Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 47)

0
10

KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 47)



Pháp
Tịnh Không


 


Ư CHƯ CHÚNG SANH, THỊ NHƯỢC TỰ KỶ,
CHẨN TẾ PHỤ HÀ, GIAI ĐỘ BỈ NGẠN


“Ư chư chúng sanh, thị nhược tự kỷ”


Hai câu này là
thái độ chúng ta giúp đỡ chúng sanh. Chúng ta phải xem tất cả chúng sanh thành
chính mình. Người xưa Trung Quốc thường dạy: “Mình không muốn thì đừng làm
cho người
”, ý nghĩa tương đương. Nhưng kinh Phật sâu sắc hơn, đó là phải
xem lợi ích của người khác như lợi ích của chính mình; người khác bị hại như
chính mình bị hại. Đó mới là người chân thật giác ngộ. Vì sao? Vì tất cả chư
Phật Bồ Tát đều có tâm trạng này. Chư Phật Bồ Tát đều “minh tâm kiến tánh”.
Kinh Hoa Nghiêm chỉ rõ những Bồ Tát từ sơ trụ trở lên, gọi là Viên Giáo; Biệt
Giáo
Sơ Địa phá một phẩm vô minh chứng một phần pháp thân. Cái gì gọi là
pháp thân? “Ư chư chúng sanh thị nhược tự kỷ”. Tất cả chúng sanh
chính mình đồng một tự tánh, nhà Phật gọi là chân như bổn tánh.


Chúng sanh không
chỉ chúng sanh hữu tìnhbao gồm chúng sanh vô tình. Chỗ này không hề nói: “Ư
nhất thiết hữu tình chúng sanh thị nhược tự kỷ
”, nếu nói như vậy thì giới
hạn
của nó rất rõ, nhưng chỗ này chỉ nói: “ư chư chúng sanh”. Ý nghĩa
hai chữ “chúng sanh” là chúng duyên hòa hợpsanh khởi hiện tượng. Vậy
tất cả động vật đều do chúng duyên hòa hợp sanh ra. Thực vật, khoáng vật cũng
là chúng duyên hòa hợp, thậm chí đến tất cả hiện tượng tự nhiên cũng đều do
chúng duyên hòa hợp, chỉ cần có hình tướng thì đều là chúng sanh. Ý nghĩa chúng
sanh
quá rộng lớn, tận hư không khắp pháp giới là chính mình. Điều này đúng như
kinh Hoa Nghiêm
nói: “Duy tâm sở hiện,
duy thức sở biến
”. Tận hư không khắp pháp giới là chính mình thì duy tâm
sở hiện; mười pháp giới y chánh trang nghiêm là chính mình thì duy thức sở
biến.


Thức
phân biệt. Từ trong phân biệt biến hiện ra trùng trùng pháp giới khác nhau.
Lìa khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì không còn pháp giới khác nhau,
mới gọi là pháp giới nhất chân. Người trong pháp giới nhất chân cùng người
trong mười pháp giới chúng ta không như nhau. Trong mười pháp giới vẫn còn vọng
tưởng
, phân biệt, chấp trước, nhưng trong pháp giới nhất chân không còn. Nếu
chúng ta cũng có thể lìa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì pháp giới nhất
chân
liền lập tức chứng được. Thế nhưng, pháp giới nhất chân cùng mười pháp
giới
không rời nhau mà đồng thời tồn tại, đồng chỗ tồn tại. Việc này không thể
nghĩ bàn. Đồng thời và đồng chỗ nên chư Phật cùng những pháp thân đại sĩ, Bồ
Tát
Viên Giáo Sơ Trụnăng lực tùy loại hiện thân, tùy cơ nói pháp, thiên bá
ức hoá thân. Viên Giáo Sơ Trụnăng lực thị hiện trong mười pháp giới, trong
sáu cõi, cùng tất cả chúng sanh hòa quang hồng trần, ở đây “hưng đại bi, mẫn
hữu tình
” để giúp đỡ chúng ta.


Khi họ thị hiện
giống chúng ta, cũng phân biệt, cũng chấp trước, như vậy có phải họ bị đoạ lạc không? Không. Chúng
ta
pháp giới người trong mười pháp giới, còn họ ở pháp giới nhất chân. Chúng
ta
và họ tuy cùng ngồi một bàn ăn cơm, đồng tay nắm tay, nhưng họ ở pháp giới
nhất chân, còn ta ở pháp giới người, không như nhau. Nếu các vị không thể hội
được ý nghĩa này thì nên nghĩ đến Đàn Kinh, Lục Tổ từng hỏi Vĩnh Gia rằng: “Ông còn phân
biệt
không?
” Ngài Vĩnh Gia trả lời: “Phân biệt diệc phi ý”.
Lục tổ nghe rồi gật đầu: “Không sai, ông như vậy ta cũng như vậy”. Đó
chính là Lục TổVĩnh Gia cùng ở pháp giới nhất chân.


Khi giáo hóa
chúng sanh, cùng ở chung với chúng sanh, những chúng sanh đó thuộc pháp giới
người trong sáu cõi, còn họ thì ở pháp giới nhất chân. Cho nên khi giảng kinh
nói pháp cho bạn nghe, họ cũng có phân biệt, chấp trước, nhưng họ thật không
phải phân biệt. Chúng ta cho rằng họ phân biệt, chấp trước nhưng không phải
vậy. Họ là trí. Chúng ta dùng tám thức, năm mươi mốt tâm sở, còn họ dùng bốn
trí. Họ đã chuyển A Lại Da Thức thành Đại Viên Cảnh Trí, chuyển Mạt Na thành
Bình Đẳng Tánh Trí, chuyển Đệ Lục Ý Thức thành Diệu Quan Sát Trí, chuyển Tiền
Ngũ Thức thành Thành Sở Tác Trí. Ngay cuộc sống thường ngày, họ dùng bốn trí Bồ
Đề
, còn chúng ta dùng tám thức năm mươi mốt tâm sở, nên tuy hình thức không
khác thậm chí hoàn toàn như nhau, nhưng trong cốt tủy lại hoàn toàn khác nhau.
Tâm của chúng ta nhiễm ô, tâm của họ thanh tịnh. Chúng ta phân biệt chấp trước
ô nhiễm, họ phân biệt chấp trướcthanh tịnh. Không phải họ chính mình
phân biệt chấp trước. Họ tùy chúng sanh phân biệtphân biệt, tùy chúng sanh
chấp trướcchấp trước, còn chính họ đích thực không phân biệt, không chấp
trước.


Hai câu trên
nói rõ mười pháp giới đồng thời tồn tại. Nhất chân cùng mười pháp giới không hề
cách xa, không có trước sau, đó là chân tướng sự thật. Chính bởi vì sự thật này
độ người chính là tự độ, tự độ chính là độ người. Tự độ độ tha là một sự
việc, không phải hai, tương ứng câu “vào pháp môn không hai” mà pháp đại
thừa
thường nói. Chúng ta xem thấy hai nhưng người ta thì không hai. Không hai
cho nên “phân biệt cũng không phải là ý”. Đạo lý này phải rất tỉ mỉ mà
thể hội, vì không phải cảnh giới của chính mình. Tại sao không phải cảnh giới
của chính mình? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chính mình không hề lìa
khỏi. Chỉ cần có phân biệt, chấp trước thì không phải cảnh giới của chúng ta.
Cho nên, chúng ta phải thường quan sát, bắt tay vào từ chỗ này. Kinh Lăng
Nghiêm
nói “tối sơ phương tiện” là chỗ vào cửa ban đầu. Nhất định phải
xem lợi hại của người khác là lợi hại của chính mình. Người khác khó khăn thì
chính mình khó khăn; người khác có phước thì chính mình có phước. Câu “ư chư
chúng sanh, thị nhược tự kỷ
”, chúng ta phải nên học tập. Quả nhiên nếu như
thể hội rồi thì lợi ích vô lượng vô biên, nói ra không cùng tận.


“Chẩn tế phụ
hà, giai độ bỉ ngạn”


Đây là đại
nguyện
đã phát ra trong nhân địa chúng ta. Chúng tasứ mạng, có trách nhiệm
hoá độ chúng sanh. Vì sao? Vì nơi nhân địa bạn đã từng phát nguyện. Hiện tại đồng
tu niệm Phật có người nào không ở trước mặt Phật mà xướng lên “tứ hoằng thệ
nguyện
”? “Chúng sanh vô biên thệ nguyên độ”. Cho dù bạn có tâm hay
không nhưng bạn ở trước mặt Phật Bồ Tát biểu thị đã phát ra nguyện này thì phải
xứng hiện, phải có trách nhiệm, có sứ mạng và nghĩa vụ giúp đỡ tất cả chúng
sanh
. Bạn phải gánh vác trách nhiệmchẩn tế phụ hà”. Sau đó là mục
tiêu
, không phải độ một người hai người, mà là phổ độ. Bởi vì khi phát nguyện,
bạn nói “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, chứ không phát nguyệnchúng
sanh
Singapore thệ nguyện độ
”, bạn không giới định phạm vi thì đó chính là
chúng sanh tận hư không khắp pháp giới. Cái nguyện này không phải tùy tiện mà
phát ra. Phát rồi thì phải nỗ lực làm.


Phiền não
vô tận thệ nguyện đoạn
”, bạn không đoạn phiền não thì bạn trái với thệ
nguyện
của mình, cho nên nhất định phải làm cho được. Làm chưa được cũng phải
chăm chỉ nỗ lực mà làm.


Có lẽ các vị
đồng tu cũng thường nghe qua trong nhà Phật có câu “Phật không độ người
duyên
”. Câu nói này cùng câu “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” có
trái ngược không, có mâu thuẫn không? Phải tỉ mỉ tư duy mới thấy không mâu
thuẫn
. Không phải Phật không độ chúng sanh không có duyên, không hề có đạo lý
này. Chúng sanh không có duyên thì độ sau, không phải không độ. Không duyên thì
kết duyên với họ, còn có duyên thì độ trước, không hề xung đột. Những người nào
có duyên? Loại chúng sanh tiếp xúc Phật pháp liền sanh tâm hoan hỉ, đó chính là
có duyên. Bạn nói với họ, họ tin tưởng, tiếp nhận, lý giải, đó là có duyên. Còn
đối với pháp môn Tịnh Độ họ có thể tin, hiểu, chịu đến niệm Phật đường niệm
Phật
, đó chính là duyên đã chín muồi. Chúng ta nhất định phải toàn tâm toàn lực
giúp đỡ. Vì sao? Vì ngay một đời này họ sẽ đi làm Phật. Thân thể hiện tiền,
Phật pháp gọi là thân sau cùng. Từ vô lượng kiếp đến nay trong sáu cõi sanh tử
luân hồi
, hôm nay đã đến đoạn cuối, về sau không còn nữa. Lần sau đến thế gian,
đó chính là Phật Bồ Tát tái sanh, thừa nguyện tái lai. Người thừa nguyện tái
sanh
sanh tử tự tại, “phân biệt cũng chẳng phải là ý”, không phải người
phàm. Việc này chúng ta nhất định phải biết. Giúp đỡ chúng sanh duyên chưa chín
muồi
thì kết duyên với họ, duyên đã chín muồi thì mau giúp họ đi làm Phật. Tất
nhiên người duyên chín muồi rất ít, còn người chưa chín muồi rất nhiều.


Các vị đồng tu
thấy rõ ràng, ở Singapore tín đồ Phật giáo bao nhiêu? Tuyệt đối không chỉ có
mấy người trong giảng đường của chúng ta. Những người đó cũng học Phật, cũng
niệm A Di Đà Phật nhưng chỉ có miệng mà không có tâm, vẫn không muốn vãng sanh,
vẫn thấy thế giới này tốt, đáng lưu luyến. Các pháp môn khác họ không tệ, học
giới
luật, học tham thiền, học Mật chú, học giáo rất nhiều thứ; nhưng nửa chín,
nửa không chín. Chúng ta phải dùng phương tiện khéo léo giúp đỡ họ, xúc tiến họ
thành Phật. Vậy thì phải giảng kinh nghiên giáo, đưa họ thâm nhập dần dần từng
bước, thấu hiểu giác ngộ.


Ngày trước, có
một năm tôi ở miền Nam Đài Loan giảng kinh, gặp ông cụ hơn tám mươi tuổi là bậc
lão tiền bối học Phật. Chúng ta tuy xuất gia nhưng kỳ thực học Phật không lâu hơn
ông lão này. Cả đời ông học mấy mươi năm, tham thiền, học giáo, học Mật, mọi
thứ đều thông đạt. Tôi giảng kinh ở miền Nam, ông cũng đến nghe. Chúng tôi quen
biết
nhau rất lâu. Ông gặp tôi và nói: “Pháp sư! Hiện tại tôi
đã già. Những thứ đã học từ trước, nay nghĩ lại đều không thể dùng được
”. Tôi hỏi vậy
phải làm sao? Ông cho biết: “Hiện tại tôi trung thực niệm Phật, một ngày
niệm ba mươi ngàn danh hiệu Phật
”. Tôi nói “Rất tốt, xem như ông đã quay
đầu
”. Hơn tám mươi tuổi mới quay đầu. Cũng được, chỉ cần quay đầu thì có
thể được độ. Tuổi tác lớn, mỗi ngày kinh hành niệm Phật là việc rất tốt. Ông ở
dưới quê thường hay ra ngoài đường đi bộ. Ông nói: “Tôi niệm một câu Phật
hiệu
đi một bước. Mỗi ngày niệm ba mươi ngàn danh hiệu Phật thì đi ba mươi ngàn
bước. Thân thể kh
ỏe
m
ạnh. Hơn tám mươi tuổi xem ra rất cường tráng. Đi bộ là
vận động tốt, đặc biệt đối với người già
”.


Cho nên niệm
Phật
đường cũng lấy nhiễu Phật làm chủ. “Bát Chu Tam muội” chính là
nhiễu Phật, gọi là Phật Lập Tam muội. Họ không ngồi cũng không nằm. Hiện tại
niệm Phật đường của chúng ta không cần phải nghiêm khắc như vậy vì nếu nghiêm
khắc
thì mọi người sẽ e ngại, không dám đến niệm Phật. Chúng ta phải mở rộng để
mọi người niệm thư thích, an vui. Ưa thích đến đây niệm Phật là bước thứ nhất.
Về sau chúng tanăng lực, niệm Phật đường phải có thêm vài người. Lúc đó,
đẳng cấp không như nhau, càng lên cao thì càng nghiêm khắc hơn. Còn người
học
thì phải mở rộng để họ cảm thấy ưa thích, sau đó dần dần đem cảnh giới của
chính mình hướng lên, công phu cũng cao hơn. Thế nên luôn phải duy trì đại
nguyện
giai độ bỉ ngạn”.


Với người không
có duyên, chúng ta trồng hạt giống Phật cho họ. Hiện tại chúng ta làm biểu
tượng
trên áo, in chữ A Di Đà Phật rồi mặc đi ra đường. Rất nhiều người xem
thấy câu A Di Đà Phật thì coi như ta đã gieo hạt giống Phật cho họ. Đó là bước
tiếp dẫn thứ nhất, để họ có cơ hội nghe Phật hiệu, xem thấy danh hiệu Phật,
nhìn thấy hình tượng Phật. Trong A Lại Da Thức của họ đã có chủng tử, đó chính
là “giai độ bỉ ngạn”. Cách làm hiện tại của chúng ta thực tiễn ngay
trong cuộc sống thường ngày.


TẤT HỘ CHƯ
PHẬT, VÔ LƯỢNG CÔNG ĐỨC, TRÍ TUỆ THÁNH MINH, BẤT KHẢ TƯ NGHÌ


Đoạn này là
tổng kết.


Tất hộbao gồm những vị Bồ Tát
đến dự, mỗi vị đều được “chư Phật vô lượng công đức”. Chữ “chư Phật
có hai ý nghĩa, một là mười phương ba đời tất cả chư Phật, hai là trực tiếp chỉ
A Di Đà Như Lai.


Trí tuệ thánh minh”, cái gì gọi
là thánh? Vào thời xưa, người có trí tuệ, đối với vũ trụ vạn sự vạn vật đều
tường tận, hơn nữa còn thấu hiểu triệt để thì được gọi là thánh nhân. Tường tận
mà không đủ thấu triệt thì được xem là hiền nhân. Thánh và hiền khác biệt ở
điểm này.


Không thể nghĩ bàn”, Thế Tôn
chúng ta nói rõ trí tuệ của Bồ Tát đại đức đại năng. Thí dụtám tướng thành
đạo
”, những Bồ TátCực Lạc mỗi mỗi đều là vạn đức vạn năng, trong sát độ
mười phương không bờ mé tùy loại hóa thân. Đáng dùng thân Phật để độ thì thị hiện tám tướng thành
đạo
, thị hiện thân Phật mà nói pháp. Bồ tátthể hiện thân Phật, thân Thanh
Văn
, Duyên Giác; thân chúng sanh sáu cõi, thậm chí thân tướng chúng sanh
tình, đều có thể hiện được. Điều này chứng tỏ các Ngài tùy loại hóa thân, tùy
nói pháp, đạt đến cứu cánh viên mãn. Vậy Bồ Tát thế giới Tây Phương Cực Lạc
ở vị thứ nào, phẩm vị nào? Trong bộ kinh này, bốn mươi tám nguyện là pháp căn
bản
của Tây Phương Tịnh Độ. A Di Đà Phật khai thị rõ cho chúng ta, thế giới Tây
Phương Cực Lạc
pháp giới bình đẳng, không thể nghĩ bàn. Phàm hễ người vãng
sanh
đến thế giới Tây Phương Cực Lạc mỗi mỗi đều có năng lực, thần thông, trí
tuệ
như vậy, không thứ nào không viên mãn. Cho nên, từ cõi Phàm Thánh Đồng Cư
hạ hạ phẩm vãng sanh đến cõi Thật Báo thượng thượng phẩm đều có thể thị hiện
như trong Quán Thế Âm Phổ Môn phẩm đã nói: “Đáng dùng thân gì để độ, liền hiện ra
thân đó
”. Bồ Tát Quán Âmba mươi hai ứng thân, mỗi loại
lượng
vô biên.


Đọc đến đây, nếu chúng ta thể hội
lược
, nhất định liền nghĩ phải đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Chỉ có đến thế
giới
Tây Phương Cực Lạc mới đạt được tự tại chân thậtthực tiễn căn bản đại
nguyện
của chúng ta, thỏa mãn tất cả mong cầu của chúng ta.


Câu cách ngôn trong nhà Phật nói rất
hay: “Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng”. Chúng ta học Phật, ngay cửa Phật
có cầu chưa chắc ứng,
tThế nhưng đến được Tây Phương Cực Lạc thì không như vậy, cảm ứng hoàn toàn.
Thế Tôn trong bổn kinh cho chúng ta biết rất rõ ràng chân tướng sự thật. “Chư
Phật vô lượng công đức
” là công đức cứu cánh viên mãn; trí tuệ, đức tướng,
thần thông, phương tiện, không thứ nào không viên mãn. Đó là cảnh giới không
thể nghĩ bàn. Áp dụng vào đời sống thực tại, chúng ta phải tu học như thế nào?


Hiện đại địa cầu chúng ta do khoa học
phát triển nên địa cầu “càng ngày càng nhỏ”. Không phải địa cầu thu nhỏ
mà do giao thông quá thuận tiện. Hôm tôi xem đoạn tin tức cho biết hiện nay Hoa
Kỳ đang phát triển một loại phi cơ cực nhanh. Bay từ Gia Châu của Hoa Kỳ đến
Nhật Bản, trước đây mất chín giờ đồng hồ, nhưng loại phi cơ tốc hành này chỉ
mất một tiếng rưỡi đồng hồ. Loại phi cơ này đi một vòng địa cầu nhiều nhất là
sáu giờ, cho nên mới nói địa cầu “càng ngày càng nhỏ”.


Nhờ internet,
đường truyền vi tính mà chúng ta giảng kinh nơi đây, thính chúng không chỉ
những người ngồi trong giảng đường này, mà truyền đi khắp thế giới. Thế kỷ sau,
khoa học tiến bộ đến mức người người phải dùng vi tính, đó là thời đại của vi
tính. Vi tính biến thành thứ cần thiết trong đời sống của chúng ta. Mỗi người
thông qua vi tính đều có thể nghe, xem hình ảnh của nhau, cũng giống như truyền
hình vậy. Chúng ta giảng kinh bất cứ nơi nào cũng như đang giảng cho toàn thế
giới
, rất gần với câu: “Tất hộ chư Phật,
vô lượng công đức, trí tuệ thánh minh, bất khả tư nghì
”. Đối tượng
giáo
hóa của Phật Bồ Tát là tận hư không khắp pháp giới vô lượng vô biên cõi
nước chư Phật. Nhiều cõi nước Phật như vậy, mỗi cõi nước Phật lại có vô số
lượng
chúng sanh. Số lượng này không phải số thứ tự số học có thể biểu đạt ra
được. Ngày nay, chúng ta nghiên cứu nhân số địa cầu, thống kê hiện tại khoảng
sáu mươi ức. Thế nhưng đây chỉ mới một địa cầu, còn thế giới Ta Bà của Thích Ca
Mâu Ni Phật
thì số lượng chúng sanh nhiều vô kể. Thế giới Ta Bà có bao nhiêu
thái dương hệ? Chiếu theo cách nói thông thường của kinh điển thì có mười vạn
thái dương hệ, còn chiếu theo
cách nói của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ thì một đơn vị thế giới mà kinh Phật nói
chính là hệ ngân hà. Khu vực giáo hóa của Thích Ca Mâu Ni Phật khoảng mười vạn
ức hệ ngân hà. Vậy có bao nhiêu chúng sanh? Dường như đồng tu học Phật không hề
nghĩ qua vấn đề này. Kỳ thực vấn đề này đối với chúng ta quá to lớn, nhưng nếu
bạn không hề nghĩ qua chứng tỏ bạn vẫn lơ là qua loa.


Mục đích giáo học của Phật pháp là gì, chúng ta không
thể không biết. Bạn phải nói được rõ ràng tường tận thì đại chúng xã hội mới
biết Phật pháp nên học. Giáo học của Phật pháp là điều hòa chúng sanh. Trong
mười đức hiệu của Phật có một đức hiệu là “Điều ngự trượng phu”, đó là tiền đề. Hiện tại địa
cầu thu nhỏ, quan hệ giữa người và người ngày càng mật thiết. Không như thời
đại
nông nghiệp ngày trước, nhiều người đến già chết không hề qua lại. Phạm vi
đời sống của họ rất hạn hẹp, cả đời sống đạm bạc, không tiếp xúc với bên ngoài.
Còn hiện tại bạn không tiếp xúc không được. Khi tiếp xúc thì liền nảy sinh vấn
đề
. Mỗi quốc gia khu vực có bối cảnh văn hoá, phương thức đời sống, ý thức hình
thái không như nhau, tín ngưỡng tôn giáo cũng không như nhau. Như vậy khi vừa
tiếp xúc nhiều văn hóa khác nhau liền
nảy sinh xung đột. Nếu không thể hóa giải sẽ mang đến cho xã hội nhiều động
loạn bất an, hiện tại gọi là phân biệt đối xử. Không chỉ kỳ thị chủng tộc, kỳ
thị tôn giáo, kỳ thị văn hóa, mà còn nhiều
kỳ thị khác. Khi kỳ thị nghiêm trọng liền sanh ra bạo động chiến tranh. Đó là
việc mà mỗi người chúng ta không ai hy vọng thấy, nhưng sự thật bày ra trước
mắt
gần như không cách gì tránh khỏi. Nhờ đó, chúng ta mới sâu sắc thể hội tầm
quan trọng của giáo học Phật pháp. Phật pháp dạy chúng ta làm thế nào để tiêu
trừ
những ngăn cách này. Cho nên tổng cương lĩnh giáo học của Phật pháp là nói
chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Hiểu rõ chân tướng thì những vấn đề này tự
nhiên
liền được giải quyết, thậm chí giải quyết tất cả vấn đề của thế kỷ XXI. Chúng ta
không thể không lưu ý giáo dục của Phật Đà.


Trung Quốc cổ đại chí ít vào hai ngàn
năm trước, Lễ Ký trong Thập Tam Kinh hoàn thành vào cuối thời Chiến quốc, đầu
thời nhà Hán. Trong Lễ Ký có một thiên Học Ký là giáo dục triết học cổ xưa của
Trung Quốc dạy rằng: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”. Điều này
khiến chúng ta liên tưởng quốc gia hiện đại hóa đều rất chú trọng xây dựng nền
tảng. Thế nhưng trong xây dựng nền tảng lại xem thường giáo dục mà chỉ chú ý
xây dựng giao thông bao gồm những thiết kế đường sắt, xa lộ, cảng khẩu, phi
trường, thủy lợi, khai thác năng lượng. Mọi người chỉ chú trọng kiến thiết vật
chất
trong khi giáo dục quan trọng hơn những thứ này. Hiện tại chúng ta cũng
thấy không luận trong nước hay ngoài nước, dường như giáo dục đều rất phát
triển và rất phổ biến.


Hôm nay tôi nêu
vấn đề này có vẻ dư thừaquốc gia chúng ta làm công tác giáo dục cũng không
tệ. Thế nhưng kỳ thực giáo dục mà tôi nói không giống như giáo dục thông thường
hiện nay. Vì sao không như nhau? Hiện tại trường học mọc lên nhiều hơn, giáo
dục
phát triển hơn, nhưng có bỏ được kỳ thị chủng tộc hay không? có bỏ được kỳ
thị văn hoá và kỳ thị tôn giáo hay không? Không hề có! Không những không bỏ mà
ngày càng phức tạp, nghiêm trọng hơn. Do đây mà biết, giáo dục đã có vấn đề;
giáo dục bị thiên lệch.


Chúng ta y theo tư tưởng giáo dục cổ
xưa của Trung Quốc, lấy nhà Nho Trung Quốc làm thí dụ. Trung Quốc chọn học
thuyết
của Khổng Mạnh vào những năm đầu triều nhà Hán. Vua Hán Vũ Đế chế định
chính sách giáo dục. Sau hai ngàn năm, chính quyền thay đổi, thay vua đổi chúa,
nhưng chế định chính sách giáo dục của Hán Vũ Đế mãi đến đời Mãn Thanh cũng
không thay đổi. Chính sách này dùng được hai ngàn năm là không thể nghĩ bàn.


Nội dung giáo học của nhà Nho là gì?
Luân lý đạo đức. Khổng Phu Tử phân thành bốn khóa mục, tương đương bốn học viện
ngày nay.


Thứ nhất là “đức hạnh”. Trong
đức hạnh bao gồm luân lý. Luân lý là nghĩa rộng, dạy chúng ta quan hệ giữa
người và người. Hiện tại làm gì có loại giáo dục này. Con người khác loài cầm
thú
ở quan hệ vợ chồng, quan hệ cha con, anh em, quân thần, bạn bè, gọi là “ngũ
luân
”. Làm hết nghĩa vụ giữa người với người thì là đạo nghĩa. Nói đạo
nghĩa
mà không nói lợi hại. Giáo dục như
vậy mới xem như thành công, mới có thể tiêu trừ ngăn cách hiểu lầm giữa con
người
con người.


Thứ hai, luân lý dạy chúng ta nhận biết
quan hệ giữa con người với vạn vật tự nhiên. Quan hệ này có thể giúp cho sinh thái
tự nhiên của cả thảy địa cầu được quân bình. Ngày nay mọi người đều biết, sinh
thái địa cầu mất quân bình. Vấn đề này rất nghiêm trọng, đây là mối quan hệ của
hoàn cảnh đời sốngcon người chúng tamọi người không hiểu. Vậy phải làm
thế nào thương tiếc hoàn cảnh, bảo hộ, bồi dưỡng hoàn cảnh, không phá hoại nó?


Không phải người Trung Quốc không hiểu
khoa học kỹ thuật. Vào triều nhà Hán, sách sử ghi chép, những phát minh tiên
tiến
trên thế giới ngày nay đa số khởi đầu từ Trung Quốc. Vì sao chúng ta không
tiếp tục phát triển khoa học kỹ thuật? Nếu hai ngàn năm trước, chúng ta bắt đầu
phát triển khoa học thì e rằng hiện tại thế giới đã sớm bị hủy diệt. Người xưa
quan niệm luân lý, có trách nhiệm đối với lịch sử, với quảng đại quần chúng
nên nếu khoa học mang lại lợi ích nhưng kèm theo tác dụng phụ thì không làm.
như
hiện tại mọi người đều biết, tầng ôzon bầu trời Nam Cực bị thủng lỗ, diện
tích ngày càng lớn. Ozon bảo vệ địa cầu, hấp thu tia tử ngoại từ mặt trời.
Không nhờ tầng ôzon bảo vệ, ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu xuống trái đất
thì rất nhiều động thực vật không thể sinh tồn, sẽ bị tiêu diệt. Vì sao tầng
ôzon bị phá hoại? Do tác dụng phụ của khoa học. Tổ tiên xa xưa của chúng ta
hiểu rõ tình huống này nên không phát triển khoa học, để sinh mạng thế gian
được kéo dài thêm vài năm. Đó là quan hệ giữa người và đại tự nhiên.


Kinh Phật nói
rất sâu quan hệ mật thiết của y báochánh báo. Nhà Nho nói ít hơn. Theo nhà
Phật, quan hệ của con ngườivũ trụ là tận hư không khắp pháp giới. Đại vũ trụ,
người thông thường gọi là thiên địa quỷ thần, Phật pháp gọi sáu cõi, mười pháp
giới
, mười phương tất cả cõi nước chư Phật có quan hệ gì với chúng ta? Chúng ta
phải hiểu rõ ràng tường tận, sau đó mới biết sinh hoạt như thế nào để làm người
hoặc làm thánh hiền.


Thánh hiền nhân trong Phật pháp chính
là Phật Bồ Tát. Phật là thánh nhân, Bồ Táthiền nhân. Trải qua đời sống
thánh hiền, đời sống trí tuệ thánh minh, thì chúng ta đạt nhiều hạnh phúc mỹ
mãn. Như vậy mới có thể giải quyết vấn đề của thế kỷ XXI. Quốc gia,
chủng tộc, văn hoá, tôn giáo tín ngưỡng khác nhau, làm thế nào cùng trên địa
cầu này sống một cách hòa thuận, hợp tác lẫn nhau, đồng phồn vinh, đồng đến tạo
phước cho xã hội. Việc này phải dựa vào giáo dục.


Hiện tại chúng ta đối mặt với tình huống
xã hội hiện thực, nên khi triển khai kinh điển của Phật mới cảm khái vô hạn.
Thế giới ngày nay có nguy cơ không? Đích thực có. Kinh điển Phật có thể giải
quyết
tất cả vấn đề của chúng sanh. Điển tích như vậy không người nhận biết,
không được tuyên dương, trái lại còn khiến cho đại chúng xã hội sanh ra hiểu
lầm
, Phật giáo biến thành tôn giáo. Biến thành tôn giáo thì tôn giáo cùng tôn
giáo
lại bài trừ lẫn nhau. Cho nên Phật giáo không phải là tôn giáo. Phật giáo
giải quyết tất cả vấn đề học vấn, nên hãy xem Phật giáo thành học thuật
luận
, có phương pháp, giúp chúng ta giải quyết vấn đề cá nhân, sự nghiệp, quốc
gia
thế giới.


Đầu năm Dân quốc, đại sư Âu Dương Cảnh
Vô, học trò của Dương Nhân Sơn, từng một lần diễn giảng đề tài: “Phật giáo
không phải là tôn giáo, không phải triết học, mà là những điều người đời nay
cần đến
”. Từ đề giảng này, chúng ta thể hội ông thật đã nhận biếttỉnh
ngộ
ra. Tuy nhiên, ông sanh vào thời đại biến loạn, tuy phát đại tâm làm giáo
dục
, bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp kế tục huệ mạng Phật, nhưng khi thành lập
một học viện ở Nam Kinh, chỉ mở được hai năm thì phải đóng cửa. Thời gian tuy
ngắn, nhưng gần như đầu Dân quốc, hầu hết đại pháp sư, đại cư sĩ đều học tập
trong Phật học viện này. Đáng tiếc, thọ mạng Phật học viện của ông quá ngắn.
Nếu ông duy trì được mười năm, hai mươi năm, tôi tin thế giới của chúng ta
không đến nỗi xảy ra nhiều động loạn, nhiều tai nạn đến như vậy.


Vào năm 1970, Thang Ân Tỷ, một triết
học
gia người Anh, tại hội nghị quốc tế đã nêu bài phát biểu. Trong đó ông nhắc
đến việc chúng ta chân thật giải quyết được vấn đề của thế kỷ XXI, chỉ có học
thuyết
Khổng Mạnh và Phật pháp đại thừa. Tiên sinh Âu Dương nói vào khoảng thời
kỳ
đầu của thế kỷ XX, đại khái năm
1920; còn Thang Ân Tỷ thì nói vào năm 1970. Cách nhau nửa thế kỷ nhưng cách
nhìn, kiến giải của họ gần như hoàn toàn giống nhau, đều khẳng định Phật pháp
đại thừa có thể giải quyết vấn đề. Các Ngài vì chúng sanh khổ nạn ngay trước mắt, nên chúng ta
phải chăm chỉ nỗ lực tu học, đem giáo học Phật Đà mở mang rộng lớn.


Vì tránh một số
danh từ thuật ngữ trong Phật học khiến nhiều người hiểu lầm, vừa nghe thấy liền
sanh ra bài trừ không thể tiếp nhận, cho rằng mê tín, nên chúng ta lần này
giảng kinh Vô Lượng Thọ, kinh Hoa Nghiêm, lấy tổng đề mục là đôi liễn viết trên
hai cột: “Học vi nhân sư, hành vi thế phạm”. Tám chữ đại diện toàn thể
Phật pháp. Nếu bạn hỏi nội dung của Phật pháp là gì? Tám chữ này đã nói tất cả,
một chút cũng không sai, không miễn cưỡng.


” là gương mẫu. “Phạm
mô phạm. Phật Bồ Tát dạy bảo chúng ta phải làm gương cho tất cả mọi người, gia đình chúng
ta
làm mô phạm cho thế gian,
chúng ta ở trong nghề nghiệp làm mô phạm cho toàn thế giới. Đó là nội dung
chân thật của kinh điển nhà Phật, không chỉ kinh đại thừa mà kinh tiểu thừa
cũng không ngoại lệ. Mỗi câu mỗi chữ đều áp dụng đời sống hiện thực của chúng
ta
, chưa bao giờ tách khỏi.


Lần này chúng
ta
không bị hạn chế bởi thời gian nên có thể chọn cách giảng dài, tỉ mỉ. Nếu
không
tỉ mỉ nói rõ, tôi sợ mọi người nghe rồi vẫn không thể chuyển được quan
niệm
. Nếu chúng ta vẫn cứ xem nó là tôn giáo, đem Phật Bồ Tát xem thành thần minh
thì chúng ta hoàn toàn sai lầm. Phật, Bồ Tát, A La Hán,… nghiêm khắc mà nói
chính là danh xưng học vị. Hoạt động của Phật giáo, nếu dùng lời nói hiện đại
thì chính là công tác giáo dục xã hội.


Thích Ca Mâu Ni Phật là nhân vật như
vậy, hoàn toàn tận nghĩa, chân thật hiển thị tấm gương để chúng ta noi theo: “Không tranh với
người, không mong ở đời
”, một đời toàn tâm toàn lực làm công
tác giáo dục xã hội. Đó là đặc điểm vĩ đại của Ngài khiến người sau ngưỡng mộ.
Ngài có trí tuệ vô tận, đức năng vô tận. Vì sao Ngài phải bắt đầu từ công việc
giáo dục? Vì giáo dục không chỉ là nền tảng xây dựng quốc gia mà còn là nền
tảng xây dựng toàn thế giới. Hiện tại chúng ta nói rõ, giáo dục không chỉ là
nền tảng xây dựng thế giới mà còn là kiến thiết cơ bản nhất cho tận hư không
khắp pháp giới. Chư Phật Bồ Tát đều làm công việc này, đó là sự hy sinh phụng
hiến
, vì tận hư không khắp pháp giới tất cả chúng sanh mà tạo phước. Kinh Vô
Lượng Thọ
ghi: “Huệ dĩ chân thật chi lợi”. Chúng ta đọc phẩm kinh văn
chí ít phải có nhận thức này, sau đó khải phát đạo tâm của chính mình, gọi là “phát
Bồ Đề tâm
, lập đại chí nguyện
”.


Chúng ta cần
học Phật, học Bồ Tát nhất là các đồng tu xuất gia. Khi xuất gia, có lẽ bạn mơ
mơ hồ hồ, tuyệt nhiên chưa nhận biết. Khi đã xuất gia, bạn nhận biết rõ ràng,
thì tôi hỏi bạn có bằng lòng phát nguyện làm công tác giáo dục xã hội, hoàn
toàn
tận nghĩa vụ không cầu bất cứ báo đáp nào không? Không bằng lòng thì hoàn
tục
vẫn tốt. Còn bằng lòng thì việc xuất gia của bạn được xem như đã tường tận,
đã thấu hiểu mà xuất gia, không phải hồ đồ mà xuất gia. Chúng ta phải xả bỏ
danh vọng lợi dưỡng, quyết không ham muốn năm dục sáu trần, bằng lòng trải qua
đời sống với mức thấp nhất. Lời nói này tuy là vậy, nhưng đời sống của người
xuất gia hiện nay vẫn ở trên mức thông thường, chưa phải mức thấp nhất. Bạn
xem, buổi tối các vị nơi đây niệm Phật, tối nay có ba mươi sáu giờ niệm Phật,
nhưng bên ngoài niệm Phật đường bày biện rất nhiều đồ cúng dường phong phú. Đồ
ăn, thức uống bổ dưỡng đều đầy đủ, đó không phải là mức thấp nhất mà là mức
cao. Nhưng phải ghi nhớ,
nhất định không khởi lòng tham.


Vì sao Phật dạy chúng ta trải qua đời
sống
ở mức thấp nhất? Vì mục đích đoạn san tham, thành tựu giới – định – huệ,
đạt đại tự tại. Ở thuận cảnh không có lòng tham ái, ở nghịch cảnh không có lòng
sân hận. Kinh Kim Cang cho đó là một tiêu chuẩn tuyệt đối. Chúng ta hãy nỗ lực
hướng đến tiêu chuẩn này: “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng,
vô thọ giả tướng
”. Đạt đến tiêu chuẩn này, bạn liền siêu việt mười pháp
giới
. Vì trong mười pháp giới có đầy đủ bốn tướng, lìa khỏi bốn tướng thì mười pháp giới cũng không còn, bạn
liền khế nhập pháp giới nhất chân.


Thế giới Cực Lạc trong bổn kinh cũng là
thế giới Hoa Tạng trong kinh Hoa Nghiêm, nên Hoa Tạng cùng Cực Lạc là một,
không phải hai. Cực Lạc là khu vực tinh hoa của Hoa Tạng, cũng như con đường
Orchard, khu vực đẹp nhất của trung tâm thành phố Singapore.


Hôm nay xem như chúng ta đã hiểu rõ
ràng tường tận, biết thân phận và sứ mạng của chính mình, biết được vì sao
chúng ta đến thế gian này, và đến để làm gì. Khi đã rõ ràng thì coi như bạn là
người thông suốt, không còn hồ đồ. Muốn rõ ràng tường tận, nhất định phải “thâm
nhập
kinh tạng
”. Hầu như nhận biết của chúng ta ngày nay mới chỉ như sự mở
đầu, không đủ độ sâu, vì trí tuệ chưa khai, không có phương tiện khéo léo, ngày
tháng vẫn trải qua rất khổ cực. Khi trí tuệ khai mở, bạn có phương tiện khéo
léo, đời sống của bạn sẽ trải qua tự tại, an vui, mỹ mãn. Không luận bạn trải
qua
đời sống như thế nào, không luận bạn từ nghề nghiệp nào, công việc nào, bạn
nhất định tự tại an vui vì đã giác ngộ.


Phật pháp chỉ
rõ “phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui”, lời nói này rất chính xác. Khổ
từ mê mà ra, mê rồi thì khổ. Vui từ giác ngộ mà có. Đời sống trước mắt chúng ta
bần tiện hay phú quý đều không can hệ. Người bần tiện có tự tại an vui, người
phú quý cũng có tự tại an vui. Từ trên tự tại an vui mà nói thì bần tiện cùng
phú quý không liên quan,
then chốt chỉ ở mê ngộ.


Cho nên kinh
điển
không thể sơ sài qua loa, mà phải đọc tỉ mỉ và thể ngộ thì chúng ta mới có thọ dụng chân
thật
. Thực tế, “Chư Phật vô lượng công đức trí tuệ thánh minh” còn một
tầng ý nghĩa rất sâu, đó là trong tự tánh chúng ta vốn sẵn đầy đủ. Việc này Thế
Tôn
kinh Đại thừa mới nói, còn kinh tiểu thừa thì Phật không nói qua. Kinh
Hoa Nghiêm
, phẩm Xuất Hiện cũng rất rõ ràng, tất cả chúng sanh đều có đức tướng
trí
tuệ của Như Lai. “Vô lượng công đức” là đức tướng, “trí tuệ thánh
minh
” là trí tuệ. Tất cả chúng sanh tự tánh vốn sẵn đầy đủ, thế nhưng vì
sao chúng ta lại bỏ mất trí tuệ công đức vô lượng của chính mình? Xin nói với
các vị, “mất” không phải chân thật đã mất. Tự tánh vốn sẵn thì làm sao
mất được, mà hiện tại trí tuệ công đức của chúng ta không khởi tác dụng. Không
khởi tác dụngchúng ta còn chướng ngại, tuyệt nhiên không phải mất đi. Bạn
chướng ngại nên ngăn nó không khởi tác dụng. Chỉ cần bạn đem chướng ngại trừ
bỏ, thì trí tuệ đức năng của bạn liền hiện tiền. Đã hiện tiền thì không hề khác
biệt với mười phương tất cả Chư Phật Như Lai.


Rốt cuộc
chướng ngại gì? Phật vì chúng ta nói thẳng, đó là vọng tưởng, chấp trước, “chỉ
bởi vọng tưởng, chấp trước mà không được chứng đắc
”. Chúng ta phải làm sao?
Phải đem vọng tưởng xả bỏ, đem chướng ngại trừ bỏ thì bản năng của tự tánh
chúng ta liền hồi phục. Ngoài vọng tưởng chấp trước còn có phân biệt. Phật
không bỏ sót. Phân biệt được bao gồm trong chấp trước, cũng có thể bao gồm
trong vọng tưởng. Ba loại chướng ngại Phật pháp gọi là phiền não. Chấp trước
kiến tư phiền não, phân biệttrần sa phiền não, vọng tưởngcăn bản vô
minh
, cũng gọi là vô minh phiền não. Phật dạy chúng ta đoạn ba loại phiền não
này, chúng ta phải thật làm mới được. Bắt đầu từ chỗ nào? Từ ngay cuộc sống
thường ngày, ngay công việc đối nhân xử thế tiếp vật, chân thật đem vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước xả bỏ.


Các vị phải
nhớ, xả bỏ không phải trên sự. Trên sự mà xả bỏ thì những việc của tôi cũng đều
buông bỏ, không làm nữa. Bạn ngày ngày trải qua đời sống mặc áo ăn cơm, tôi
không mặc áo không ăn cơm, vậy là hoàn toàn hiểu sai ý nghĩa của Phật. Vạn nhất
không nên lầm. Hoặc nghĩ rằng buông bỏ là chết, chết chẳng phải buông bỏ hết
hay sao? Kỳ thật sai rồi, chết vẫn chưa hết. Kinh Địa Tạng xác quyết, chết sau
bốn mươi chín ngày lại phải đi đầu thai, chưa buông bỏ. Nếu thật buông bỏ, họ
sẽ không đầu thai, không còn luân chuyển trong sáu cõi. Chết rồi vẫn là chưa
buông bỏ, việc này chúng ta nhất định phải hiểu rõ ràng. Phật muốn độ chúng ta,
khi hơi thở của chúng ta chưa dứt thì vẫn còn cứu được. Hơi thở đã dứt thì hết
cứu, Phật Bồ Tát cũng không thể nào giúp. Cho nên nhất định phải chăm chỉ, nỗ
lực
.


Buông bỏ không
phải trên sự, mà buông bỏ nơi tâm. Trên sự, chẳng phải tiêu đề đã viết rất rõ,
làm tấm gương tốt cho tất cả chúng sanh, phải làm càng tốt càng viên mãn. Gương
mẫu
để người khác xem, gọi là giáo hóa chúng sanh. Bên cạnh việc trở thành tấm
gương tốt, trong lòng trong sạch không nhiễm một trần, đó gọi là buông bỏ. Một
số người nghe giảng hiểu sai ý nghĩa. Công việc đang thực hiện, họ dừng lại
không làm nữa, tiền tài trong nhà đem bố thí hết. Sau đó, họ viết thư hỏi tôi,
họ không có cơm ăn thì phải làm sao? Đó là do họ hoàn toàn hiểu sai ý nghĩa.


Thời xưa cũng
có một người như vậy, ông thị hiện tấm gương, thế nhưng bạn phải tỉ mỉ quan
sát
, việc ăn cơm của ông vẫn còn. Cư sĩ Bàng Uẩn triều nhà Đường chính là tấm
gương ấy. Dụng ý câu chuyện này rất sâu nhưng chúng ta cũng rất dễ dàng hiểu
sai về ông. Ông tương đối giàu có, học Phật khai ngộ, tông môn gọi là “minh
tâm
kiến tánh, kiến tánh thành Phật
”. Sau khi ngộ, ông bán hết gia sản của
mình. Ông chất lên một chiếc thuyền, bơi thuyền đến giữa dòng sông, đục một lỗ
nhận chìm nó, thảy đều buông xả. Có người hỏi ông: “Bàng cư sĩ! Những tài vật
này ông không cần nữa, tại sao không đem nó đi làm việc từ thiện, cứu tế chúng
sanh
bần khổ trong xã hội?
”. Thực tế, hành
động của ông chính là nhắn với người một câu: “Việc tốt không bằng không
việc gì
”. Ý nghĩa câu nói này rất sâu. Mỗi người đều vô sự thì thiên hạ
thái bình.


Vô sự
tuyệt nhiên không phải khuyên bạn không làm việc, mà là không nên đi phan
duyên
. Tùy duyên thì tốt, đời sống sẽ không có vấn đề. Bàng cư sĩ biết đan dép
cỏ. Mỗi ngày ông bán dép cỏ, đổi chút tiền mua gạo mua rau, đời sống tự tại an
vui. Ông không cần tiền, không cần tích chứa, không phải suy nghĩ cho ngày mai.
Ông tự tại vãng sanh. Bạn xem trong Truyện Ký, cả nhà đều rất tự tại. Một hôm
ông ngồi trong nhà tĩnh tọa, bảo con gái ra ngoài xem bây giờ là lúc nào, vì
thời xưa không có đồng hồ. Cô con gái biết cha mình muốn vãng sanh. Cô ra ngoài
lớn tiếng nói với ông: “Thời gian vẫn
chưa đến
”, nói xong cô đứng bên ngoài vãng sanh. Cư sĩ Bàng ra
xem, thấy vậy liền nói: “Con gái này, vốn dĩ ta muốn con gái lo hậu sự cho
ta. Rốt cuộc ta còn phải lo hậu sự cho nó, nó thật lợi hại hơn ta
”. Bạn thử
nghĩ xem, sanh tử tự tại, ra đi đẹp như vậy thì chuẩn bị cho ngày mai để làm
gì? Không cần thiết.


Chỉ có trong
Phật pháp tu học, bạn mới đến được loại công phu này, triệt để thấu hiểu chân
tướng
đối với vũ trụ nhân sanh. Khế nhập vào cảnh giới đó có thân hay không?
Không có! Vô ngã tướng, bạn không có thân mới có thể hiện ra tất cả thân, nhà
Phật gọi là sanh tử tự tại. Kinh Hoa Nghiêm nói, tám cái tự tại hay mười cái tự
tại
, họ đều có thể chứng được. Chúng ta cũng có thể chứng được, nhưng ngày nay
chúng ta không cách gì bởi vì không buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Sự việc dính mắc trong lòng quá nhiều là chướng ngại lớn của phàm phu. Lúc nào
bạn buông bỏ thì lúc đó liền thành Phật. Làm Phật, thực tế không khó. Chúng
sanh
cùng Phật khác biệt ở một niệm. Một niệm giác thì thành Phật, một niệm mê
chính là chúng sanh. Người niệm Phật thường nói: “Một niệm tương ưng một
niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật
”. Chúng ta thường ngày dụng
công
, một niệm tương ưng thường có, nhưng niệm niệm tương ưng thì không dễ
dàng. Nếu chúng ta biết giữ gìn, mỗi ngày chỉ một niệm tương ưng cũng rất đáng
quý. Không nên cho rằng thời gian của một niệm này quá ngắn, một ngày chỉ một lần
như vậy không đủ. Bạn có một niệm thì bạn sẽ có hai niệm, có hai niệm thì sẽ có
ba niệm, cho nên đây là cảnh giới rất khó đạt được.


Năm xưa tôi ở
nơi đây khuyên mọi người niệm Phật, rất nhiều đồng tu làm việc bận rộn, không
còn thời gian tu thời khóa sớm tối, tôi bèn khuyên họ dùng cách mười niệm. Cách
mười niệm của tôi không giống pháp sư Quán Đảnh, mười hơi thở, mỗi hơi thở tính
là một niệm, một hơi không bắt buộc bao nhiêu tiếng. Pháp mười niệm của tôi
chính là mười câu A Di Đà Phật. Nếu bạn niệm bốn chữ A Di Đà Phật ra mười câu,
đại khái một phút thì được. Tuy thời gian ngắn, chỉ mười câu, nhưng phù hợp
tiêu chuẩn trên kinh Vô Lượng Thọ: “Một lòng xưng niệm”, và “một
lòng chuyên niệm
”. Bạn một lòng niệm mười câu Phật hiệu, quyết không có
vọng niệm xen tạp, chân thậtkhông hoài nghi, không xen tạp, không gián
đoạn
”, hoàn toàn phù hợp với Bồ Tát Đại Thế Chí dạy: “Gom nhiếp sáu
căn, tịnh niệm liên tục
”. Không nên xem thấy thời gian quá
ngắn. Mỗi ngày có một niệm tương ưng, đương nhiên số lần niệm càng nhiều càng
tốt. Một ngày nên niệm chín lần:


– Sáng sớm thức dậy niệm một lần một phút. Có tượng Phật
thì đối mặt với tượng, không có tượng Phật thì hướng về phía tây.


– Ăn cơm ba bữa, trước khi ăn chắp tay niệm mười câu A Di
Đà Phật
. Chúng ta không niệm chú cúng dường. Chắp tay niệm mười danh hiệu A Di
Đà Phật
, một lòng xưng niệm, thì chính là ba lần rồi.


– Buổi sáng, trước khi làm việc niệm qua một lần.


– Làm việc xong buổi sáng, niệm một lần.


– Buổi chiều hai lần nữa, trước khi làm việc và sau khi kết thúc công việc buổi
chiều.


– Buổi tối trước khi đi ngủ niệm một lần.


Tổng cộng chín
lần. Chín lần là định khóa của chúng ta, mỗi lần chỉ cần một phút. Ngoài ra,
nếu có thời gian bạn có thể niệm thêm càng tốt. Phương pháp này rất hiệu quả,
lại không chướng ngại bạn làm việc, đích thực tiện lợi đến cùng cực.


Làm thế nào
niệm chân thật đạt hiệu quả, nắm chắc phần vãng sanh? Phải xem công phu buông
bỏ
, nhìn thấu bình thường của bạn. Buông bỏ, nhìn thấu là giác ngộ, bạn thông suốt
đối với tất cả pháp thế xuất thế gian. Thông suốt là nhìn thấu; không còn chấp
trước
buông bỏ, bạn có thể đạt đến tùy duyên. Tùy duyên nhưng không phan
duyên
, tuyệt nhiên không dạy chúng ta đem công việc đáng làm bỏ mặc không làm,
vậy là sai. Tùy duyên chính là tùy thuận cơ duyên.


Gần đây, cư sĩ
Lý Mộc Nguyên cùng những vị đổng sự của Cư Sĩ Lâm bàn việc Thôn Di Đà, cũng bàn
đến việc Phật Học Viện. Thế có phải là phan duyên hay không? Không, đó là tùy duyên.
Chúng ta bình lặng quan sát, có cơ hội thành tựu, chúng ta nỗ lực xúc tiến, đó
tùy duyên. Nếu xem thấy không có cơ hội mà vẫn miễn cưỡng làm, chưa chắc
thành công, đó là phan duyên. Phải có trí tuệ. Bạn không có trí tuệ quan sát
thì cái gì gọi là tùy duyên, cái gì gọi là phan duyên, bạn cũng không rõ ràng.


Tùy duyên
không chút miễn cưỡng, làm một cách tự tại, an vui, chân thật pháp hỷ sung mãn,
tất cả vì Phật pháp cửu trụ thế gian, vì tất cả chúng sanhnhân duyên được
độ mà không vì chính mình. Chính mình tâm địa thanh tịnh vô nhiễm. Đại sư Huệ
Năng
nói: “Vốn dĩ không một
vật
”, chính mình đích thực trụ ở vô ngã tướng, vô nhân
tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng. Vì Phật pháp, vì chúng sanh, chăm
chỉ nỗ lực phục vụ, đó chính là hai bên “không có”. Không trụ là tinh
thần
của Bồ Tát đại thừa. Đời sống, việc làm của Bồ Tát, hai bên đều không trụ,
tâm địa thanh tịnh không nhiễm một trần. Vì Phật pháp, vì chúng sanhphục
vụ
, chưa từng nghỉ ngơi, không trụ vào “không”, không trụ vào “”.
Chỗ này không giống người mê hoặc. Người thế gian mê, chấp có, người nhị thừa
chấp không. Phật nói chấp trước hai bên đều sai lầm, cho nên Bồ Táttrung
đạo
, “trung đạo đệ nhất nghĩa đế”. Trung đạo chính là không trụ hai bên.


Chúng ta từ
trong phẩm kinh văn thể hội rất sâu, cũng có cảm khái biết được hiện tiền phải
làm những việc gì. Nhất định phải tuân thủ giáo huấn của kinh điển, đặc biệt
hai đoạn sau cùng: “Đức dụng
phương
”, “tự lợi đức” cùng “lợi tha đức”. Đó là
tổng nguyên tắc chỉ đạo sinh hoạt, làm việc, tu học của chúng ta. Chúng ta
tường tận, y giáo phụng hành, liền có thể hòa hợp cùng các vị đại Bồ Tát trong
hội này. Các Ngài được trí
tuệ
thánh minh công đức Phật, chúng ta tuy không thể chứng đắc viên mãn cũng có
chút ảnh hưởng, dần dần tiếp cận gần hơn, trong bốn gia hạnh gọi là “Noãn vị”. Hiện tiền
chúng ta phải giác ngộ, phải nỗ lực, phải biết sứ mạng nặng nề của chính mình.


NHƯ THỊ
ĐẲNG CHƯ ĐẠI BỒ TÁT, VÔ LƯỢNG VÔ BIÊN, NHẤT THỜI LAI TẬP
”.


Bồ Tát tham dự
pháp hội kinh Vô Lượng Thọ quá đông. Phía trước từng giới thiệu qua, Thượng thủ
xếp vào mười sáu người, “thập lục chánh sĩ”. Mười sáu người toàn là Bồ
Tát tại gia
. Cho nên từ phần tựa, chúng ta rất rõ ràng thể hội, pháp môn này là
pháp môn phổ độ, bình đẳng phổ độ, chúng tại gia nhiều, chúng xuất gia ít. Bồ
Tát xuất gia
, trên kinh chỉ nêu ba người, còn Bồ Tát tại gia thì nêu ra mười
sáu người. Trong mười sáu người, phương này chỉ có một người là Hiền Hộ Bồ Tát,
mười lăm vị kia là từ phương khác đến. Như vậy, chúng ta cùng thế giới phương
khác có quan hệ mật thiết. Tình hình của thế giới phương khác, chúng ta không
thể không biết. Thế giới phương khác gọi là ngoài thái không, hay người ngoài
hành tinh. Kỳ thực chỗ này còn rộng lớn hơn nhiều so với người ngoài hành tinh.
Ngày nay chúng ta có thể thấy được người ngoài hành tinh, đại khái cư trụ đồng
không gian với chúng ta. Nếu không gian khác nhau, chúng ta không thể thấy họ,
họ cũng không thấy được chúng ta. Thí dụ, chúng ta cùng quỷ thần không đồng một
không gian duy thứ. Tuy quỷ thần cùng ở chung với chúng ta một nơi nhưng bởi vì
không gian duy thứ khác nhau nên không hề chướng ngại nhau. Chúng ta cư trụ
không
gian ba độ, họ có thể ở không gian bốn độ, năm độ. Giống như hiện tại
chúng ta xem truyền hình có rất nhiều kênh đài trên một màn hình. Kênh đài
không giống nhau, nhưng đôi bên hỗ trợ lẫn nhau không hề quấy nhiễu. Bạn mở
kênh đài nào thì kênh đài đó xuất hiện, đều trong một khung nhỏ của màn hình.
Phật nói, tình huống của mười pháp giới gần giống như vậy, là mười kênh đài.


Người xưa nói
Tây Phương Tịnh Độ là “sanh thì quyết định sanh, đi thì thật không đi”.
Chúng ta nghe lại hồ đồ, cái gì sanh thì quyết định sanh nhưng đi thì lại không
đi? Không đi thì làm sao sanh? Hiện tại bạn hiểu kênh đài của truyền hình sẽ
liền thể hội được ý này. Sanh thì quyết định sanh, đi thì có đi không? Vẫn ở
trong một khung nhỏ, đó là pháp giới nhất chân. Mười pháp giới không rời khỏi
pháp giới nhất chân. Pháp giới nhất chânhoàn toàn không có duy thứ của thời
không. Do đây mà biết, duy thứ của thời không gọi là ba độ, bốn độ, năm độ,
thậm chí đến vô hạn độ từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà ra; đem pháp
giới
nhất chân biến thành rất nhiều thời không khác nhau. Nếu buông bỏ tất cả
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì hồi phục đến pháp giới nhất chân. Người
trong pháp giới nhất chân đối với tình hình hoạt động của chúng sanh ở duy thứ
thời không vô hạn thảy đều tường tận, đều thấu hiểu. Chúng ta không biết họ
nhưng họ lại biết chúng ta. Cho nên chúng sanh có cảm, Phật Bồ Tát lập tức liền
có ứng. Cảm ứng tương thông không thể nghĩ bàn.


Nguyên lý của
cảm ứng, phía trước đã nói qua nên ở đây tôi không cần dài dòng nữa. Hiện tượng
nguyên lý cơ bản, khoa học gia ngày nay gọi là nguyên lý sóng động, hoặc hiện
tượng
sóng động. Câu này ý nói, mười phương thế giới trong cõi nước chư Phật, những
vị đại Bồ Tát đến tham dự pháp hội, số lượng không cách gì tính đếm.


“HỰU HỮU TỲ
KHEO NI
NGŨ BÁCH NHÂN, THANH TÍN SĨ THẤT THIÊN NHÂN; THANH TÍN NỮ NGŨ BÁ NHÂN”


Thời xưa nữ
chúng xuất gia rất ít, ở đây Tỳ Kheo Ni có năm trăm người. “Thanh Tín sĩ
thất thiên nhân
” là nam cư sĩ tại gia. “Thanh Tín nữ ngũ bách nhân
nữ cư sĩ tại gia. Đó là mắt thịt chúng ta có thể thấy. Phía trước nêu đại
chúng
dự hội, Tỳ Kheo mười hai ngàn người, lại thêm Tỳ Kheo Ni năm trăm người,
nam cư sĩ bảy ngàn người, nữ cư sĩ năm trăm người. Tổng cộng mắt thịt nhìn thấy
đại chúng gồm hai mươi ngàn người. Các vị thử nghĩ xem, pháp hội giảng kinh của
Thích Ca Mâu Ni Phật ba ngàn năm trước, thính chúng hai mươi ngàn người. Lúc đó
không có máy phóng thanh, Thích Ca Mâu Ni Phật đối diện hai mươi ngàn người
giảng kinh nói pháp, mọi người đều nghe rõ ràng ý Phật, đều sanh đại hoan hỉ.
Chúng ta ngày nay không cần hai mươi ngàn người, giảng đường ở đây với sức chứa
nhiều nhất cũng không vượt quá một ngàn người, nhưng nếu không có thiết bị phóng
thanh thì âm thanh của chúng ta sẽ không đến được phía sau. Đại khái chỉ có mấy
hàng phía trước nghe rõ, phía sau không nghe nổi. Ở điểm này, chúng ta liền
nghĩ đến kinh Phật: “Phật dùng một âm nói pháp, chúng sanh tùy loại đều có
thể hiểu
”. Có nghĩa ngôn ngữ của Phật không chướng ngại. Không chỉ tất cả
khác biệt ngôn ngữ không có chướng ngại, mà âm thanh của Phật cũng không chướng
ngại
, “vô viễn phất cái”, cự ly dù xa hơn cũng đều nghe thấy được. Âm
này gọi là diệu âm.


DỤC GIỚI
THIÊN
, SẮC GIỚI THIÊN, CHƯ THIÊN PHẠM CHÚNG, TẤT CỘNG ĐẠI HỘI


Dục giới có sáu
tầng trời. Ngũ dục gồm tài, sắc, danh, thực, thùy. Họ vẫn chưa đoạn ngũ dục.
Thế nhưng sáu tầng trời của cõi dục càng hướng lên cao thì tham ái của ngũ dục
càng tan nhạt. Tầng trời càng cao, hưởng thụ sẽ càng lớn. Họ hưởng thụ nhưng
không tham ái, tâm càng thanh tịnh; phân biệt chấp trước của họ cũng tan nhạt,
không phải không có mà vẫn còn. Đến trời Sắc Giới, nơi đó đều trong định. Trong
thiền định sâu, định lực khống chế được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; đè
nó xuống, không để khởi tác dụng. Đối với năm dục sáu trần, loại ý niệm phân
biệt
chấp trước này không có. Không phải họ đã đoạn dứt, mà họ dùng sức định đè
xuống. Định có thể hàng phục được, cho nên đây là tứ thiền của Sắc Giới.


Mọi người nghe
đến thiền thường nghĩ đến cả ngày từ sớm đến tối ngồi quay mặt vào vách. Nếu
cho rằng một ngày từ sớm đến tối ngồi xếp bằng quay mặt vào vách, mặt nhìn mũi,
mũi nhìn tâm, đó gọi là thiền
thì bạn hoàn toàn sai lầm. Cái thiền đó một chút tác dụng cũng không có. Chúng
ta
đọc Lục Tổ Đàn Kinh, đại sư Huệ Năng có ở trong định không? Ngài thật đang ở
trong định. Ngài có ngồi thiền không? Không. Mỗi ngày Ngài đều làm việc, bận
rộn không thở ra hơi, nhưng vẫn ở trong định.


Đàn Kinh giải
thích
ý nghĩa hai chữ “thiền định”, Ngài nói: “Ngoài không dính tướng gọi là thiền,
trong không động tâm gọi là định
”. Cách giải thích thiền định của Ngài là như vậy. Thực
tế
, hai câu nói này là từ kinh Kim Cang, Ngài khai ngộ từ kinh Kim Cang. Trên kinh Kim Cang
câu: “Bất thủ ư tướng,
như như bất động
”, không dính ở tướng là thiền, như như bất động là định,
hoàn toàn không chướng ngại bạn sinh hoạt, cũng không chướng ngại bạn làm việc.


Trong kinh Hoa
Nghiêm
, Năm Mươi Ba Tham, pháp thân đại
rêu rao tu thiền định không? Thiện Tài Đồng Tử đến thăm viếng, tìm cầu
họ, họ ở nơi đâu? Kinh cho biết họ ở ngoài chợ. Dùng lời hiện tại mà nói, vị
thiện tri thức này tu thiền định ở siêu thị. Người ta thật dụng công phu, dạo
siêu thị, xem thấy siêu thị lập lòe lóa mắt nhưng không dính mắc. Nói cách
khác, không bị mê hoặc, đó là thiền; trong lòng “như như bất động” gọi
là định. Cách tu thiền định của người như vậy, chứ không phải ngồi xếp bằng
quay mặt vào vách.


Ngày nay chúng
ta
xem thấy người xếp bằng quay mặt vào vách, vừa vào định thì một tuần lễ, một
tháng cũng không xuất. Chúng ta đảnh lễ năm vóc sát đất, thán phục con người cừ
khôi
, công phu cao. Nhưng có người tu thiền định thì ngày ngày đi xem kịch, đi
khiêu vũ, chúng ta coi như
vậy là phá giới, mà không biết công phu thiền định đó còn cao hơn nhiều so với
người quay mặt vào vách. Thiền định xếp bằng quay mặt vào vách là hoàn toàn cự
tuyệt
ngoại duyên, không động tâm. Nhưng nếu họ ra ngoài đi một vòng, có thể công
phu
của họ sẽ không còn. Người chân thật tu hành ở ngay môi trường náo nhiệt,
mắt thấy không bị mê hoặc, tai nghe cũng không mê hoặc, sáu căn tiếp xúc đều
không mê hoặc, đó mới là thật công phu. Chúng ta thấy năm mươi ba tham trong
kinh Hoa Nghiêm, từ những vị đại thiện tri thức, chúng ta có thể lĩnh ngộ, biết
được thiền định là tu bằng cách nào.


Phật pháp chỉ
tu tâm thanh tịnh. Chúng ta niệm Phật, nhất định phải tu nhất tâm bất loạn. Tâm
không
điên đảo chính là thiền định. Tóm lại, Phật pháp lấy thiền định làm căn
bản
. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, mỗi pháp môn đều tu thiền định, chỉ là cách
thức phương pháp không như nhau nhưng đều tu thiền định. Chỉ có tu thiền mới có
thể khai trí tuệ. Cho nên Phật pháp tổng quy nạp lại thành giới-định-huệ tam
học
.


Giới
như pháp, tu học đúng lý đúng pháp. Tuân thủ lời dạy, phương pháp
luận
trong kinh điển mà Phật Bồ Tát dạy bảo chúng ta gọi là trì giới. Dùng
những phương pháp này chúng ta mới có thể được định. Được định thì chúng ta
không bị cảnh giới bên ngoài mê hoặc; chính mình có chủ tể. Sau khi được định
liền khai trí tuệ.


Kinh Bát Nhã
giảng về trí tuệ, có căn bản trí cùng hậu đắc trí.


Căn bản trí
trí tuệ chân thật, là thể của trí tuệ. Cái thể này trên kinh nói rất rõ ràng
Bát Nhã vô tri”. Chỉ có vô tri khởi tác dụng mới là “vô sở bất tri”.
Cho nên các vị muốn cầu trí tuệ chân thật, trí tuệ chân thật là gì? Là vô tri,
vĩnh viễn giữ gìn tự tánh thanh tịnh giác. Đề kinh này của chúng taThanh Tịnh,
Bình Đẳng, Giác. Giác là không mê, vô tri cũng là không mê, mọi thứ đều phải
ràng
tường tận, không khởi tâm, không động niệm. Cảnh giới mà Phật Bồ Tát thị
hiện
ra chính là như vậy. Cho nên tất cả chúng sanhnghi nan tạp chứng thì
thỉnh giáo với các Ngài, Phật sẽ từ bi
khai thị. Việc khai thị của Ngài có cần phải nghĩ ngợi rằng phải giải đáp vấn
đề
cho bạn như thế nào hay không? Không hề nghĩ ngợi! Nếu rơi vào tư duy thì đó
ý thức, vậy thì
mê rồi. Ngài
không hề thông qua tư duy, không thông qua tưởng tượng. Bạn vừa hỏi thì tự
nhiên
có câu trả lời, thậm chí trả lời không sai chút nào, đó là Hậu Đắc
Trí
.


Hậu Đắc Trí từ
Căn Bản Trí mà có. Cho nên, Căn bản Trí
Vô Tri. Mọi người nghe chữ “”, xem thấy chữ “” có thể cho là
không có bất cứ thứ gì. Hoàn toàn sai lầm. Không khởi tâm, động niệm, không
phân biệt, chấp trước thì gọi là Vô. “Tri” là cái gì cũng biết. Chữ “
Tri
” phải phân ra hai vế để xem xét. Họ không vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước
; không khởi tâm động niệm, nhưng cái gì cũng biết, đó gọi là Căn Bản Trí.
Hậu Đắc TríVô Sở Bất Tri. Bạn hỏi họ thì họ giải đáp ngay, đó chính là khởi
tâm
động niệm. Họ không khởi tâm động niệm thì làm sao nói với bạn? Tuy khởi
tâm
động niệm, nhưng họ không chấp trước, không có phân biệt. Cũng giống như
câu trả lời của đại sư Vĩnh Gia với Lục tổ. Vĩnh Gia kiến tánh, Lục tổ chứng
minh
cho Ngài. Sau khi chứng thật, Lục tổ liền hỏi đại sư Vĩnh Gia: “Ông còn phân
biệt
không
?” Đại sư Vĩnh Gia trả lời: “Phân biệt cũng không phải là ý”. Lục Tổ gật đầu:
Ông như vậy, ta cũng như vậy”.


Phàm phu chúng
ta
phân biệt là rơi vào ý thức. Kỳ thực các Ngài vẫn phân biệt chấp trước nhưng
hoàn toàn khác với phân biệt chấp trước của phàm phu chúng ta. Phân biệt chấp
trước
của các Ngài không phải thật, mà là tùy thuận phân biệt của chúng sanhphân biệt; tùy
thuận
chấp trước của chúng sanhchấp trước, chứ đó không phải là ý của các
Ngài. “Phân biệt cũng không phải là ý” của đại sư Vĩnh Gia là như vậy.
Nếu không tùy thuận phân biệt của chúng ta, không tùy thuận chấp trước của
chúng ta thì Thích Ca Mâu Ni Phật không cách gì giảng kinh. Ngài giảng kinh
nhất định phải thuận theo phân biệt, chấp trước của chúng ta, như vậy Ngài
giảng chúng ta mới hiểu. Nếu thật khôngphân biệt, chấp trước, thì Thích Ca
Mâu Ni Phật
một câu cũng không nói ra.


Cho nên trong
kinh Đại thừa, khi Phật cùng Phật gặp nhau luôn không có lời nào, đó là thật.
Đôi bên đều hiểu rõ thì còn gì để nói. Phật gặp Bồ Tát còn nói, vì Bồ Tát vẫn
chỗ không rõ ràng nên mới nói cho họ nghe. Phật Phật đạo đồng, trình độ mọi
người
đều như nhau thì còn gì để nói. Không những không nói mà ngay đến biểu
thị
cũng không cần. Đó mới là khế nhập vào cảnh giới cứu cánh viên mãn.


Hiểu rõ ý nghĩa
chân thật của thiền định, vậy người trời tứ thiềnsinh hoạt hay không? Có.
Tuyệt đối không thể nói người trời tứ thiền ngày ngày đang ngồi thiền. Ngồi bao
nhiêu kiếp không chút ý nghĩa gì, vậy liệu ai bằng lòng đến trời Tứ Thiền? Trời
Tứ Thiền thực ra vẫn có hoạt động. Không chỉ trời Tứ Thiền, mà người Tứ Không
Thiên
cũng có hoạt động. Nhưng người trời Tứ Không Thiên không có sắc tướng,
nên kinh không nói đến họ, chỉ nói đến dục giới, sắc giới, chứ không nói đến
sắc giới
.


Chư thiên
phạm chúng
” là tổng kết. “Tất cộng đại hội” là chúng hội mắt thịt
chúng ta có thể nhìn thấy. Mắt thịt thấy số thính chúng rất có hạn, không
nhiều, nhưng những thính chúngmắt thịt không nhìn thấy mới nhiều. Đạo tràng
Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh nói pháp, không chỉ một hội kinh Vô Lượng Thọ,
mà mỗi hội đều vậy. Cho nên mới nói “pháp môn bình đẳng, không có cao thấp”.
Tuy nhiên, sau khi những đại đức kết tập kinh, vì sao có những kinh điển ghi
chép thính chúng rất nhiều, và những kinh điển ghi chép thính chúng tương đối
ít? Các vị phải hiểu, đó là ý nghĩa biểu pháp, cũng là vì chúng sanh mạt pháp
của chúng ta căn tánh khác nhau mà chọn lấy đạo vị của pháp môn đó. Kỳ thật,
Thích Ca Mâu Ni Phật không luận giảng kinh nào, thính chúng đều rất nhiều. Đó
chúng ta có thể thể hội được, ngay chỗ này hiển thị thù thắng của pháp môn
không thể nghĩ bàn.


Giảng đường của
chúng ta ngày nay, mắt thịt nhìn thấy một ngàn người nhưng không thấy nhiều. Đó
là nhờ đường truyền chuyển phát đi toàn thế giới. Đồng tu Hoa Kỳ gọi điện nói
với tôi, hiện tại họ cũng đang xem. Họ nói, âm thanh nghe rất rõ ràng. Chúng ta
biết trên thế giới có nhiều khu vực đồng bộ đang xem trực tiếp trên màn hình.
Đây là thính chúngchúng ta không nhìn thấy.


Đạo tràng của
chúng ta có chúng quỷ thần không? Dĩ nhiên! Niệm Phật đường của chúng ta
trời Dục Giới, trời Sắc Giới, “chư thiên phạm chúng” ở đây niệm Phật hay
không? Có! Không những có, mà còn chư đại Bồ Tát của mười phương đến cũng đang
niệm Phậtniệm Phật Đường. Một đạo tràng thù thắng!


Vì sao Bồ Tát,
thiên thần, đại chúng đến tham dự pháp hội của chúng ta? Vì sự chân thành chiêu
cảm
. Chúng ta cho rằng mình là phàm phu, nhưng trong mắt họ xem thấy chúng ta
Bồ Tát. Ngay đến chư thiên phạm chúng xem thấy chúng ta cũng đều là Bồ Tát.
Chỉ cần bạn phát tâm Bồ Đề, một lòng chuyên niệm A Di Đà Phật, là đệ tử Di Đà,
tương lai bạn nhất định được sanh Tịnh Độ. Hiện tại tuy chưa đi, nhưng thế giới
Tây Phương Cực Lạc đã ghi danh rồi. Đã có danh sách, nhất định sẽ đi. Những
thiên thần này thấy rõ ràng tường tận mấy ngày nữa bạn phải đi, thì họ làm sao
không tôn kính bạn? Làm sao họ không đến ủng hộ pháp hội này của bạn? Cho nên niệm
Phật
đường có rất nhiều Bồ Tát, hộ pháp, quỷ thần đến tham gia, từ trường không
như nhau. Chúng ta bước vào đây pháp hỉ sung mãn, đạo lý chính ngay chỗ này.


(Còn tiếp
…)


KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC


Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG


Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ


Biên
tập
: PT. Giác Minh Duyên