải chỉ có địa cầu, mà trên
những tinh cầu này có nhân loại cư trụ, gọi là sinh vật cao đẳng. Các khoa học
gia tin tưởng, tinh cầu có sinh vật cao đẳng cư ngụ, số lượng vẫn là rất nhiều,
thế nhưng họ đã nói sinh vật cao đẳng chỉ hạn chế ở hai loại là động vật
thực vật. Phật nói ra sáu đường với chúng ta, nhưng vào 2500 năm trước, lúc Thích
Ca Mâu Ni Phật
còn tại thế, rất nhiêu tôn giáo cổ xưa Ấn Độ đều thừa nhận, đều
khẳng định quan niệm về sáu đường, sự thật của sáu cõi,. Làm sao biết được? Đều
là ở ngay trong thiền định sâu mà thấy được. Cho nên chúng ta biết được, trong
thiền định rất sâu đột phá được thời không. Thực tế mà nói, ngày nay nhà Phật
chúng ta gọi là mười pháp giới rất giống trong khoa học gia đã nói mười loại
không gian duy thứ khác nhau, nên gọi là không gian ba độ, không gian bốn độ,
không gian năm độ, thậm chí đến không gian vô hạn độ. Khoa học gia hiểu được,
biết được ngay trong vũ trụhiện tượng này, thế nhưng hiện tại vẫn không
nghĩ ra phương pháp đột phá. Vậy thì do đây có thể biết, ngày nay quan sát của
người thế gian, không luận dùng bất cứ dụng cụ khoa học nào quán sát thái
không, thực tế mà nói, cũng chỉ có thể quán sát đến không gian ba độ, nhiều
nhất là quán sát đến không gian bốn độ, lên trên nữa thì không thấy, thì không
thể dùng thiết bị khoa học mà có thể thấy được.


Hiện
tại
, có rất nhiều truyền thuyết nói thấy được công cụ phi hành ngoài thái
không, người thông thường gọi là đĩa bay, cũng phát hiện có rất nhiều tình
huống, thậm chí đến lời đồn còn có người thái không, người ngoài hành tinh đã
từng đáp xuống địa cầu chúng ta. Hiện tại, thông thường trong các nhà sách, báo
chí
đăng tin về những việc này số lượng rất nhiều, có phải chân thật có sự việc
này không? Rất có khả năng có. Như đĩa bay ở trong truyền thuyết, đĩa bay là
tôi chính mắt thấy qua, tôi tin tưởng có thứ này tồn tại. Khi tôi thấy không
phải chỉ có mình tôi, bên cạnh tôi còn có rất nhiều bạn bè đồng thời đều xem
thấy, hơn nữa ngày thứ hai trên báo chí cũng đăng tin có rất nhiều người xem
thấy. Những việc này nói rõ, phàm hễ có thể thấy được người ngoài hành tinh đến
địa cầu thì ở trong sáu cõi họ vẫn là thuộc về cõi người, họ không phải cõi
trời
. Nếu như cõi trời, người trời muốn đến thế gian này của chúng ta hà tất
phải dùng công cụ giao thông, phải dùng công cụ phi hành hay sao? Không cần
thiết
. Họ còn phải dùng công cụ phi hànhcõi người, không phải là cõi trời.
Ở trên kinh Phật nói với chúng ta, trời có 28 tầng, đây là khu vực giáo hóa của
Thích Ca Mâu Ni Phật, gọi là một đại thiên thế giới. Phật nói với chúng ta,
giống như đại thiên thế giới như vậy, ở ngay trong thái không là vô lượng
biên
, không cách gì tính đếm, trên kinh thường gọi là “hằng hà sa số”, nhiều
thế giới đến như vậy.


Thực
tế
mà nói, bất cứ thế giới nào cũng đều có chúng sanh. Tại vì sao chúng ta
thể khẳng định như vậy? Ở trong kinh Phật giảng cho chúng ta nghe một đạo lý,
chúng ta tin tưởng sâu sắc đối với đạo lý này, đạo lý này là gì vậy? Y báo
từ chánh báo biến hiện ra.


Điển
tích của Pháp Tướng Tông đã nói rất rõ ràng, nói hình thành của pháp giới, cái
thứ nhất là một niệm bất giác mà có vô minh, từ vô minh biến thành tam tế
tướng
. Tam tế tướng chính là nói nhân duyên sanh khởi của vũ trụ. Từ trong
minh
nghiệp tướng sanh ra kiến phần, do kiến phần lại sanh ra tướng phần. Tướng
phần
chính là cảnh giới tướng, vậy thì làm sao có thể nói trên một tinh cầu
không có chánh báo ở nơi đó? Như vậy thì họ làm sao có thể xuất hiện y báo? Có
nói thế nào cũng nói không thông. Hiện tại khoa học kỹ thuật của nhân loại trên
địa cầu này phát triển, xem như có được thành tựu bước đầu. Con người chúng ta
cũng đã lên được cung trăng rồi, chứng minh trên cung trăng không thấy có
người, không hề thấy có người, cũng không hề thấy có súc sanh, vậy thì trên
cung trăng có quỷ cư ngụ không? Họ không hề xem thấy.


Trên
địa cầu chúng ta có quỷ cư ngụ, thỉnh thoảng cũng có thấy được quỷ, cũng có
thần tiên cư ngụ, địa cầu này của chúng tacõi phàm thánh đồng cư ngụ. Ghi
chép của triều nhà Đường, Đại Thánh Trúc Lâm Tự núi Ngũ Đàiđạo tràng của Bồ
Tát
Văn Thù, đã từng có người gặp qua. Các vị đọc Từ Bi Tam Muội Thuỷ Sám, đọc
đến quốc sư Ngộ Đạt bị ghẻ mặt người, cầu cứu với tôn giả Ca Nặc Ca. Tôn giả Ca
Nặc Ca
A La Hán, đạo tràng của Ngài ở Tứ Xuyên. Ông có duyên gặp được Ngài,
sau khi trị hết bệnh rời khỏi đạo tràng, khi quay đầu nhìn lại thì không thấy
gì nữa, biến thành một mảng núi hoang. Cho nên chúng ta biết được, con người
chúng ta không nhìn thấy đạo tràng của Bồ Tát, đạo tràng của A La Hán, đạo
tràng
của thiên nhân, nơi cư ngụ của quỷ thần. Không thấy được nhưng không thể
nói là không có. Ngày nay chúng ta có thể nói trong cung trăng không có người,
không có động vậtchúng ta biết. Chủng loại động vật rất là phức tạp, có
những động vật con người chúng ta không thể nhìn thấy, cho nên chỉ có thể nói
không nhìn thấy động vậtcon người chúng ta quen biết. Nói không chừng còn có
những động vậtmắt thịt chúng ta không nhìn thấy được đang cư trụ trên những
tinh cầu này. Trong Dược Sư Bổn Nguyện kinh nói cho chúng ta nghe Bồ Tát Nguyệt
Quang
, Bồ Tát Nhật Quang nói, không chỉ là trong cung trăng có Bồ Tát cư ngụ,
mà trong thái dương cầu cũng có Bồ Tát cư ngụ. Loại cảnh giới này cũng giống
như trên kinh Hoa Nghiêm đã nói là “bất tư nghị giải thoát cảnh giới”, không
phải phàm phu chúng ta có thể tưởng tượng ra được. “Thế giới chi đại, vô kỳ bất
hữu”. Chúng sanh rất nhiều chủng loại, tộc loại khác biệt cũng là vô lượng
biên
.


Phát
câu tứ hoằng thệ nguyện này thì tất cả chúng sanh này chúng ta đều phải phát
tâm
độ thoát. Bạn nói xem, cái tâm lượng này bao lớn! Chúng ta ngày nay sáu căn
nhãn nhỉ tỷ thiệt thân ý có thể tiếp xúc được chúng sanh, chúng ta phải độ họ;
không tiếp xúc được, chúng ta biết là nhất định có. Không tiếp xúc được là năng
lực
của chúng ta chưa thể hồi phục, chúng ta khẳng định họ tồn tại, chúng ta
tin tưởng lời của Phật nói. Phật là chân ngữ giả, thật ngữ giả, Phật nhất định
không có vọng ngữ, hơn nữa lời của Phật nói quyết không phải là thần thoại,
quyết không phải là lời dự đoán. Phật muốn chúng ta phải đem nó chứng thực từng
cái từng cái. Trong tu hành là Tín-Giải-Hành-Chứng, phải đem lời của Phật chứng
minh
, chứng thật, Ngài muốn chúng ta chân thật nhận biết tường tận hư không
pháp giới. Tất cả chúng sanh, hiện tại chúng ta có thể xem thấy cũng tốt, không
thấy được cũng tốt, đều có liên quan mật thiết với chúng ta. Chúng ta quan tâm
họ, chúng ta thường hay nhớ nghĩ họ, cho nên mới phát nguyện “chúng sanh
biên
thệ nguyện độ”. Cái tâm nguyện này bao hàm lấy tất cả chúng sanh tận
không
khắp pháp giới.


Chữ
“độ” này ý nghĩa là gì? Dùng lời hiện đại mà nó là quan tâm họ. Chúng ta dùng
tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm đại từ bi quan tâm tất cả
chúng sanh, thương yêu tất cả chúng sanh. Chúng sanh cần giúp đỡ thì chỉ cần
sức lực của chính chúng ta có thể làm đến được, chúng ta nhất định phải đưa tay
ra tiếp giúp, nhất định phải giúp đỡ, không có đủ sức để giúp thì chúng ta cũng
phải chân thành chúc phúc cho họ. Đây là ý nghĩa của độ. Vì muốn giúp đỡ những
chúng sanh này, trong Phật pháp thường nói là “Phật thị môn trung, bất xả nhất
nhân”, bạn xem, cái tâm nguyện này bao lớn? Không bỏ sót một chúng sanh nào. Sự
việc này chỉ có Phật mới có thể làm được, Bồ Tát cũng không làm đến được viên
mãn
, chỉ có Phật mới có thể làm được viên mãn, huống hồ phàm phu chúng ta. Cho
nên, chúng ta phát nguyện giúp đỡ tất cả chúng sanh thì trước tiên chính mình
phải tu thành Phật đạo, tại sao vậy? Đến được cảnh giới của Phật thì trí tuệ
của chúng ta, năng lực của chúng ta hoàn toàn hồi phục, mắt của chúng ta mở ra,
xa có thể thấy được tận hư không khắp pháp giới, chúng ta đều có thể thấy được
rõ ràng tường tận, giống như trên kinh Phật đã nói “như đối mục tiền”, cũng
giống như mặt đối mặt với người, thấy được rõ ràng như vậy, tường tận như vậy.
Trên kinh nêu ra cự ly bao xa? Một tuần. Một tuần người Trung Quốc chúng ta gọi
là tám thước. Tám thước cự ly rất gần, tôi ngồi ngay đây cùng cự ly của các vị
không phải là tám thước, đại khái có khoảng hơn 20 thước. Bạn tưởng tượng xem,
gần như vậy không phải thấy được rất rõ ràng sao? Thế giới Cực Lạc cách chúng
ta
mười vạn ức cõi nước Phật, chúng ta thấy thế giới Cực Lạc cũng như ngay
trước mặt. Hồi phục năng lực, từ nơi nhỏ mà xem, không cần dùng thiết bị khoa
học. Chúng ta có thể xem thấy bàn ghế bày ra ngay trước mắt chúng ta, mọi thứ
mọi vật đều xem thấy nguyên tử, điện tử, hạt tử trong đó, xem thấy nó đang vận
hành
ở trong đó, đó là năng lực thấy của bạn được hồi phục, công năng của mắt,
công năng của tai hồi phục. Ngày nay chúng ta gọi là sóng âm thanh. Sóng âm
thanh
giữa vũ trụ này cũng là vô lượng vô biên. Chúng ta có thể tưởng tượng ra
được, có thể lý giải, sóng âm là do đâu mà có? Do chấn động mà ra, chỉ cần có
chấn động thì có âm thanh. Mức độ chấn động lớn nhỏ không như nhau, thế là hình
thành sóng dài ngắn không như nhau. Ngày nay lỗ tai này của chúng ta, trong rất
nhiều sóng âm khác nhau chỉ có thể tiếp nhận một bộ phận rất là nhỏ hẹp. Cao
hơn âm này thì chúng ta không thể nghe được, thấp hơn so với cái âm này chúng
ta
cũng không nghe được. Việc này mọi người đều có thể hiểu được, đều có thể lý
giải. Nếu như năng lực nhĩ căn chúng ta hoàn toàn hồi phục rồi, âm ba cực cao
chúng ta cũng có thể nghe được rõ ràng, cực thấp như kiến, kiến nói chuyện ở
trong ổ, chúng ta cũng có thể nghe được rõ ràng tường tận. Nếu năng lực của bạn
không thể hồi phục, bạn làm sao có thể giúp tất cả chúng sanh? Cho nên hồi phục
năng lực là việc lớn quan trọng nhất ngay trước mắt.


Năng
lực
phải làm cách nào để hồi phục?


Phật
ở trên Hoa Nghiêm, trong phẩm Xuất Hiện nói: “Tất cả chúng sanh đều có đức
tướng trí tuệ Như Lai, nhưng vì vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng đắc
”.
Phật chỉ cần một câu nói là đem gốc bệnh của chúng ta nói ra hết. Mỗi một người
chúng ta đều có trí tuệ Như Lai, đều có trí tuệ, đức năng như của Phật Đà. Đức
năng chính là tôi vừa rồi nêu ra tai mắt thông minh, mắt của bạn có thể thấy
được hư không pháp giới, lỗ tai cũng có thể nghe được hư không pháp giới, làm
phiền não như chúng ta ngày nay không dùng được gì. Lần này chúng ta diễn
giảng ở đây, chúng ta biết được hiện tại toàn thế giới có rất nhiều người vào
ngay lúc này đồng thời thu xem giảng kinh của chúng ta. Nhờ vào thiết bị khoa
học để phát sóng, vậy cũng là phiền phức. Phật nói chúng tabản năng, không
cần phải nhờ vào bất cứ thiết bị nào giúp đỡ. Chư Phật Như lai giảng kinh ở bổn
quốc của các Ngài, chúng ta ở nơi đây có thể nghe được, có thể thấy được, không
những mắt chúng ta có thể thấy được, tai có thể nghe được, tay chúng ta cũng có
thể sờ tới, còn có thể tiếp xúc được. Việc này chân thật là không thể nghĩ bàn.
Đây là nói đức năng.


“Tướng”
tướng mạo, như trên đại kinh đã nói là “Phật có vô lượng tướng, tướng có
lượng
vẻ đẹp”, mỗi người chúng ta đều đầy đủ, tại vì sao ngày nay thảy đều mất
hết? Việc này đúng như Phật đã nói, chúng ta làm sao bị mất đi? Do vọng tưởng,
chấp trước, ngay trong đó còn có một cái là phân biệt nhưng đã được tỉnh lược
bớt đi. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước che mất đi năng lực của chúng ta.
Chúng ta cũng rất rõ ràng, có thể thể hội được mười pháp giới từ đâu mà có?
Chúng sanh trong mười pháp giới đều là mê, đều không giác ngộ, chỉ là mê có cạn
sâu không như nhau. Sáu cõi thì mê sâu, pháp giới bốn thánh thì mê cạn, chỉ là
khác biệt này mà thôi. Pháp giới bốn thánh chưa kiến tánh, việc này trên kinh
nói được rất rõ ràng, cho nên nhất định phải đột phá mười pháp giới, chứng được
pháp giới nhất chân mới xem là minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Mười
pháp giới từ do đâu mà có? Từ phân biệt chấp trước mà ra, có phân biệt lại có
chấp trước là sáu cõi, có phân biệt không có chấp trước thì không có sáu cõi
này, còn lại pháp giới bốn thánh là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, họ có
phân biệt không có chấp trước. Nếu như phân biệt cũng không có, vậy thì tốt
rồi, mười pháp giới không còn, vào Pháp giới nhất chân. Nhất chânpháp giới
bình đẳng, các vị nên biết mười pháp giới không bình đẳng, pháp giới nhất chân
thì bình đẳng, bạn có phân biệt thì bạn không cách gì vào được pháp giới bình
đẳng
, cho nên phải đem phân biệt xả bỏ. Các vị đồng tu nhất định phải nên biết,
chúng ta xả tất cả chấp trước thì xả sáu cõi luân hồi. Tất cả chấp
trước
, không luận là thế pháp hay Phật pháp, trên kinh Kim Cang nói rất hay: “Pháp
còn nên xả, huống hồ phi pháp
”, nói với chúng ta Phật pháp cũng không thể
chấp trước, bạn chấp trước Phật pháp vẫn là sai lầm. Phật pháp có cần hay
không? Cần! Không chỉ Phật pháp cần, pháp thế gian chúng ta cũng cần. Cần thì
không hề gì, nhưng không được chấp trước, không được phân biệt. Chỉ cần bạn lìa
phân biệt, chấp trước thì thế xuất thế gian pháp bạn liền thọ dụng tự tại, bạn
liền được đại tự tại. Chỗ này đúng như trên kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta: “
sự vô ngại
, sự sự vô ngại
”. Vốn dĩ không có chướng ngại, chướng ngại có đều
là từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Bạn chưa đoạn vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước thì lý sựchướng ngại, sự sự có chướng ngại. Chỉ cần bạn đem
những thứ này xả bỏ, thì sự sự không còn chướng ngại.


Chúng
ta
ở trong đại kinh xem thấy Như Lai được đại tự tại. Kinh Hoa Nghiêm của Đường
dịch hình dung Ngài là “Sư tử tần thân”, trong kinh Hoa Nghiêm của Tấn dịch là
“Sư tử phấn tốc”, đều là tỷ dụ ý nghĩa đại tự tại. Vậy thì do đây có thể biết,
nếu như chúng ta không thể hồi phục trí tuệ đức năng của chính mình thì cái
nguyện này là không nguyện, không thể hiện thực, bạn không có năng lực giúp đỡ
người khác.


Phải
làm thế nào hồi phục năng lực của chính mình? Phật dạy chúng ta đoạn phiền não,
cho nên nguyện thứ hai là “phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”. Chủng loại
phiền não thì quá nhiều, nói không hết, trong Phật kinh nói là “tám vạn trần
lao
phiền não”. Cái tám vạn này không phải tùy tiện nói, mà là thật có. Các vị
xem trong Phật Học Từ Điển, tra xem trong Giáo Thừa Pháp Số, chân thật là đem
tám vạn bốn ngàn phiền não từng điều từng điều liệt kê ra, thật có nhiều đến
như vậy. Hơn nữa trong nguyện văn tứ hoằng thệ nguyện nói với chúng ta
“phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”, còn nhiều hơn tám vạn bốn ngàn, không chỉ
là tám vạn bốn ngàn. Đoạn phiền não bằng cách nào? Nếu như bạn đem từng cái
từng cái mà đoạn thì quá phiền phức, đó là phương pháp tu học rất khờ.


Tổ
đại đức thời xưa Trung Quốc dạy chúng ta, trên thực tế đều là ở trên kinh Phật
đã nói, tu hành phải tu từ cơ bản, đoạn phiền não phải đoạn từ cơ bản.
Việc này cũng như đốn cây vậy, bạn không cần đến cây này nữa, muốn bỏ đi cây
này, bạn đốn cây bằng cách nào? Trước tiên tước bỏ lá đi, sau đó chặt cành, bạn
nói xem bạn có bao nhiêu phiền phức? Người thông minh từ gốc mà đào lên thì lập
tức
nhổ đi, làm gì mà phiền phức đến như vậy? Phiền não tuy là nhiều nhưng
nó có gốc
. Gốc là gì vậy? Chính là vừa rồi mới nói: vọng tưởng, phân
biệt
, chấp trước, đây là gốc. Nếu bạn không biết vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước
rốt cuộc là thứ gì thì Phật rất cụ thể nói với chúng tatham sân si
mạn, vậy thì chúng ta bỗng nhiên hiểu ra.


Cái
đầu tiên là thân kiến. Đem thân thể này xem thành ta, chấp trước thân thể
này chính là ta, đây là căn bản của phiền não.
Từ nhận biết sai lầm này
sanh ra ngã tham, ngã sân, ngã si, ngã mạn thì phiền phức đến, đều là do một
chữ “ngã”. Cái “ngã” này là từ trong chấp trước mà sanh ra, từ trong vọng
tưởng
, phân biệt, chấp trước sản sanh ra, là giả, không phải là thật. Cho nên
trên kinh Kim Cang, Phật nói: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh
tướng
, vô thọ giả tướng”
, đó là nói lời chân thật với bạn. Phật nói những
lời này có bao gồm thân thể chúng ta trong đó hay không? Có! Phật đã nói là “vô
ngã tướng, vô nhân tướng”, cái tướng đó là cái tướng bạn phân biệt chấp trước.
Nói không có cái tướng đó không phải là không có cái thân tướng, cái thân tướng
này đang tồn tại, mỗi một thân tướng đều đang ở đây. “Vô ngã tướng” là không
phân biệt chấp trước ngã tướng, không phân biệt chấp trước nhân tướng, không
phân biệt chấp trước tướng chúng sanh.


“Thọ
giả tướng” chính là ngày nay chúng ta gọi là quan niệm của thời gian cùng không
gian
, thọ giả là chỉ thời gian. Thời không là quan niệm trừu tượng, hay nói
cách khác, vẫn là từ ngay trong phân biệt chấp trước mà sanh ra, không phải là
thật. Phật dạy chúng ta lìa tướng là lìa cái tướng vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước
, không phải là cái tướng hiện thực này của chúng ta. Nếu bạn lìa cái
tướng hiện thực này thì bạn hoàn toàn sai lầm. Cái tướng này là như thế nào
vậy? Trong Tướng Tông gọi là tướng phần của A Lại Da, nếu như từ trong tánh
tông mà nói thì đó là cái tướng duy tâm sở hiện. Trên kinh Bát Nhã nói “chư
pháp thật tướng” chính là nói cái này, đó là chư pháp thật tướng. Cái tướng này
không ngại sự, mà lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Ngại sự là gì vậy? Ngại sự là
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, cái tướng đó của bạn ngại sự. Đạo lý này rất
sâu rất rộng, nếu nói tỉ mỉ thì thời gian tương đối dài, may mà phía sau Hoa
Nghiêm
còn có nói đến, hơn nữa nói được rất nhiều. Vậy thì chúng ta từ chỗ này
mà thể hội được, đoạn phiền não nhất định phải từ gốc mà đoạn, chỗ này chúng
ta
thường nói là nhìn thấu buông bỏ. Nhìn thấu là hiểu rõ chân tướng sự thật.
Buông bỏ chính là buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, càng cụ thể hơn
mà nói là buông bỏ tham-sân-si-mạn, buông bỏ phải quấy nhân ngã, vậy thì chúng
ta
trải qua đời sống chính là đời sống trí tuệ cao độ của chư Phật Bồ Tát
.


Cho
nên trước tiên bạn nhất định phải đoạn phiền não, bạn không đoạn phiền não thì
không có năng lực học Phật pháp. Cho nên sau khi phiền não đoạn tận, cái nguyện
thứ ba gọi là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, bạn học pháp môn thì
rất đơn giản, rất dễ dàng, tại sao vậy? Trí tuệ khai rồi, sau khi đoạn phiền não
thì trí tuệ khai mở, pháp môn vô lượng vô biên vừa tiếp xúc thì liền thông đạt.
Các vị ở trong kinh Vô Lượng Thọ, ở trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật xem thấy
được tình hình của thế giới Tây Phương Cực Lạc, bạn xem, thù thắng dường nào!
Không chỉ Phật A Di Đà ngày ngày giảng kinh nói pháp, mà thế giới Tây Phương
sáu trần đều nói pháp. Các vị đã nghe Hoa Nghiêm nửa năm rồi, ý nghĩa của sáu
trần
nói pháp phải nên có thể hiểu thêm một chút.


Sáu
trần
nói pháp là thật, không phải giả; cây cối hoa cỏ, tất cả vạn pháp, không
có thứ nào không nói pháp, lại huống hồ mỗi một người đều có năng lực mỗi ngày
thân cận mười phương vô lượng vô biên chư Phật Như Lai. Bạn đi cúng Phật
bạn tu phước; cúng Phật đương nhiên nghe Phật nói pháp, nghe pháptu huệ.
Thế giới Tây Phương Cực Lạc là nơi chốn tốt nhất, phước huệ song tu, đạo tràng
tốt nhất
. Cho nên Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên chúng ta đến bên đó, mười
phương
tất cả chư Phật khuyến khích chúng ta đi đến thế giới Cực Lạc, đạo lý
chính ngay chỗ này. Tại vì sao không đi đến thế giới khác mà nhất định phải
đến thế giới Cực Lạc? Thế giới Tây Phương Cực Lạc là nơi chốn tốt nhất để tu
học
.
Nếu như nói đến các thứ khác, thì có một số thế giới còn thù thắng hơn
so với thế giới Cực Lạc, thế giới Cực Lạc sẽ không so sánh được với thế giới
đó; thế nhưng nói đến giáo học, học tập, thì bao gồm tất cả cõi nước chư Phật
đều không thể sánh được với thế giới Cực Lạc. Chúng ta phải biết được chân
tướng
sự thật này mới hiểu rõ ý nghĩa chân thật chư Phật Bồ Tát khuyên bảo
chúng ta vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Vì vậy lúc này tu học liền
nhanh, thời gian rất ngắn thì hoàn thành trí tuệ, cùng trí tuệ trên quả địa Như
Lai
không hề khác biệt, cho nên sau cùng nói “Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành
”, đó là kết quả.


Tứ
hoằng thệ nguyện
, bốn điều ở nơi đây lược nói. Bạn xem thấy Bồ Tát Pháp Tạng
làm thế nào đem áp dụng tứ hoằng thệ nguyện, làm thế nào tu được viên mãn tứ
hoằng thệ nguyện? Đó chính là 48 nguyện. Chúng ta học bộ kinh này phải nhắm vào
ngay chỗ này, chỗ này không được một chút mơ hồ nào, kinh văn chỗ này chỉ có
một câu là “thù thắng hạnh nguyện”. Hạnh cùng nguyện nhất định phải hợp lại, có
nguyện có hạnh, nguyện ở phía trước dẫn đường bạn, dùng hạnh để thực tiễn
nguyện, thực tiễn nguyện vọng của bạn thì nguyện vọng của bạn mới có thể đạt
đến, mới có thể viên mãn. Hy vọng các đồng tu phải tỉ mỉ mà tư duy, tỉ mỉ mà
thể hội. Chúng ta ở ngay trong đời sống hiện thực phải nên làm thế nào dụng
tâm? Phải nên làm thế nào tu hành? Nhất định phải phát nguyện, phải có thể xả
mình vì người.
Pháp Tạng có thể mãn nguyện chính là nhờ vào nguyên tắc này
mà làm. Pháp Tạng xây dựng thế giới Tây Phương Cực Lạc, xây dựng đạo tràng này
không phải để chính mình hưởng phước, mà để cung cấp cho tất cả chúng sanh mười
phương
thế giới, chỉ cần bạn ưa thích ở nơi đây thì đều hoan nghênh bạn đến tu
học
. Cái phước báo này mọi người cùng hưởng, chính Ngài không hưởng. Ngày nay
chúng ta học Phật, tu học Tịnh Độ thù thắng đến như vậy! Tu học Tịnh Độ chính
là học Phật A Di Đà, chúng ta có giống A Di Đà Phật hay không? Mỗi ngày chí ít
phải hỏi vài lần là ta có giống Phật A Di Đà không? Không giống Phật A Di Đà
thì không được, vậy thì bạn là giả, bạn không phải là thật. Nhất định phải
giống như Phật A Di Đà.


Làm
thế nào để giống Phật A Di Đà?


Lúc
trước tôi đã nói qua rất nhiều lần, phải đem bộ kinh này từng câu từng chữ làm
cho được thì bạn liền giống Phật A Di Đà. Bộ kinh này chính là Phật A Di Đà.
Cho nên chúng ta phải thật tin, phải có thể lý giải, phải y giáo phụng hành.
Không phải đọc nguyện của Phật A Di Đày theo nguyện đó của Phật A Di Đà,
chúng ta phải phát nguyện giống như nguyện của Ngài, tu cũng giống như hạnh của
Ngài, vậy mới giống như Phật A Di Đà. Có được hai, ba phần giống thì bạn quyết
định
vãng sanh; bạn có thể tu được tám, chín phần giống thì thượng thượng phẩm
vãng sanh, chúng ta phải nên nỗ lực.


Câu
phía sau cũng rất là ý nghĩa: “Cập niệm huệ lực”. Thực tế mà nói, câu
này là nói cơ bản hành môn của chúng ta, ngũ căn ngũ lực, chỗ này nói huệ lực
là nói năm lực, căn có lực. Năm căn là tín, tấn, niệm, định, huệ, nhưng chỉ nói
đến “niệm, huệ”, ngoài ra ba cái kia đã được tỉnh lược là “tín, tấn,
định”. Ý nghĩaviên mãn, quyết không có sót mất, bởi vì kinh văn này là một
câu bốn chữ, đó là cái đẹp của văn tự, ý nghĩa rất viên mãn. Trên văn tự
tỉnh lược, chúng ta phải biết. Thế nhưng bạn nghĩ đến ngũ căn ngũ lực thì bạn
cần phải biết ba mươi bảy phẩm trợ đạo, phía trước còn có Tứ Niệm Xứ. Niệm xứ
chúng ta có hay không? Niệm xứtrí tuệ, cũng là nhìn thấu mà chúng ta nói.


Tứ
niệm xứ
là dạy cho chúng ta bốn loại quan niệm chính xác. Ngày nay chúng ta tu
hành
, các đồng tu thường nói công phu không có lực. Nền tảng của chúng ta
chưa chắc chắn thì công phu của chúng ta đương nhiên không có lực. Không có lực
là gì? Không buông bỏ được. Tại vì sao không buông bỏ được? Không nhìn thấu
.
Phật dạy chúng ta phải bắt đầu học từ đâu? Bắt đầu học từ Tứ Niệm Xứ.


Điều thứ nhất trong Tứ Niệm Xứ là “quán thân bất tịnh”. Đây là bước đầu vào cửa, chính là
làm cho chúng ta đối với thân kiến này tuy là chưa thể đoạn dứt, nhưng cái chấp
trước
này phải giảm nhẹ, vậy thìtiến bộ. Dùng phương pháp quán thân bất
tịnh
này giảm nhẹ ngã chấp.


Thân
tuy là giả, không phải là thật, nhưng chúng ta không thể thiếu nó. Nhà Phật
thường nói “mượn giả tu thật”, chúng ta phải mượn cái thân giả này để tu
cái chân tánh, không có cái giả này thì vẫn không được, cho nên nó hữu dụng.
Bạn tận lực mà sử dụng nó, không chướng ngại, nhưng không được chấp trước nó.
Việc này ngày trước tôi giảng kinh thường nói qua, chúng tathế gian này, tất
cả vạn vật chúng ta nên có quyền sử dụng, không nên có quyền sở hữu. Quyền sử
dụng
hữu dụng, quyền sở hữuchấp trước, không cần phải sở hữu của ta, ta có
dùng được thì tốt rồi. Chúng tagiảng đường này giảng kinh, chúng ta ngồi ở
nơi đây, chúng ta có quyền sử dụng, quyền sở hữuCư Sĩ Lâm, không phải của
chúng ta. Đối với thân thể này cũng vậy, không nên chấp trước cái thân này là
ta, không nên thương yêuquá đáng, chăm sóc nó nhiều quá thì sai rồi. Ta
phải lợi dụng nó, phải sử dụng nó, ta quyết không chấp trước nó, sau đó xả thân
thọ thân thì bạn liền được tự tại. Cho nên Phật dạy cho chúng ta phương pháp
tốt, dạy chúng ta thường phải “quán thân bất tịnh”, cái thân này không phải là
thứ trong sạch, không phải là thứ tốt, bạn trân trọng nó như vậy, thương yêu
đến như vậy để làm gì? Vậy là sai rồi!


Điều thứ hai trong Tứ Niệm Xứ Phật dạy là “quán thọ thị khổ”. Thọ là gì vậy? Hưởng thọ. Người ở Singapore đều có phước, đây
là đất phước. Trên thế giới có rất nhiều nơi con người đang chịu khổ nạn, người
ở nơi đây thì cơm áo đầy đủ. Bạn tỉ mỉ mà nghĩ xem, bạn ngày ngày hưởng thọ,
bạn vui hay là khổ? Cũng không tệ, rất an vui, bạn không biết được thật khổ,
tại sao vậy? Bởi vì ba bữa cơm bạn ăn được rất no, cơm rau đều ăn được rất vừa
miệng, rất vui, nhưng một ngày không cho bạn ăn cơm thì đói đến khổ sở, cái khổ
liền đến. Do đây có thể biết, ba bữa cơm là thuốc, là cứu khổ, bạn thiếu một
bữa thì khổ rồi, thiếu hai bữa càng khổ, bạn mới biết được hưởng thọ của bạn là
khổ. Tại vì sao bạn không cảm giác được khổ? Là bởi vì đến lúc thì bạn liền
uống thuốc, làm cho cái khổ đó bị che mất, thì bạn không cảm thấy được khổ. Khi
một lần thuốc đến trễ thì khổ liền đến ngay, vậy mà bạn vẫn không giác ngộ.
Hưởng thọ của thế gian chỉ có khổ không có vui, cho nên nói với bạn, khổ là
thật, vui là giả. Vì sao nói vậy? Vui sẽ biến thành khổ nên vui chính là giả,
khổ không thể biến thành vui cho nên khổ là thật. Lấy việc ăn cơm để nói, bạn
ăn một chén rất vui thích, ăn cảm thấy ngon, ăn hai chén cũng rất vui thích,
liên tục bảo bạn ăn mười chén, hai mươi chén thì bạn liền khổ. Bạn thấy đó,
chẳng phải vui lập tức biến thành khổ rồi sao? Bụng đói thì rất khổ, đói một
ngày thì khổ, đói hai ngày càng khổ, đói luôn mười ngày, hai mươi ngày thì chỉ
có khổ kéo dài, tuyệt đối không thể nói đói đến một lúc nào đó thì vui, không
hề có việc này. Vui là giả, khổ là thật. Bạn chính mình phải cố gắngnghĩ
tưởng
, lời Phật nói không sai một chút nào, “quán thọ thị khổ”.


Điều thứ ba là “quán tâm vô thường”. Tâm là gì? Ý niệm. Ý niệm bảy trên tám dưới, cho nên nếu
bạn hiểu rõ, giác ngộ rồi, thì người thế gian qua lại là hư tình giả ý, không
có gì là thật. Xin nói thật lòng với bạn, đối tốt được với bạn thế nào, thương
yêu
bạn đến đâu, nhưng qua hai ngày thì thay đổi, trong tâm lập tức liền biến
đổi
. Cho nên nếu bạn hiểu rõ rồi, nghe lời Phật nói giác ngộ rồi, họ nói tốt,
bạn mỉm cười, biết là giả, không phải là thật; họ nói không tốt cũng là giả,
cũng không phải là thật, vô thường, không thật. Đây đều là nói đến chân tướng
sự thật. Đó là phàm phu. Tâm của Chư Phật Bồ Tátchân thường, gọi là “chân
tâm thường trụ”, cái đó thì vĩnh viễn không thay đổi. Phàm phu mê hoặc điên đảo
thì làm gì mà không thay đổi? Thiên biến vạn hoá, chính mình cũng không làm chủ
được chính mình thì làm gì có bảo đảm đối với người khác, làm sao mà đáng tin?


Điều thứ tư trong Tứ Niệm Xứ Phật dạy chúng ta là “quán pháp
vô ngã”
. Ngã là gì vậy? Chủ tể. Trên kinh
Hoa Nghiêm
đã nói qua tám loại ngã, chỗ này thì không cần nói thêm nhiều, ý
nghĩa
chủ yếu nhất trong tám loại này chính là chủ tể. Tất cả vạn vật đều không
thể làm chủ được, đều là đang biến hoá, người và động vật có sanh lão bệnh tử,
thực vậtsanh trụ dị diệt, khoáng vật có thành trụ hoại không, tất cả vạn
vật
không có tự thể, tất cả vạn vật đều không thể thường trụ, đó gọi là vô ngã.


Phật
dạy cho chúng ta bốn loại quan niệm cơ bản này, bạn phải thường hay quán sát
như vậy đối với vũ trụ nhân sanh thì bạn liền khai trí tuệ, đây là chúng ta nói
bạn đã nhìn thấu. Sau khi nhìn thấu liền có thể buông bỏ. Buông bỏ là gì vậy?
Tứ chánh cần, tứ như ý túc. Túc là gì vậy? Đầy đủ, tri túc thường lạc. Phật thị
hiện cho chúng ta, năm xưa Thích Ca Mâu Ni Phật còn ở đời, nhu cầu đời sống của
Ngài là ba y một bát, khất thực nuôi thân, nửa ngày ăn một bữa, dưới gốc cây
ngủ một đêm, Ngài biết đủ.


Tứ
như Ý Túc
, bốn điều này hợp lại mà nói chính là biết đủ thường vui, ngay trong
đó có Tứ Chánh Cần.


Tứ
Chánh Cần
là dạy chúng ta thái độ đối nhân xử thế ngay trong một đời này,
nguyên tắc đối nhân xử thế. “Chánh” là chính xác, “cần” là phấn đấu. Bốn loại
chánh đáng phải nên phấn đấu mà làm, một cái là đoạn ác, một cái là tu thiện.
Phật dạy chúng ta ác đã tạo phải mau đoạn dứt, ác chưa tạo thì quyết định không
nên tạo tác, hai điều này là đoạn ác. Cái thiện đã làm thì phải nỗ lực mà làm,
cái thiện chưa làm thì phải mau phát tâm, hai điều này là tu thiện. Cho nên, Tứ
Chánh Cần
hợp lại mà nói chính là đoạn ác tu thiện. Ngày nay chúng ta được thân
người, ở nhân gian này sống qua được mấy mươi năm, ngày tháng của mấy mươi năm
phải nên trải qua như thế nào? Phật chỉ điểm cho chúng ta nguyên tắc “đoạn ác
tu thiện”. Thế Tôn cũng thị hiện tấm gương này cho chúng ta xem. Chúng ta xem
thấy được trong truyện ký của Phật Đà, trong Đại Tạng KinhThích Ca Phương
Chí
, có Thích Ca Phổ do người xưa viết, đây là truyện ký cổ xưa nhất của Thích
Ca Mâu Ni Phật
. Cả đời Ngài thị hiện cho chúng ta xem, mười hai điều phía trước
đích thực là Ngài đã làm được, tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc Ngài thật
đã làm được. Vậy nếu chúng ta muốn niệm Phật vãng sanh thế giới Tây Phương Cực
Lạc
, nếu bạn muốn công phu có lực, bạn cũng phải đem ba khóa mục, mười hai câu
này làm cho được. Bạn tu hành có gốc, có nền móng rồi, thì công phu của bạn mới
có lực. Từ nơi nền tảng này mà nâng lên mới là ngũ căn ngũ lực. Ngũ căn, ngũ
lực
xây dựng trên nền tảng cơ bản này. Chúng ta xem thấy trên kinh A Di Đà,
người học của thế giới Tây Phương Cực Lạc, tức là những người của mười phương
thế giới vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc còn tu cái gì? Trên kinh nói
là “Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo Phần”, bốn điều phía trước
không hề nói, bốn điều phía trước không dùng, họ đều có rồi, nền tảng đều có
rồi. Đến thế giới Tây Phương Cực Lạc thì căn, lực, Bồ Đề phần, bát chánh đạo
vẫn phải làm tiếp tục.


Ba
mươi bảy phẩm trợ đạo
này, đại sư Trí Giả của Thiên Thai nói rất hay, người
thông thường đều đem nó xem thành giáo nghĩa của Tiểu thừa, cách nhìn này là
sai lầm. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là thông cả Tiểu và Đại thừa, đây là pháp cơ
bản trong Phật pháp, không luận Đại thừa, Tiểu thừa, Hiển giáo, Mật giáo, Tông
môn
, Giáo hạ thảy đều phải tu, khoa trình chung nhau, chúng ta phải nhận biết
cho rõ ràng. Đại sư Trí Giả đem ba mươi bảy phẩm, dùng phương thức bốn giáo
tạng, thông, biệt, viên giảng giải, chúng ta mới hoát nhiên đại ngộ, mới thấy
ra ba mươi bảy phẩm là pháp luân viên mãn của nhà Phật, bao gồm tất cả pháp ở
trong đó, nó là tổng cương lĩnh của Phật pháp.


Bây
giờ chúng ta trở lại trong kinh văn giảng “niệm huệ lực”, tức là ngũ lực. Ngũ
lực
, cái thứ nhất là “Tín”. Trước phải có gốc, sau đó cái gốc này mới sanh ra
sức mạnh. Vậy chúng ta muốn hỏi, tín của chúng ta có gốc hay không? Ngày nay
nghe được niệm Phật tốt, ngày mai lại nghe một người tham thiền tốt, tâm của
bạn liền dao động, ngày sau lại nghe một người trì chú tốt, lại muốn đi trì
chú
, tín của bạn không có gốc, giống như lục bình trôi trên sông vậy, trôi theo
dòng nước, không có gốc, cái tín này làm sao mà được! Tín tâm như vậy không
thành được việc gì. Vì sao lòng tin của họ không có gốc? Không làm tốt được
ba khoá mục trước là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc. Không xây dựng tốt
được nền tảng này nên lòng tin không có gốc.
Nếu như bạn làm hết được mười
hai câu phía trước thì lòng tin của bạn liền có gốc, vì sao vậy? Nhận biết
ràng
, sự lý nhân qua tất cả pháp đều có thể tường tận, biết được đoạn ác tu
thiện
, biết được biết đủ thường vui, tâm của bạn liền định, cho nên lòng tin
của bạn mới có gốc, gốc đang thêm lớn. Làm thế nào thêm lớn? Thân cận thiện
tri thức
, thân cận bạn lành, đọc tụng Đại thừa, mỗi ngày nghiên cứu thảo luận,
lý càng nghiên cứu càng rõ ràng, thế là lòng tin của bạn liền có sức mạnh,
quyết định không thể dao động
.


Từ
tín bạn mới có thể chịu tinh tấn, cái chữ “tấn” này là tinh tấn, đặc biệt chú ý
chữ “tinh”. Tinh là thuần mà không tạp, một môn thâm nhập, đây gọi là tinh tấn.
Không được học quá nhiều, không được học quá tạp. Trong tứ hoằng thệ nguyện nói
với chúng ta là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, vậy vì sao bảo chúng ta học
một môn? Một môn này cùng vô lượng là một ý nghĩa, không có một chút mâu thuẫn
nào. Nói thế nào vậy? Tổ sư đại đức nói với chúng ta: “Một kinh thông tất cả
kinh thông”, tất cả kinh không phải là vô lượng pháp môn hay sao? Bạn thông một
pháp môn rồi thì bao gồm tất cả pháp môn đều thông, đây gọi là “pháp môn
lượng
thệ nguyện học”.


Kinh
này làm thế nào mới gọi là học thông? Có phải kinh này đều học thuộc gọi là học
thông không? Không phải vậy, có phải đạo lý của kinh này đều hiểu hết mới gọi
là thông? Cũng là không phải. Vì sao gọi là thông? Mỗi một bộ kinh đều có
giáo-lý-hành-quả, nhà Phật gọi là bốn kinh. Văn tự là giáo; đạo lý hàm nghĩa
trong văn tự đó là lý (lý là chân lý, là chân như tự tánh); trong đây lại có
phương pháp tu hành, đó là hành kinh; giáo-lý-hành dung hoà thành một gọi là
chứng, như vậy bạn mới được xem là thông. Đừng nói là tất cả kinh mà Thích Ca
Mâu Ni Phật
đã nói trong 49 năm, mà tất cả kinh là từ trong một lý mà nói ra, thông
thường gọi là giáo lý.


Ngày
trước, khi tôi học giáo với lão sư Lý, lão sư lên dạy buổi học đầu tiên liền
dạy tôi là: “Ông phải học giáo lý”. Vào lúc đó tôi không hoàn toàn hiểu,
thầy nói với tôi: “Nếu như ông bắt tay vào từ giáo lý, tương lai tất cả kinh
đều quán thông, giảm nhiều thời gian
”. “Như kỳ bất năng”, nếu như bạn không
năng lực này thì “thoái nhi cầu kỳ thứ”. Bạn chú trọng giáo nghĩa, nghĩa
cũng là lý, thế nhưng nghĩa lý phạm vi nhỏ, thông một tông nhưng không thể
thông toàn bộ, có thể thông một tông, đó thuộc về nghĩa lý. Đây là Thế Tôn Ngài
ngay ban đầu dạy cho chúng ta phương pháp, bạn có thể từ đó mà nhắm vào, học
tập sẽ rất mau. Không thể nói học một bộ kinh thì sẽ giảng một bộ kinh, chiếu
theo phương pháp của lão sư mà làm, vậy thì không được, có làm thế nào cũng
chẳng qua máy ghi âm. Máy ghi âm thì không sót một chữ nào, chúng tadiễn
đạt
thế nào cũng không vượt qua được nó, có theo lão sư học như thế nào cũng
học không giống như máy ghi âm. Trong đây có phương pháp.


Thế
nhưng không luận từ giáo lý hoặc là từ nghĩa lý, cũng không phải người thông
thường có thể làm được. Tâm phải chặt, tâm phải chuyên, tâm phải thanh tịnh,
còn phải nhiệt thành với Phật pháp, bạn cần phải chuẩn bị mấy điều kiện này mới
được. Không đầy đủ mấy điều kiện này thì không được, nghĩa lý cũng không làm
được. Hay nói cách khác, vẫn phải như phía trước nói là niệm xứ, chánh cần, tứ
như y túc, vẫn là phải có cái nền tảng này. Không có cái nền tảng này thì khó.
Cho nên tôi giảng ba khóa mục này phía trước trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo,
cách giảng của tôi không giống như người xưa. Người xưa giảng khó hiểu, tôi đem
“tứ niệm xứ” giảng là “nhìn thấu” thì mọi người dễ hiểu, tôi đem “tứ như ý túc”
giảng là “buông bỏ” thì mọi người cũng dễ hiểu, có như vậy bạn mới chân thật
thể được thọ dụng.


Chính
tôi học Phật, thực tế mà nói, có lực là nhờ đại sư Chương Gia. Khi vừa bắt đầu
học Phật, đại sư Ngài dạy cho tôi sáu chữ: “Nhìn được thấu, buông được
xuống”
. Về sau tôi đến chỗ lão sư Lý học giáo thì tương đối dễ dàng là bởi
vì phía trước vị lão sư thứ nhất xây dựng cho tôi nền móng chuẩn xác, cho nên
biết được tinh tấn, một môn thâm nhập. Thế Tôn nói ra tất cả kinh, ở trên lý mà
nói thì pháp môn bình đẳng, không có cao thấp, bất cứ một bộ kinh nào, bạn toàn
tâm toàn lực dụng công ở trên đó, bạn nên hiểu được, không luận một bộ kinh nào
mở ra đều có bốn phần Giáo-Lý-Hành-Quả, chúng ta làm thế nào học tập?
Tín-Giải-Hành-Chứng. Tín giáo, giải lý, tu hành, chứng quả, thì bạn thông bộ
kinh
này. Bộ kinh này mà thông rồi thì tất cả kinh đều thông, tất cả kinh chỉ
cần vừa tiếp xúc, vừa nhìn, vừa nghe thì liền hiểu. Nếu như các vị hoài nghi,
nói việc này có thể sao?


Tôi
thấy rất nhiều đồng tu đều xem qua Đàn Kinh, Lục tổ Đại sư Huệ Năng thiền tông
triều nhà Đường nói (đại sư Huệ Năng không biết chữ, cho nên không phải do Ngài
viết, là do Ngài giảng, học trò của Ngài ghi chép cho Ngài), thời gian học giáo
của Ngài rất ngắn, ngay trong một đời học giáo, đại khái ở ngay trong tưởng
tượng của chúng ta nhiều nhất vẫn chưa tới hai ba giờ, ngay trong một đời học
giáo của Ngài nhiều nhất là hai ba giờ đồng hồ. Bạn thấy, nửa đêm Ngũ tổ Hoằng
Nhẫn
bảo Ngài đến phòng, giảng kinh Kim Cang cho Ngài nghe, giảng đến “ưng
sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” thì Ngài liền khai ngộ, phía sau không cần giảng nữa.
Các vị phải nên biết, hai giờ đồng hồ đó của Ngài thật cừ khôi, Ngũ tổ giảng
cho Ngài là giáo-lý-hành-quả của kinh Kim Cang, khi Ngài Huệ Năng nghe giảng
hai ba giờ đồng hồ liền tín-giải-hành-chứng. Hai người đều rất cừ khôi, một
người biết nói, một người biết nghe, làm gì giống như chúng ta ở nơi đây, giảng
nhiều năm đến như vậy vẫn không thể chứng quả.


Bạn
thấy đại sư Huệ Năng vừa chứng ngộ thì Ngài liền thông đạt tất cả. Trong lúc
Ngài chạy nạn, gặp được người thứ nhất là Tỳ kheo ni Vô Tận Tạng, cả đời vị Tỳ
kheo ni
này thọ trì kinh Đại Bát Niết Bàn. Số lượng của kinh Đại Bát Niết Bàn
tương đối nhiều, có hai loại bản dịch, một bản dịch là 36 quyển, một bản là 40
quyển, phân lượng tương đối nhiều. Tỳ kheo ni này tuy là ngày ngày đọc tụng
nhưng không hiểu được nghĩa của kinh. Đại sư chạy nạn gặp được, vị Tỳ kheo ni
này đem kinh Đại Bát Niết Bàn đọc cho đại sư Huệ Năng nghe, sau khi đại sư Huệ
Năng
nghe rồi liền giảng giải ý nghĩa trong đó cho Tỳ kheo ni nghe, Tỳ kheo ni
Vô Tận Tạng cũng khai ngộ. Kinh này Ngài không có học qua, Ngài vừa nghe liền
hiểu, chỗ này chính là nói rõ một kinh thông tất cả kinh thông là sự thật, cho
nên chữ thông này là từ trong bộ kinh này minh tâm kiến tánh. Kiến tánh mới gọi
là thông, không kiến tánh không gọi là thông. Sau khi kiến tánh thì tất cả thế
xuất thế gian pháp đều thông, vì sao vậy? Tất cả pháp thế xuất thế gian là “duy
tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Kiến tánh chính là thấy được tâm tánh, thấy
được thức tánh, cho nên thế xuất thế gian pháp vừa tiếp xúc thì liền thông hết.


Thiền
Pháp Đạt đến Tào Khê gặp Lục Tổ, thỉnh giáo với đại sư. Khi gặp mặt đương
nhiên là đảnh lễ. Lục tổ thấy được, khi ông đảnh lễ đầu không chạm đất. Lục Tổ
liền hỏi ông: “Ông nhất định có một chút bản lĩnh đáng được kiêu ngạo”.
Đầu không chạm đất là kiêu ngạo, đáng được kiêu ngạo, liền hỏi ông có bản lĩnh
gì? Ông nói ông đọc được ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa. Không tệ, có chút bản lĩnh.
Số lượng của kinh Pháp Hoa rất lớn, đại khái một ngày đọc qua một lần, hơn ba
ngàn bộ là mười năm, thì biết được ông đã đọc kinh Pháp Hoa mười năm, đáng được
kiêu ngạo. Lục Tổ liền hỏi ông ý nghĩa của kinh Pháp Hoa thế nào? Ông không nói
ra được. Pháp Đạt dập đầu sát đất thỉnh giáo với Lục Tổ. Lục Tổ nói: “Kinh
Pháp Hoa
tôi chưa nghe qua, ông đọc cho tôi nghe
”. Thế là ông đọc từ đầu,
đọc đến phẩm Phương Tiện, kinh Pháp Hoa có 28 phẩm, phẩm Phương Tiện là phẩm
thứ hai, đọc đến phẩm thứ hai thì Lục Tổ nói không cần đọc nữa, tôi hoàn toàn
hiểu hết rồi, liền giảng cho ông ấy nghe. Sau khi giảng rồi ông cũng khai ngộ.
Đây chính là nói rõ một kinh thông tất cả kinh thông. Cho nên giáo dục của Phật
giáo
không giống như giáo dục của thế gian. Ngày nay chúng ta dùng giáo dục
thế gian để học giáo dục của Phật thì đáng lo, đem kinh điển của Phật làm thành
sách giáo khoa thế gian để xem thì hỏng rồi
.


Mục
đích
giáo học của Phật pháp ở đâu vậy? Minh tâm kiến tánh, dạy bạn khai ngộ,
không phải dạy bạn từng câu trong kinh này giảng như thế nào, đoạn này giảng
như thế nào, không phải vậy. Sau khi bạn ngộ rồi, kinh là sống, bạn giảng thế
nào đều được, nói dài, nói ngắn, nói sâu, nói cạn, tất cả đều tự tại, vậy không
ngộ thì làm sao được? Cho nên “tinh” nhất định phải tinh tấn, hai chữ này chúng
ta
nhất định phải nhận biết rõ ràng. Từ tinh tấn có gốc sanh ra sức mạnh tinh
tấn
, sau đó mới đến giai đoạn thứ ba là “niệm”.


Niệm
là gì vậy? Trong lòng thật có, đó là niệm. Nhà Phật thường giảng “pháp môn tổng
trì”, niệm chính là pháp môn tổng trì, trong lòng có nguyên tắc, có cương lĩnh,
nắm lấy nguyên tắc cương lĩnh. Chúng ta niệm Phật cũng không ngoại lệ, cũng là
đạo lý này. A Di Đà Phật, một câu kinh văn này, một câu này đích thực là kinh
văn, một câu này cũng là chú ngữ, pháp môn đại tổng trì. Trong câu này vô lượng
nghĩa
, tổng quát tất cả pháp mà chư Phật đã nói đều không rời khỏi tổng cương lĩnh
này, đó là ý nghĩa của niệm. Sau khi nắm giữ được tổng cương lĩnh, tâm của bạn
mới được định, tâm kiên định, hay nói cách khác, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng
hiện tiền, vọng niệm không còn, phân biệt không còn, chấp trước cũng không còn,
thật đúng như trong Đàn Kinh đã nói là “vốn dĩ không một vật”. Vào được cảnh
giới
này đó là cảnh giới của định. “Vô nhất vật” là không có một vọng niệm nào
khởi lên. Định có thể sanh huệ. Huệ có được rồi thì tất cả pháp thế xuất thế
gian
tự nhiên liền thông đạt tường tận.


Câu
phía trước là nói hoằng nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng, câu này là nói công phu
của Bồ Tát Pháp Tạng. Công phu tu trì của người ta, tín tấn niệm định huệ, năm
loại này sanh ra sức mạnh lớn, phía sau gọi là “tăng thượng kỳ tâm”. Cho nên
chỗ này giảng ngũ lực cùng thông thường chỗ khác giảng ngũ lực ý nghĩa không
như nhau, nó là ngũ lực thù thắng, chúng ta có thể đem thù thắng phía trước
quán thông để xem. Thù thắng hạnh, thù thắng nguyện, niệm huệ lực thù thắng,
tán thán như vậy mới hiển thị rõ ra Ngài là “cao tài dũng triết, tín giải minh
ký, tất giai đệ nhất”.


(Còn tiếp
…)


KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC


Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG


Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ